Khái luận
Hoạt động của Tâm không tách rời trạng thái tinh thần và sự điều hòa của hệ thần kinh tự chủ. Khi con người vui mừng, tức giận, lo lắng, sợ hãi hoặc căng thẳng, nhịp Tâm có thể thay đổi theo. Phần lớn những biến đổi này chỉ là phản ứng sinh lý tạm thời; tuy nhiên, ở người có cơ địa nhạy cảm hoặc bệnh Tâm nền, cảm xúc mạnh, mất ngủ và lo âu kéo dài có thể làm hồi hộp, ngoại tâm thu hoặc các cơn rối loạn nhịp dễ xuất hiện hơn.
Theo Trung y, Tâm chủ huyết mạch và tàng thần. Tâm khí thúc đẩy huyết vận hành; Tâm huyết và Tâm âm nuôi dưỡng thần. Khi tình chí biến động quá mức, khí cơ rối loạn, Tâm thần mất yên, Tâm mạch cũng có thể mất điều hòa, biểu hiện thành Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Bất mị (不寐), Kết mạch (结脉), Đại mạch (代脉) hoặc Xúc mạch (促脉).
Y học hiện đại giải thích mối liên hệ này chủ yếu thông qua hệ thần kinh giao cảm, thần kinh phế vị, hormone căng thẳng, giấc ngủ và nhận thức của người bệnh đối với nhịp Tâm. Vì vậy, rối loạn nhịp và trạng thái tâm lý thường tác động qua lại: lo âu có thể làm hồi hộp tăng, còn hồi hộp kéo dài lại khiến người bệnh càng lo sợ và mất ngủ.
Chú ý
Cảm xúc và lo âu có thể thúc đẩy hoặc làm người bệnh cảm nhận nhịp Tâm rõ hơn, nhưng không nên mặc nhiên quy mọi hồi hộp cho yếu tố tâm lý.
Nếu hồi hộp kèm đau ngực, khó thở, ngất, gần ngất, vã mồ hôi lạnh, nhịp rất nhanh hoặc rất chậm kéo dài, cần được khám và làm điện tâm đồ. Không nên trì hoãn việc đánh giá bệnh Tâm chỉ vì triệu chứng xuất hiện trong lúc căng thẳng.
Thất tình và hoạt động của Tâm
Thất tình gồm hỉ, nộ, ưu, tư, bi, khủng và kinh, tức vui, giận, lo, nghĩ, buồn, sợ và kinh hãi.
Cảm xúc là hoạt động tự nhiên của con người. Chỉ khi cảm xúc quá mạnh, kéo dài, lặp lại nhiều lần hoặc vượt quá khả năng điều hòa của cơ thể thì mới có thể làm khí huyết và chức năng tạng phủ mất cân bằng.
Tố Vấn – Cử thống luận (素问·举痛论) viết:
“Nộ tắc khí thượng, hỉ tắc khí hoãn, bi tắc khí tiêu, khủng tắc khí hạ, kinh tắc khí loạn, tư tắc khí kết.”
Nghĩa là: Giận làm khí nghịch lên; vui quá mức làm khí thư giãn; buồn thương làm khí tiêu hao; sợ hãi làm khí hạ xuống; kinh hãi làm khí rối loạn; suy nghĩ quá nhiều làm khí uất kết.
Đây là cách Trung y mô tả những khuynh hướng biến đổi khác nhau của khí cơ khi tình chí dao động. Tình chí không chỉ ảnh hưởng Tâm mà còn liên quan đến Can, Tỳ, Phế và Thận.
Giận dữ làm Can khí nghịch, khí huyết dồn lên, khiến Tâm đập nhanh, mặt đỏ, đau đầu hoặc tức ngực.
Lo nghĩ kéo dài làm Tỳ khí và Tâm huyết hao tổn, dẫn đến hồi hộp, mất ngủ, ăn kém và mệt mỏi.
