Khái luận
Trong Trung y, hoạt động tinh thần và tình cảm được gọi chung là tình chí (情志). Thất tình gồm hỷ (喜), nộ (怒), ưu (忧), tư (思), bi (悲), khủng (恐) và kinh (惊). Đây vốn là những phản ứng tự nhiên của con người. Khi tình chí điều hòa, khí cơ thông thuận, khí huyết vận hành bình thường, tạng phủ giữ được sự cân bằng. Nếu cảm xúc quá mạnh, kéo dài hoặc thường xuyên bị dồn nén, khí cơ có thể rối loạn, lâu ngày ảnh hưởng đến Tâm mạch.
Bệnh mạch vành trong Trung y thường thuộc phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Đoản khí (短气) và Thất miên (失眠). Bệnh cơ chủ yếu là bản hư tiêu thực (本虚标实): Tâm khí, Tâm dương, khí âm hoặc Tâm huyết suy là phần gốc; khí trệ, huyết ứ, đàm trọc và hỏa uất làm Tâm mạch không thông là phần ngọn.
Yếu tố tâm lý không phải nguyên nhân duy nhất của bệnh mạch vành, nhưng có thể làm khí cơ vùng ngực mất điều đạt, khiến hồi hộp, tức ngực, đau ngực, mất ngủ và mệt mỏi dễ xuất hiện hoặc tăng nặng. Ngược lại, người đã mắc bệnh tim cũng thường lo sợ bệnh tái phát, quá chú ý đến nhịp tim, ngủ không yên hoặc sinh tâm trạng bi quan. Vì vậy, điều dưỡng tinh thần là một phần cần thiết trong quá trình chăm sóc bệnh.
Tâm chủ thần minh và huyết mạch
Tâm chủ thần minh (心主神明), liên quan đến tinh thần, ý thức và giấc ngủ; đồng thời Tâm chủ huyết mạch (心主血脉), thúc đẩy huyết dịch vận hành.
Khi Tâm khí đầy đủ, huyết mạch lưu thông, thần chí yên ổn thì người bệnh ít hồi hộp, ngủ tương đối yên và vùng ngực khoan khoái. Khi lo âu, hoảng sợ hoặc mất ngủ kéo dài, Tâm thần không yên, Tâm khí dễ hao, huyết mạch vận hành thiếu lực, từ đó xuất hiện hồi hộp, thở ngắn và ngực khó chịu.
Can chủ sơ tiết
Can có công năng điều đạt khí cơ và tình chí. Giận dữ, uất ức, căng thẳng, bất mãn hoặc phải kìm nén cảm xúc lâu ngày dễ làm Can khí uất kết.
Khí là soái của huyết. Khí hành thì huyết hành; khí trệ thì huyết ứ. Khi Can khí uất, khí cơ vùng ngực không thông, huyết hành cũng bị trở ngại, người bệnh thường ngực sườn đầy tức, hay thở dài, dễ cáu, đau ngực liên quan rõ đến cảm xúc.
Tỳ chủ vận hóa
Tư lự quá mức dễ làm tổn thương Tỳ. Tỳ khí suy thì thức ăn và thủy dịch không được vận hóa đầy đủ, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc bế trở vùng ngực làm người bệnh nặng ngực, bụng đầy, ăn kém, đầu nặng, mệt mỏi và hồi hộp.
Vì vậy, người thường xuyên suy nghĩ triền miên, ăn ngủ thất thường, ít vận động có thể vừa khí trệ, vừa Tỳ hư sinh đàm.
Thận tàng tinh, chủ chí
Sợ hãi kéo dài làm Thận khí không vững. Bệnh lâu ngày hoặc mất ngủ nhiều có thể làm Thận âm suy, Tâm Thận không giao. Người bệnh thường hồi hộp, lo sợ, ù tai, lưng gối mỏi, miệng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng và ngủ không sâu.
Ảnh hưởng của từng trạng thái tình chí
Giận dữ
“Nộ tắc khí thượng” (怒则气上), giận dữ thì khí nghịch lên trên. Khi tức giận, Can khí bốc lên, khí huyết vận hành gấp, Tâm thần không yên. Người vốn có khí trệ hoặc huyết ứ ở Tâm mạch có thể xuất hiện tức ngực, hồi hộp, đau ngực hoặc đau đầu.