Buồn thương làm Phế khí và Tâm khí suy, người bệnh dễ thở ngắn, mệt, ngực buồn và Tâm quý.
Sợ hãi kéo dài làm Thận khí suy, Tâm Thận mất giao thông, gây hồi hộp, mất ngủ và bất an.
Kinh hãi đột ngột làm khí cơ rối loạn, Tâm thần mất nơi nương tựa, có thể gây Tâm đập mạnh, run, thở gấp và hoảng hốt.
Cảm xúc có gây rối loạn nhịp tim hay không
Cảm xúc mạnh có thể làm nhịp Tâm thay đổi. Phản ứng thường gặp nhất là nhịp xoang nhanh do hệ thần kinh giao cảm hoạt động mạnh và cơ thể giải phóng adrenaline cùng các hormone căng thẳng.
Nguyên nhân: Căng thẳng, tức giận, sợ hãi, đau buồn, hồi hộp trước sự kiện quan trọng, hoảng loạn, mất ngủ, lao lực tinh thần hoặc sang chấn tâm lý.
Chứng trạng: Tâm đập nhanh hoặc mạnh, hồi hộp, run tay, thở nhanh, vã mồ hôi, căng vùng ngực, chóng mặt, cảm giác bất an; một số người thấy hụt nhịp hoặc ngoại tâm thu tăng.
Khi hệ giao cảm hưng phấn, nhịp Tâm tăng, lực co bóp mạnh hơn và tính kích thích của cơ tim có thể thay đổi. Ở người nhạy cảm, điều này có thể làm ngoại tâm thu hoặc cơn nhịp nhanh dễ xuất hiện.
Ngược lại, một số tình huống như đau, sợ hãi, nhìn thấy máu hoặc xúc động đột ngột có thể gây phản xạ phế vị. Khi đó, nhịp Tâm và huyết áp giảm, người bệnh chóng mặt, buồn nôn, vã mồ hôi hoặc ngất.
Lo âu thông thường không làm Tâm ngừng đập. Tuy nhiên, phản xạ phế vị mạnh hoặc rối loạn nhịp xảy ra trên nền bệnh hệ dẫn truyền vẫn cần được đánh giá nếu người bệnh có ngất hoặc nhịp chậm rõ.
Nhận thức của Trung y về tình chí gây Tâm quý
Tâm tàng thần. Khi Tâm khí, Tâm huyết và Tâm âm đầy đủ, thần có nơi nương tựa, tình chí tương đối ổn định.
Nếu Tâm huyết vốn hư, người bệnh dễ nhạy cảm, hay giật mình, hồi hộp và mất ngủ. Gặp kinh sợ hoặc lo nghĩ, Tâm thần càng khó yên.
Nếu Can khí uất, khí cơ vùng ngực không thông, người bệnh thường thấy ngực tức, hay thở dài, hồi hộp tăng khi căng thẳng.
Nếu uất lâu hóa hỏa, hỏa quấy nhiễu Tâm thần, có thể xuất hiện bứt rứt, mất ngủ, miệng đắng và Tâm đập nhanh.
Nếu lo nghĩ kéo dài làm Tâm Tỳ lưỡng hư, khí huyết sinh hóa không đủ, người bệnh hồi hộp, mệt, ăn kém, sắc mặt nhợt và ngủ nhiều mộng.
Nếu sợ hãi lâu ngày làm Thận âm hao tổn, Tâm Thận bất giao, người bệnh hồi hộp, mất ngủ, ù tai, lưng gối mỏi và lòng bàn tay chân nóng.
Mối quan hệ giữa lo âu và cảm giác hồi hộp
Lo âu có thể khiến người bệnh chú ý quá mức đến từng biến đổi nhỏ của nhịp Tâm. Một ngoại tâm thu thưa vốn ít được nhận biết có thể trở thành cảm giác rất rõ khi người bệnh liên tục theo dõi mạch, kiểm tra đồng hồ hoặc chờ đợi cơn xuất hiện.
Sau một nhát ngoại tâm thu thường có khoảng nghỉ ngắn, rồi nhát Tâm kế tiếp co bóp mạnh hơn. Người bệnh có thể cảm thấy Tâm “hẫng”, “ngừng một nhịp” hoặc “đập mạnh lên cổ”. Nếu không hiểu cơ chế này, cảm giác sợ hãi sẽ làm giao cảm hưng phấn, khiến nhịp Tâm nhanh hơn và ngoại tâm thu có thể tăng.
Từ đó hình thành một vòng lặp:
Cảm nhận một nhịp bất thường.
Lo sợ đó là bệnh nguy hiểm.
Hệ giao cảm hưng phấn.
Nhịp Tâm nhanh và hồi hộp rõ hơn.
Người bệnh tiếp tục kiểm tra nhịp.
Lo âu và mất ngủ tăng.
Việc hiểu đúng cơ chế, làm điện tâm đồ hoặc Holter để xác định loại nhịp và giảm hành vi kiểm tra quá mức có thể giúp phá vỡ vòng lặp này.
Mất ngủ và rối loạn nhịp tim
Mất ngủ không nhất thiết trực tiếp gây ra một bệnh rối loạn nhịp, nhưng thiếu ngủ kéo dài có thể làm hoạt động thần kinh tự chủ mất cân bằng, hormone căng thẳng tăng và ngưỡng chịu đựng của cơ thể giảm.
Nguyên nhân: Lo âu, đau buồn, lao tâm, bệnh Tâm gây khó thở về đêm, ngưng thở khi ngủ, dùng caffeine hoặc rượu, thuốc kích thích, đau mạn tính, lịch sinh hoạt không đều.
Chứng trạng: Khó vào giấc, ngủ chập chờn, dễ tỉnh, thức dậy sớm, Tâm đập nhanh về đêm, hồi hộp khi nằm, mệt và khó tập trung vào ban ngày.
Ở người có bệnh Tâm, giấc ngủ có thể bị gián đoạn bởi:
Khó thở khi nằm.
Cơn khó thở kịch phát về đêm.
Đau ngực.
Rung nhĩ.
Nhịp nhanh.
Ngoại tâm thu.
Nhịp chậm hoặc khoảng ngừng.
Tác dụng của thuốc.
Ngưng thở khi ngủ cũng có liên quan mật thiết đến rối loạn nhịp. Người ngủ ngáy lớn, có lúc ngừng thở, buồn ngủ ban ngày, béo bụng hoặc tăng huyết áp khó kiểm soát nên được đánh giá.
Mất ngủ theo Trung y
Giấc ngủ bình thường phụ thuộc vào sự vận hành điều hòa của Vệ khí và trạng thái yên ổn của thần.
Tâm huyết hư thì thần không được nuôi dưỡng.
Tâm âm hư thì hư hỏa quấy nhiễu thần.
Tâm Tỳ lưỡng hư thì khí huyết sinh hóa không đủ.
Tâm Thận bất giao thì Tâm hỏa không giáng, Thận thủy không thăng.
Đàm nhiệt nhiễu Tâm thì Tâm thần bứt rứt, khó yên.
Can uất hóa hỏa thì dễ cáu, miệng đắng, nhiều mộng và khó ngủ.
Cổ nhân có ý rằng thần yên thì ngủ được, thần không yên thì khó ngủ. Điều này nhấn mạnh quan hệ giữa Tâm thần, âm huyết và giấc ngủ.
Ác mộng và rối loạn nhịp tim
Ác mộng có thể làm người bệnh tỉnh giấc với nhịp Tâm nhanh, thở gấp, vã mồ hôi và cảm giác sợ hãi. Đây thường là phản ứng của hệ giao cảm đối với nội dung giấc mơ.