Lo nghĩ
“Tư tắc khí kết” (思则气结), suy nghĩ quá mức khiến khí kết. Người suy nghĩ kéo dài thường ăn kém, bụng đầy, khó ngủ, hồi hộp và mệt. Nếu Tỳ khí tổn thương, đàm thấp nội sinh, vùng ngực càng nặng nề.
Buồn bực và uất ức
Buồn bực không được giải tỏa làm Can khí uất. Người bệnh thường hay thở dài, ngực sườn đầy tức, tinh thần không thư thái, ngủ kém và dễ phát đau ngực khi gặp chuyện không vừa ý.
Lo âu và kinh sợ
Lo âu làm Tâm thần bất an, kinh sợ làm khí loạn. Người bệnh có thể hồi hộp, trống ngực, run, ra mồ hôi, khó ngủ hoặc luôn cảm thấy bệnh sắp phát. Càng chú ý đến nhịp tim, cảm giác hồi hộp càng rõ, dễ hình thành vòng lặp lo sợ và triệu chứng.
Bi quan và trầm uất
Tinh thần sa sút kéo dài làm khí cơ trì trệ, thần khí không phấn chấn. Người bệnh ít vận động, ăn ngủ thất thường, khó duy trì điều dưỡng và phục hồi thể lực. Trung y thường gặp trạng thái Can uất kiêm Tâm Tỳ hư trong trường hợp này.
Mất ngủ
Mất ngủ kéo dài làm âm huyết không được phục hồi, Tâm thần mất dưỡng. Người bệnh dễ hồi hộp, bứt rứt, mệt mỏi, trí lực giảm và ngực không khoan khoái. Nếu âm hư lâu ngày, hư hỏa có thể nhiễu Tâm.
Bệnh cơ chủ yếu
Can uất khí trệ
Tình chí không thư thái làm Can mất sơ tiết, khí cơ vùng ngực không thông. Biểu hiện thường là ngực sườn đầy tức, hay thở dài, tâm trạng thay đổi, đau ngực liên quan đến căng thẳng.
Khí trệ huyết ứ
Can uất kéo dài khiến huyết hành không thuận. Đau thường có vị trí tương đối cố định, lưỡi tối hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp.
Đàm khí giao trở
Khí trệ kết hợp với Tỳ hư sinh đàm. Đàm và khí cùng tụ ở vùng ngực và họng, gây ngực nặng, khó thở, họng như có vật vướng, buồn nôn và rêu lưỡi nhầy.
Đàm hỏa nhiễu Tâm
Can uất hóa hỏa, đàm trọc gặp hỏa làm Tâm thần bị quấy nhiễu. Người bệnh bứt rứt, dễ giận, hồi hộp, mất ngủ, miệng đắng, đàm dính, lưỡi đỏ và rêu vàng nhầy.
Tâm Tỳ lưỡng hư
Lo nghĩ và bệnh lâu ngày làm Tâm huyết, Tỳ khí cùng suy. Người bệnh hồi hộp, ngủ kém, hay mơ, ăn ít, mệt, sắc mặt nhợt và hay quên.
Tâm Thận bất giao
Tâm âm và Thận âm cùng suy, Tâm hỏa không giáng, Thận thủy không thăng. Người bệnh mất ngủ, hồi hộp, miệng khô, ù tai, lưng gối mỏi và mồ hôi trộm.
Khí âm lưỡng hư
Căng thẳng kéo dài, bệnh lâu ngày hoặc sau biến cố tim mạch làm khí và âm cùng tổn thương. Người bệnh mệt, thở ngắn, hồi hộp, miệng khô, ra mồ hôi và ngực đau âm ỉ.
Nguyên tắc điều trị
Điều trị cần vừa điều Tâm mạch, vừa điều tình chí.
Can uất thì sơ Can lý khí.
Khí trệ huyết ứ thì lý khí hoạt huyết, thông mạch.
Đàm khí giao trở thì lý khí hóa đàm, khoan hung.
Đàm hỏa nhiễu Tâm thì thanh nhiệt hóa đàm, an thần.
Tâm Tỳ lưỡng hư thì kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần.
Tâm Thận bất giao thì tư âm giáng hỏa, giao thông Tâm Thận.
Khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm, phục mạch an thần.
Một. Can uất, khí trệ huyết ứ
Chứng trạng
Đau tức ngực liên quan đến giận dữ, căng thẳng hoặc lo nghĩ; ngực sườn đầy tức, hay thở dài, dễ cáu, bồn chồn, ngủ kém, lưỡi hơi tối hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Can khí uất kết làm khí cơ vùng ngực không thông. Khí trệ lâu ngày khiến huyết hành chậm, Tâm mạch bị trở ngại nên đau tức ngực. Khi tinh thần căng thẳng, khí cơ càng bế, triệu chứng càng tăng.