Ở chiều ngược lại, hồi hộp, khó thở, trào ngược, đau ngực hoặc ngưng thở khi ngủ cũng có thể làm giấc ngủ bị gián đoạn và nội dung giấc mơ trở nên bất an.
Không nên khẳng định mọi ác mộng ở người rối loạn nhịp đều do thiếu máu cơ tim hoặc thiếu máu não. Ác mộng có nhiều nguyên nhân khác nhau như căng thẳng, mất ngủ, thuốc, sốt, sang chấn tâm lý và rối loạn giấc ngủ.
Nguyên nhân: Căng thẳng, lo âu, sang chấn tâm lý, thiếu ngủ, sốt, rượu, thuốc, ngưng thở khi ngủ, khó thở hoặc hồi hộp về đêm.
Chứng trạng: Giấc mơ đáng sợ, tỉnh giấc đột ngột, Tâm đập nhanh, thở gấp, vã mồ hôi, khó ngủ lại; có thể kèm đau ngực hoặc khó thở nếu có bệnh Tâm Phế.
Nếu ác mộng liên tục kèm đau ngực, khó thở, ngất, nhịp rất nhanh hoặc dấu hiệu ngưng thở khi ngủ, cần được đánh giá nguyên nhân.
Tư thế ngủ và cảm giác hồi hộp
Một số người cảm nhận nhịp Tâm rõ hơn khi nằm nghiêng trái vì thành Tâm gần thành ngực hơn. Điều này không nhất thiết có nghĩa Tâm bị chèn ép hoặc thiếu máu.
Người suy tim hoặc trào ngược có thể dễ chịu hơn khi kê cao đầu. Tuy nhiên, không có một tư thế ngủ duy nhất phù hợp với mọi người rối loạn nhịp.
Có thể chọn tư thế giúp thở dễ, không đau và ngủ sâu hơn. Nếu phải ngồi ngủ, kê nhiều gối vì khó thở hoặc thường xuyên thức giấc do nghẹt thở, cần khám để loại trừ suy tim hoặc bệnh hô hấp.
Các thể bệnh thường gặp
Một. Can uất khí trệ
Nguyên nhân: Căng thẳng kéo dài, uất ức, tức giận, môi trường tinh thần bị đè nén, mất ngủ hoặc suy nghĩ không được giải tỏa.
Chứng trạng: Hồi hộp tăng khi xúc động, ngực sườn đầy tức, hay thở dài, dễ cáu, bụng đầy, ngủ không yên; lưỡi đỏ nhạt hoặc hơi tối, mạch huyền.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, khí cơ không điều đạt. Khí trệ ở vùng ngực làm Tâm mạch không thư thông, Tâm thần không yên.
Pháp trị
Sơ Can lý khí, giải uất an thần, điều hòa Tâm mạch.
Phương thang
Sài hồ sơ can tán hợp Đan sâm ẩm gia giảm (柴胡疏肝散合丹参饮加减): Sài hồ (柴胡), Hương phụ (香附), Chỉ xác (枳壳), Bạch thược (白芍), Xuyên khung (川芎), Trần bì (陈皮), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金), Toan táo nhân (酸枣仁).
Hai. Tâm huyết hư
Nguyên nhân: Lao tâm, lo nghĩ lâu ngày, mất máu, sau sinh, bệnh kéo dài, ăn uống kém hoặc Tỳ khí hư.
Chứng trạng: Hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng, dễ giật mình, chóng mặt, trí nhớ giảm, sắc mặt nhợt, môi nhạt; lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Tâm huyết không đủ nuôi dưỡng Tâm thần và Tâm mạch, khiến thần không yên và nhịp dễ dao động.
Pháp trị
Dưỡng huyết bổ Tâm, kiện Tỳ an thần.
Phương thang
Quy Tỳ thang gia giảm (归脾汤加减): Đảng sâm (党参), Hoàng kỳ (黄芪), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Đương quy (当归), Long nhãn nhục (龙眼肉), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Mộc hương (木香), Chích cam thảo (炙甘草), Đại táo (大枣), Sinh khương (生姜).