Pháp trị
Sơ Can giải uất, lý khí hoạt huyết, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sài hồ sơ Can tán hợp Đan sâm ẩm gia giảm (柴胡疏肝散合丹参饮加减): Sài hồ (柴胡), Hương phụ (香附), Chỉ xác (枳壳), Bạch thược (白芍), Xuyên khung (川芎), Trần bì (陈皮), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Dễ giận, miệng đắng gia Chi tử (栀子), Hoàng cầm (黄芩); mất ngủ nhiều gia Dạ giao đằng (夜交藤), Bá tử nhân (柏子仁), Hợp hoan bì (合欢皮); đau ngực rõ gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Huyền hồ sách (玄胡索); huyết ứ rõ gia Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), nhưng phải thận trọng khi đang dùng thuốc chống đông.
Ý nghĩa
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác và Trần bì sơ Can lý khí; Bạch thược dưỡng huyết hòa Can; Đan sâm, Xích thược và Xuyên khung hoạt huyết thông mạch; Đàn hương, Sa nhân và Uất kim hành khí khoan hung; Toan táo nhân dưỡng Tâm an thần.
Hai. Tâm Tỳ lưỡng hư
Chứng trạng
Hồi hộp, mất ngủ, hay mơ, dễ lo lắng, ăn kém, bụng đầy, mệt mỏi, hay quên, sắc mặt nhợt, ngực đau âm ỉ hoặc tức nhẹ, lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Lo nghĩ quá mức làm Tỳ khí suy, khí huyết sinh hóa không đủ. Tâm huyết thiếu nuôi dưỡng nên hồi hộp, mất ngủ và hay quên. Tâm mạch mất dưỡng nên ngực khó chịu âm ỉ.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần, dưỡng Tâm thông mạch.
Phương thang
Quy Tỳ thang gia giảm (归脾汤加减): Đảng sâm (党参), Hoàng kỳ (黄芪), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Đương quy (当归), Long nhãn nhục (龙眼肉), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Mộc hương (木香), Chích cam thảo (炙甘草), Đại táo (大枣), Sinh khương (生姜), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Mất ngủ nhiều gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); hồi hộp rõ gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎); ngực tức, huyết ứ gia Uất kim (郁金), Xuyên khung (川芎); ăn kém gia Sa nhân (砂仁), Kê nội kim (鸡内金).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật và Phục linh kiện Tỳ ích khí; Đương quy và Long nhãn nhục dưỡng huyết; Toan táo nhân và Viễn chí dưỡng Tâm an thần; Mộc hương hành khí, tránh thuốc bổ gây nê trệ; Đan sâm hoạt huyết thông Tâm mạch.
Ba. Đàm khí giao trở
Chứng trạng
Ngực nặng, tức ngực, thở không khoan khoái, họng như có vật vướng, hay thở dài, hồi hộp, buồn nôn, ăn kém, bụng đầy, rêu lưỡi trắng nhầy, mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tình chí uất kết làm khí trệ, Tỳ mất kiện vận sinh đàm. Đàm và khí cùng kết ở vùng ngực và họng, khiến khí cơ không thông, sinh ngực nặng, khó thở và cảm giác vướng nghẹn.
Pháp trị
Lý khí giải uất, hóa đàm khoan hung, thông Tâm mạch.
Phương thang
Bán hạ hậu phác thang hợp Qua lâu giới bạch bán hạ thang gia giảm (半夏厚朴汤合瓜蒌薤白半夏汤加减): Bán hạ (半夏), Hậu phác (厚朴), Tô diệp (苏叶), Phục linh (茯苓), Sinh khương (生姜), Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Trần bì (陈皮), Chỉ xác (枳壳), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Lo âu, mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Hợp hoan bì (合欢皮); đàm nhiều gia Trúc nhự (竹茹), Thạch xương bồ (石菖蒲); ngực đau gia Huyền hồ sách (玄胡索), Xích thược (赤芍).
Ý nghĩa
Bán hạ, Hậu phác, Tô diệp, Phục linh và Sinh khương lý khí hóa đàm; Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Trần bì và Chỉ xác hành khí; Đan sâm hoạt huyết; Uất kim giải uất, thông mạch.