Ba. Tâm âm hư, hư hỏa nhiễu thần
Nguyên nhân: Mất ngủ kéo dài, bệnh nhiệt, lao tâm, tuổi cao, bệnh lâu ngày hoặc thể chất âm hư.
Chứng trạng: Hồi hộp, Tâm đập nhanh, khó ngủ, miệng khô, lòng bàn tay chân nóng, mồ hôi đêm; lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Tâm âm không đủ, hư nhiệt nội sinh, quấy nhiễu Tâm thần và làm Tâm mạch mất nhu dưỡng.
Pháp trị
Tư âm thanh nhiệt, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Thiên vương bổ tâm đan gia giảm (天王补心丹加减): Sinh địa hoàng (生地黄), Huyền sâm (玄参), Mạch môn đông (麦门冬), Thiên môn đông (天门冬), Đan sâm (丹参), Đương quy (当归), Đảng sâm (党参), Phục linh (茯苓), Viễn chí (远志), Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁), Ngũ vị tử (五味子).
Bốn. Tâm Tỳ lưỡng hư
Nguyên nhân: Lo nghĩ kéo dài, lao tâm, làm việc quá sức, ăn uống không điều độ hoặc bệnh lâu ngày.
Chứng trạng: Hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng, mệt, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng, sắc mặt nhợt; lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư làm nguồn sinh hóa khí huyết không đủ. Tâm huyết thiếu, thần mất nuôi dưỡng.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần.
Phương thang
Quy Tỳ thang gia giảm (归脾汤加减).
Năm. Tâm Thận bất giao
Nguyên nhân: Lo âu kéo dài, mất ngủ lâu ngày, phòng thất quá độ, tuổi cao hoặc bệnh mạn tính làm Thận âm suy.
Chứng trạng: Hồi hộp, mất ngủ, dễ tỉnh, ù tai, lưng gối mỏi, miệng khô, lòng bàn tay chân nóng, mồ hôi đêm; lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Thận âm không đủ, thủy không tế hỏa; Tâm hỏa không giáng, Tâm Thận mất giao thông.
Pháp trị
Tư âm giáng hỏa, giao thông Tâm Thận, an thần.
Phương thang
Thiên vương bổ tâm đan hợp Giao thái hoàn gia giảm (天王补心丹合交泰丸加减): Sinh địa hoàng (生地黄), Huyền sâm (玄参), Mạch môn đông (麦门冬), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁), Viễn chí (远志), Phục linh (茯苓), Hoàng liên (黄连) lượng nhỏ, Nhục quế (肉桂) lượng rất nhỏ.
Sáu. Đàm nhiệt nhiễu Tâm
Nguyên nhân: Can uất hóa hỏa, ăn nhiều béo ngọt, uống rượu, Tỳ hư sinh đàm hoặc căng thẳng kéo dài làm khí uất sinh đàm nhiệt.
Chứng trạng: Hồi hộp, bứt rứt, mất ngủ, nhiều mộng, ngực tức, đàm dính, buồn nôn, miệng đắng; lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Đàm nhiệt thượng nhiễu Tâm thần, làm thần không yên và nhịp Tâm dễ tăng.
Pháp trị
Thanh nhiệt hóa đàm, an thần định quý.
Phương thang
Hoàng liên ôn đảm thang gia giảm (黄连温胆汤加减): Hoàng liên (黄连), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志).
Bảy. Tâm đởm khí hư, kinh khủng nhiễu Tâm
Nguyên nhân: Thể chất nhạy cảm, kinh sợ đột ngột, sang chấn tinh thần, bệnh lâu ngày hoặc lo âu kéo dài.
Chứng trạng: Hồi hộp, hoảng hốt, dễ giật mình, sợ hãi, ngủ không yên, nhiều mộng, thiếu tự tin; lưỡi nhạt, mạch động hoặc huyền tế.