Bốn. Đàm hỏa nhiễu Tâm
Chứng trạng
Hồi hộp, tim đập nhanh, ngực tức, bứt rứt, dễ giận, mất ngủ, nhiều mộng, miệng đắng, họng khô, đàm dính, buồn nôn, lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Can uất hóa hỏa, Tỳ hư sinh đàm. Đàm và hỏa kết lại, quấy nhiễu Tâm thần nên hồi hộp, mất ngủ và bứt rứt; đàm hỏa trở ở vùng ngực nên ngực tức, buồn nôn và đàm dính.
Pháp trị
Thanh nhiệt hóa đàm, khoan hung, an thần định quý.
Phương thang
Hoàng liên ôn đảm thang gia giảm (黄连温胆汤加减): Hoàng liên (黄连), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Qua lâu (瓜蒌), Đan sâm (丹参), Viễn chí (远志), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Mất ngủ nhiều gia Dạ giao đằng (夜交藤), Liên tử tâm (莲子心), Trân châu mẫu (珍珠母); ngực tức nhiều gia Giới bạch (薤白), Uất kim (郁金); miệng đắng, dễ giận gia Chi tử (栀子), Hạ khô thảo (夏枯草).
Ý nghĩa
Hoàng liên thanh Tâm hỏa; Bán hạ, Trần bì và Phục linh kiện Tỳ hóa đàm; Trúc nhự thanh nhiệt hóa đàm; Chỉ thực hành khí; Qua lâu khoan hung; Đan sâm hoạt huyết; Viễn chí và Toan táo nhân dưỡng Tâm an thần.
Năm. Tâm Thận bất giao
Chứng trạng
Hồi hộp, mất ngủ, ngủ không sâu, dễ giật mình, lo âu, miệng họng khô, ù tai, lưng gối mỏi, lòng bàn tay bàn chân nóng, ra mồ hôi trộm, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Lo âu, mất ngủ và bệnh lâu ngày làm Tâm âm, Thận âm cùng suy. Thận thủy không lên giúp Tâm, Tâm hỏa không giáng xuống Thận, Tâm thần mất yên tĩnh nên hồi hộp, mất ngủ và dễ giật mình.
Pháp trị
Tư âm giáng hỏa, giao thông Tâm Thận, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Thiên vương bổ tâm đan hợp Giao thái hoàn gia giảm (天王补心丹合交泰丸加减): Sinh địa hoàng (生地黄), Huyền sâm (玄参), Thiên môn đông (天门冬), Mạch môn đông (麦门冬), Đan sâm (丹参), Đương quy (当归), Đảng sâm (党参), Phục linh (茯苓), Viễn chí (远志), Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁), Ngũ vị tử (五味子), Hoàng liên (黄连) lượng nhỏ, Nhục quế (肉桂) lượng rất nhỏ.
Gia giảm
Mồ hôi trộm gia Mẫu lệ (牡蛎), Phù tiểu mạch (浮小麦); ù tai, lưng gối mỏi gia Nữ trinh tử (女贞子), Hạn liên thảo (旱莲草), Cẩu kỷ tử (枸杞子); ngực tức gia Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍).
Ý nghĩa
Sinh địa, Huyền sâm, Thiên môn đông và Mạch môn đông tư âm; Đan sâm và Đương quy dưỡng huyết hoạt huyết; Viễn chí, Toan táo nhân và Bá tử nhân dưỡng Tâm an thần; Hoàng liên thanh Tâm hỏa; Nhục quế lượng rất nhỏ dẫn hỏa quy nguyên.
Sáu. Khí âm lưỡng hư
Chứng trạng
Hồi hộp, thở ngắn, mệt mỏi, vận động thì triệu chứng tăng, tự ra mồ hôi, miệng khô, ngủ kém, ngực đau âm ỉ hoặc không khoan khoái, lưỡi nhạt đỏ hoặc ít rêu, mạch tế nhược hoặc hư sác.
Bệnh cơ
Căng thẳng kéo dài, bệnh mạch vành lâu ngày hoặc sau biến cố tim mạch làm khí âm cùng hao. Khí hư thì không đủ sức hành huyết; âm hư thì Tâm mạch mất nhu dưỡng. Vì vậy, người bệnh hồi hộp, thở ngắn, mệt và ngủ kém.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, phục mạch thông lạc, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Uất kim (郁金).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông và Sinh địa dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí; Chích cam thảo và A giao dưỡng huyết phục mạch; Quế chi thông dương mạch; Đan sâm hoạt huyết; Toan táo nhân dưỡng Tâm an thần.
Điều thần trong dưỡng sinh
Điều thần không phải là ép bản thân luôn vui vẻ hoặc phủ nhận cảm xúc. Điều quan trọng là nhận biết tình trạng tinh thần, giảm những kích thích không cần thiết và để khí cơ có cơ hội thư giãn.
Có thể chọn những phương pháp nhẹ nhàng như đi bộ chậm, thái cực quyền, Bát đoạn cẩm, nghe nhạc, chăm cây, đọc sách, cầu nguyện, viết lại cảm xúc hoặc trò chuyện với người thân. Phương pháp phù hợp là phương pháp giúp tinh thần thư thái, không làm người bệnh mệt thêm và có thể duy trì đều đặn.
Thở chậm
Ngồi hoặc nằm ở tư thế thoải mái, thả lỏng vai và hàm. Hít vào nhẹ qua mũi, sau đó thở ra chậm và tự nhiên. Không cần cố hít quá sâu hoặc nín thở. Có thể thực hành từ năm đến mười phút.
Nếu chóng mặt, khó thở hoặc hồi hộp tăng, nên dừng lại.
Sắp xếp công việc và nghỉ ngơi
Người dễ căng thẳng nên chia công việc thành từng phần, tránh làm nhiều việc cùng lúc và không cố hoàn thành mọi việc trong một thời gian quá ngắn. Sau một khoảng làm việc nên nghỉ ngắn, thay đổi tư thế và thả lỏng.
Giữ giờ ngủ ổn định
Nên đi ngủ và thức dậy vào thời gian tương đối cố định. Buổi tối hạn chế cà phê, trà đặc, rượu, tin tức gây kích động và sử dụng điện thoại quá lâu. Phòng ngủ nên yên tĩnh, ánh sáng dịu và không quá nóng.
Chia sẻ cảm xúc
Khi có nỗi lo về bệnh tim, nên trao đổi với người thân hoặc nhân viên y tế. Sự lo lắng thường giảm khi người bệnh hiểu rõ tình trạng và biết cách xử trí nếu triệu chứng xuất hiện.
Không nên âm thầm chịu đựng tình trạng buồn chán, mất ngủ hoặc hoảng sợ kéo dài.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu có thể hỗ trợ sơ Can lý khí, dưỡng Tâm an thần, cải thiện hồi hộp, mất ngủ và tức ngực nhẹ khi tình trạng tim mạch đã ổn định.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Tâm-7 Thần môn (神门), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-14 Quyết âm du (厥阴俞), Can-3 Thái xung (太冲), Đại trường-4 Hợp cốc (合谷), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Vị-40 Phong long (丰隆), Thận-3 Thái khê (太溪) và An miên (安眠).
Can uất, căng thẳng phối Can-3 Thái xung, Đại trường-4 Hợp cốc, Tâm bào-6 Nội quan và Nhâm-17 Chiên trung; hồi hộp, mất ngủ phối Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Bàng quang-15 Tâm du, An miên và Tỳ-6 Tam âm giao; đàm trọc, ngực nặng phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Nhâm-17 Chiên trung và Tâm bào-6 Nội quan; Tâm Tỳ hư phối Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du, Bàng quang-15 Tâm du và Tâm bào-6 Nội quan; Tâm Thận bất giao phối Tâm-7 Thần môn, Thận-3 Thái khê, Tỳ-6 Tam âm giao, Tâm bào-6 Nội quan và An miên.
Không dùng châm cứu để trì hoãn việc xử trí khi xuất hiện đau ngực cấp, khó thở, vã mồ hôi, choáng hoặc nhịp tim rối loạn rõ.
Bấm huyệt
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Nhâm-17 Chiên trung, Can-3 Thái xung, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-36 Túc tam lý và An miên. Mỗi huyệt day từ một đến ba phút, lực vừa phải.
Không ấn mạnh vùng trước tim. Nếu hồi hộp hoặc đau ngực không giảm, không nên tiếp tục day bấm để chờ đợi.
Cứu ngải
Cứu ngải không phù hợp với đàm hỏa, âm hư hỏa vượng, mất ngủ nóng trong, miệng khô, lưỡi đỏ hoặc rêu vàng.
Chỉ khi người bệnh thuộc khí dương hư, sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt, lưỡi nhạt và mạch trầm tế mới cân nhắc cứu nhẹ Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn và Bàng quang-23 Thận du.