Bệnh cơ
Tâm khí và Đởm khí suy, Tâm thần không vững, gặp kích thích thì kinh sợ và hồi hộp dễ phát.
Pháp trị
Ích khí trấn kinh, định chí an thần.
Phương thang
An thần định chí hoàn gia giảm (安神定志丸加减): Đảng sâm (党参), Phục thần (茯神), Phục linh (茯苓), Viễn chí (远志), Thạch xương bồ (石菖蒲), Long xỉ (龙齿), Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁), Ngũ vị tử (五味子).
Điều chỉnh tâm lý và sinh hoạt
Hiểu đúng về triệu chứng
Người bệnh nên được giải thích loại rối loạn nhịp đã ghi nhận, mức độ nguy hiểm, dấu hiệu nào cần cấp cứu và dấu hiệu nào có thể theo dõi.
Sự hiểu biết rõ ràng thường giúp giảm sợ hãi hơn là liên tục trấn an chung chung.
Hạn chế kiểm tra nhịp quá mức
Theo dõi nhịp theo hướng dẫn của bác sĩ là hữu ích. Tuy nhiên, bắt mạch hoặc kiểm tra đồng hồ liên tục có thể làm người bệnh chú ý quá mức và lo âu tăng.
Duy trì giấc ngủ ổn định
Đi ngủ và thức dậy vào giờ tương đối cố định.
Giảm ánh sáng màn hình trước giờ ngủ.
Tránh caffeine vào chiều tối nếu dễ mất ngủ.
Không dùng rượu để gây ngủ.
Không ăn quá no sát giờ ngủ.
Tập thở chậm
Có thể ngồi hoặc nằm thoải mái, hít vào nhẹ nhàng qua mũi và thở ra chậm, không nín thở hoặc gắng sức.
Thở chậm giúp giảm căng thẳng, nhưng không phải thủ thuật cắt mọi loại nhịp nhanh.
Vận động vừa sức
Đi bộ và vận động đều đặn có thể giúp giấc ngủ, tâm trạng và sức khỏe Tâm mạch cải thiện.
Người có ngất, đau ngực, viêm cơ tim, bệnh cơ tim hoặc nhịp nhanh nguy hiểm cần hỏi bác sĩ trước khi tập.
Hỗ trợ tâm lý
Nếu lo âu, hoảng sợ hoặc sang chấn kéo dài làm ảnh hưởng sinh hoạt, có thể cân nhắc tư vấn tâm lý hoặc liệu pháp nhận thức – hành vi.
Điều trị tâm lý không có nghĩa triệu chứng Tâm là tưởng tượng. Mục đích là điều chỉnh phản ứng căng thẳng, hành vi theo dõi quá mức và vòng lặp giữa hồi hộp với lo âu.
Châm cứu và bấm huyệt hỗ trợ
Châm cứu có thể hỗ trợ giảm căng thẳng, hồi hộp và mất ngủ ở người có tình trạng ổn định.
Huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Tâm-7 Thần môn (神门), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Can-3 Thái xung (太冲), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Thận-3 Thái khê (太溪), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-18 Can du (肝俞), Đốc-20 Bách hội (百会), Ấn đường (印堂) và An miên.
Can uất khí trệ phối Can-3 Thái xung, Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung và Tâm-7 Thần môn.
Tâm huyết hư phối Tâm-7 Thần môn, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-36 Túc tam lý và An miên.
Tâm âm hư phối Tâm-7 Thần môn, Thận-3 Thái khê, Tỳ-6 Tam âm giao và Tâm bào-6 Nội quan.
Tâm Tỳ lưỡng hư phối Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao, Bàng quang-20 Tỳ du và Tâm-7 Thần môn.
Đàm nhiệt nhiễu Tâm phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Tâm bào-6 Nội quan và Tâm-7 Thần môn.
Kinh khủng nhiễu Tâm phối Tâm-7 Thần môn, Tâm bào-6 Nội quan, Đốc-20 Bách hội, Ấn đường và An miên.
Không châm cứu hoặc bấm huyệt để trì hoãn cấp cứu khi đang đau ngực, khó thở, ngất hoặc nhịp rất nhanh hay rất chậm.
Những điều nên làm
Làm điện tâm đồ hoặc Holter nếu hồi hộp tái diễn.
Ghi lại hoàn cảnh khởi phát cơn.
Duy trì giờ ngủ ổn định.
Giảm caffeine, rượu và nước tăng lực nếu chúng làm triệu chứng tăng.
Vận động vừa sức theo tình trạng Tâm.
Điều trị ngưng thở khi ngủ nếu có.
Trao đổi với bác sĩ khi lo âu kéo dài.
Thực hành thở chậm và thư giãn.
Dùng thuốc đúng chỉ định.
Những điều không nên làm
Không mặc nhiên xem mọi hồi hộp là do lo âu.
Không tự dùng thuốc chống loạn nhịp hoặc thuốc an thần.
Không tự ngừng thuốc Tâm mạch.
Không kiểm tra mạch liên tục cả ngày.
Không dùng rượu để dễ ngủ.
Không thức khuya kéo dài.
Không tự áp dụng nghiệm pháp phế vị khi chưa biết loại nhịp.
Không trì hoãn cấp cứu để chờ cảm xúc ổn định.
Kết luận
Cảm xúc, giấc ngủ và hoạt động của hệ thần kinh tự chủ có quan hệ mật thiết với nhịp Tâm. Tức giận, sợ hãi, lo âu, căng thẳng và mất ngủ có thể làm nhịp xoang tăng, ngoại tâm thu rõ hơn hoặc thúc đẩy một số cơn rối loạn nhịp ở người nhạy cảm.
Theo Trung y, thất tình quá mức làm khí cơ rối loạn, hao tổn khí huyết và quấy nhiễu Tâm thần. Bệnh có thể biểu hiện thành Can uất khí trệ, Tâm huyết hư, Tâm âm hư, Tâm Tỳ lưỡng hư, Tâm Thận bất giao, đàm nhiệt nhiễu Tâm hoặc Tâm đởm khí hư.
Lo âu và rối loạn nhịp thường tạo thành một vòng tác động qua lại. Hồi hộp làm người bệnh sợ hãi; sợ hãi làm giao cảm hưng phấn; giao cảm hưng phấn làm nhịp Tâm nhanh và cảm giác hồi hộp rõ hơn.
Mất ngủ và ác mộng không nhất thiết trực tiếp gây bệnh rối loạn nhịp, nhưng có thể làm hệ thần kinh tự chủ mất cân bằng, khiến triệu chứng tăng. Ngược lại, bệnh Tâm, khó thở về đêm, ngưng thở khi ngủ và hồi hộp cũng có thể làm giấc ngủ bị gián đoạn.
Nói tóm lại, điều trị cần phối hợp hai phương diện: xác định loại rối loạn nhịp bằng điện tâm đồ và điều chỉnh những yếu tố tâm lý, giấc ngủ cùng sinh hoạt có khả năng thúc đẩy cơn.
Can uất thì sơ Can lý khí; Tâm huyết hư thì dưỡng huyết an thần; Tâm âm hư thì tư âm thanh nhiệt; Tâm Tỳ lưỡng hư thì kiện Tỳ dưỡng Tâm; Tâm Thận bất giao thì tư âm giáng hỏa; đàm nhiệt thì thanh nhiệt hóa đàm; kinh khủng nhiễu Tâm thì trấn kinh định chí.
Điều chỉnh tâm lý không thay thế điều trị Tâm mạch, nhưng có thể giúp người bệnh giảm sợ hãi, ngủ tốt hơn và hạn chế vòng lặp giữa hồi hộp với lo âu.
Trường Xuân Đường biên soạn và tổng hợp