Ăn uống điều dưỡng
Người bệnh nên hạn chế rượu, cà phê đậm, trà đặc, thức ăn cay nóng, đồ nhiều dầu mỡ và ăn quá no vào buổi tối. Những yếu tố này có thể làm hồi hộp, mất ngủ và ngực tức tăng.
Thể Can uất có thể dùng Mai khôi hoa (玫瑰花) lượng nhẹ làm trà. Không nên dùng quá đặc hoặc kéo dài khi chưa rõ thể trạng.
Thể Tâm Tỳ lưỡng hư có thể dùng cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Thể Tâm Thận bất giao có thể dùng cháo Bách hợp Liên tử: Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), Mạch môn đông (麦门冬), gạo tẻ. Người Tỳ Vị hư hàn hoặc tiêu lỏng nên dùng ít.
Thể đàm khí giao trở có thể dùng cháo Trần bì Phục linh: Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓), gạo tẻ. Người âm hư, họng khô rõ không nên dùng nhiều Trần bì.
Chú ý về thuốc an thần và hoạt huyết
Đan sâm (丹参), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Tam thất (三七), Xuyên khung (川芎) và Uất kim (郁金) đều có thể ảnh hưởng đến huyết hành.
Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Long cốt (龙骨) và Mẫu lệ (牡蛎) thường được dùng để an thần, nhưng cũng không nên tự phối hợp tùy tiện với thuốc ngủ, thuốc chống lo âu hoặc thuốc chống trầm cảm.
Người đang sử dụng thuốc chống đông, thuốc kháng kết tập tiểu cầu, thuốc tim mạch hoặc thuốc tâm thần cần trao đổi với người có chuyên môn trước khi dùng phương thang.
Những điều không nên làm
Không xem mọi cơn đau ngực hoặc khó thở đều do căng thẳng.
Không tự ngừng thuốc tim mạch vì cho rằng bệnh chỉ thuộc tâm lý.
Không dùng rượu để giải buồn hoặc giúp ngủ.
Không làm việc quá sức, thức khuya hoặc cố chịu áp lực kéo dài.
Không tự dùng thuốc ngủ, thuốc chống trầm cảm hoặc thuốc an thần Đông y.
Không luyện thở mạnh, nín thở lâu hoặc tập khí công quá sức.
Không tự phối hợp nhiều vị hoạt huyết khi đang dùng thuốc chống đông.
Không để lo âu, trầm uất hoặc mất ngủ kéo dài mà không tìm sự hỗ trợ.
Chú ý
Bài viết chỉ trình bày nhận thức và phương pháp điều dưỡng theo Trung y. Khi xuất hiện đau ngực, khó thở, vã mồ hôi, choáng, ngất, tim đập loạn hoặc đau lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ hay hàm, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời.
Khi buồn chán, tuyệt vọng, hoảng loạn hoặc mất ngủ kéo dài làm ảnh hưởng rõ đến sinh hoạt, nên tìm sự hỗ trợ chuyên môn. Không nên quy mọi biểu hiện của bệnh tim cho yếu tố tinh thần, nhưng cũng không nên xem nhẹ ảnh hưởng của tinh thần đối với quá trình phục hồi.
Kết luận
Yếu tố tâm lý trong Trung y thuộc phạm vi tình chí. Khi tình chí điều hòa, khí cơ thông thuận, Tâm thần yên và huyết mạch vận hành tương đối điều hòa. Khi giận dữ, uất ức, lo nghĩ, sợ hãi hoặc mất ngủ kéo dài, khí cơ có thể rối loạn, hình thành Can uất, khí trệ, huyết ứ, đàm trọc, hỏa nhiễu hoặc Tâm Tỳ, Tâm Thận cùng suy.
Điều trị cần căn cứ từng bệnh cơ. Can uất thì sơ Can lý khí; khí trệ huyết ứ thì hoạt huyết thông mạch; đàm khí giao trở thì hóa đàm khoan hung; đàm hỏa thì thanh nhiệt an thần; Tâm Tỳ hư thì kiện Tỳ dưỡng huyết; Tâm Thận bất giao thì tư âm giáng hỏa; khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm.
Điều thần không phải là cố gắng xóa bỏ mọi cảm xúc, mà là giúp cảm xúc trở về trạng thái điều hòa, để khí cơ không bị uất trệ và Tâm thần có cơ hội an định. Việc chăm sóc tinh thần nên được tiến hành cùng với điều dưỡng ăn ngủ, vận động vừa sức và theo dõi bệnh tim.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp