Khái luận
Phục hồi chức năng là một phần quan trọng trong quá trình điều trị bệnh mạch vành. Việc xử trí cơn đau ngực, dùng thuốc, đặt stent hoặc phẫu thuật bắc cầu chỉ giải quyết một phần của bệnh. Sau giai đoạn cấp, người bệnh còn cần phục hồi thể lực, ổn định tinh thần, điều chỉnh ăn uống, kiểm soát các yếu tố nguy cơ và từng bước trở lại sinh hoạt bình thường.
Phục hồi chức năng tim mạch không đồng nghĩa với tập thể dục đơn thuần. Đây là quá trình phối hợp nhiều phương diện, gồm đánh giá tình trạng Tâm mạch, luyện tập có mức độ, dùng thuốc đúng, kiểm soát huyết áp, mỡ máu và đường huyết, điều chỉnh cân nặng, dinh dưỡng, giấc ngủ, tình chí, công việc và sinh hoạt gia đình.
Trong Trung y, bệnh mạch vành thường thuộc phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Đoản khí (短气) và Hư lao (虚劳). Sau một cơn bệnh nặng, nhồi máu cơ tim, đặt stent hoặc phẫu thuật, chính khí thường suy, khí huyết chưa phục hồi, Tâm mạch còn yếu, đàm trọc và huyết ứ có thể chưa hết, Tâm thần cũng dễ bất an.
Vì vậy, phục hồi theo Trung y cần chú ý ích khí dưỡng Tâm, dưỡng âm phục mạch, kiện Tỳ hóa đàm, hoạt huyết thông lạc, an thần định quý và điều hòa sinh hoạt. Tuy nhiên, mọi phương pháp đều phải được thực hiện khi tình trạng Tâm mạch đã ổn định.
Mục tiêu phục hồi
Khôi phục khả năng sinh hoạt
Người bệnh cần từng bước lấy lại khả năng tự chăm sóc, đi lại, làm việc nhà, đi ra ngoài, trở lại công việc và tham gia sinh hoạt xã hội.
Cải thiện sức chịu đựng
Vận động phù hợp giúp cơ thể sử dụng khí huyết hiệu quả hơn, giảm mệt, giảm khó thở khi gắng sức và tăng khả năng đi bộ, leo cầu thang hoặc làm việc.
Phòng tái phát
Phục hồi không chỉ nhằm làm người bệnh cảm thấy khỏe hơn, mà còn giúp giảm nguy cơ đau thắt ngực tái phát, nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp và nhập viện trở lại.
Điều chỉnh tâm lý
Sau biến cố Tâm mạch, nhiều người sống trong lo sợ, không dám vận động, mất ngủ hoặc thường xuyên chú ý đến nhịp tim. Phục hồi cần giúp người bệnh lấy lại sự bình tĩnh và niềm tin vào khả năng hoạt động của cơ thể.
Kiểm soát yếu tố nguy cơ
Huyết áp, mỡ máu, đường huyết, thuốc lá, béo phì, giấc ngủ và căng thẳng đều cần được kiểm soát lâu dài. Đặt stent hoặc phẫu thuật không loại bỏ hoàn toàn nền tảng xơ vữa và các yếu tố nguy cơ.
Các giai đoạn phục hồi
Giai đoạn trong bệnh viện
Giai đoạn này bắt đầu sau khi tình trạng cấp đã ổn định. Người bệnh có thể được hướng dẫn thay đổi tư thế, cử động tay chân, ngồi dậy, đứng cạnh giường và đi những quãng ngắn.
Mức hoạt động phải căn cứ tình trạng huyết áp, nhịp tim, chức năng Tâm, mức độ tổn thương cơ tim và các biến chứng kèm theo. Không nên áp dụng một lịch vận động cố định cho tất cả mọi người.
Theo Trung y, đây là thời kỳ chính khí vừa bị tổn thương, Tâm mạch chưa ổn định. Nguyên tắc là vận động rất nhẹ, nghỉ ngơi đầy đủ, không để mệt và không để tình chí dao động mạnh.
Giai đoạn đầu sau xuất viện
Sau khi về nhà, người bệnh cần tiếp tục vận động theo chương trình đã được hướng dẫn. Đây là giai đoạn dễ xảy ra hai khuynh hướng trái ngược.
Một số người quá sợ hãi nên nằm nghỉ nhiều, làm thể lực giảm nhanh. Một số khác thấy hết đau nên vội tập mạnh, làm việc nặng hoặc trở lại sinh hoạt như trước.
Cả hai đều không phù hợp. Người bệnh cần tăng dần hoạt động từ đi bộ ngắn đến đi bộ lâu hơn, từ việc nhà nhẹ đến công việc nhiều hơn, căn cứ vào sức chịu đựng và hướng dẫn chuyên môn.
Giai đoạn củng cố
Khi thể lực đã cải thiện, người bệnh có thể duy trì đi bộ, đạp xe nhẹ, thái cực quyền, Bát đoạn cẩm hoặc các bài tập sức bền phù hợp.
Giai đoạn này cần tiếp tục theo dõi huyết áp, nhịp tim, triệu chứng khi vận động, cân nặng, đường huyết và mỡ máu. Mức tập có thể được điều chỉnh sau mỗi lần tái khám.
Giai đoạn duy trì lâu dài
Bệnh mạch vành là bệnh mạn tính. Vì vậy, sau khi hoàn thành chương trình phục hồi ban đầu, người bệnh vẫn cần duy trì vận động và lối sống phù hợp trong thời gian dài.
Không nên xem phục hồi là một đợt tập ngắn rồi kết thúc. Thành quả chỉ được duy trì khi người bệnh tiếp tục ăn uống điều độ, dùng thuốc đúng, bỏ thuốc lá, ngủ đủ và vận động thường xuyên.
Nhận thức của Trung y về giai đoạn phục hồi
Bản hư tiêu thực
Giai đoạn phục hồi thường thuộc hư thực xen lẫn.
Bản hư thường là Tâm khí hư, khí âm lưỡng hư, Tâm Tỳ lưỡng hư, Tâm dương hư hoặc Tỳ Thận hư.
Tiêu thực thường là huyết ứ, đàm trọc và khí trệ chưa được giải hết.
Nếu chỉ bổ mà không hóa đàm, thông ứ, người bệnh dễ đầy tức, ngực nặng và tăng cân. Nếu chỉ hoạt huyết, hóa đàm mà không nâng chính khí, thể lực khó phục hồi.
Ích khí dưỡng Tâm
Sau bệnh nặng, người bệnh thường mệt, thở ngắn, tự ra mồ hôi và hồi hộp. Đây là biểu hiện Tâm khí hoặc toàn thân khí hư.
Ích khí giúp Tâm có lực thúc đẩy huyết mạch, nhưng không nên bổ quá nê trệ, nhất là ở người đàm thấp, bụng đầy và rêu lưỡi nhầy.
Dưỡng âm phục mạch
Sau sốt, đau kéo dài, mất ngủ, dùng nhiều thuốc hoặc ra nhiều mồ hôi, khí âm có thể cùng hao. Người bệnh thường miệng khô, hồi hộp, ra mồ hôi và ngủ kém.
Trường hợp này cần dưỡng âm sinh tân, giúp Tâm mạch được nhu dưỡng, không nên dùng thuốc ôn nóng hoặc vận động làm ra quá nhiều mồ hôi.
Hoạt huyết thông mạch
Huyết ứ là yếu tố quan trọng trong bệnh mạch vành. Tuy nhiên, người sau đặt stent hoặc nhồi máu cơ tim thường đang dùng thuốc ảnh hưởng đến đông máu.
Vì vậy, phép hoạt huyết trong giai đoạn phục hồi cần dùng thận trọng, không nên tự dùng nhiều Đan sâm, Tam thất, Hồng hoa, Đào nhân hoặc các phương phá ứ mạnh.
Kiện Tỳ hóa đàm
Tỳ Vị là nguồn sinh hóa khí huyết. Nếu người bệnh ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng hoặc đàm thấp nặng, khả năng phục hồi sẽ chậm.
Kiện Tỳ giúp ăn uống và hấp thu tốt hơn; hóa đàm giúp giảm ngực nặng, thân thể nặng và béo bụng. Tuy nhiên, ăn uống không nên quá bổ hoặc nhiều dầu mỡ.
An thần định quý
Sau biến cố Tâm mạch, Tâm thần dễ bị kinh động. Người bệnh có thể hồi hộp, mất ngủ, dễ giật mình và sợ hoạt động.
Dưỡng Tâm an thần cần đi cùng với giải thích rõ tình trạng bệnh, hỗ trợ tâm lý và hướng dẫn mức vận động an toàn.
Một. Tâm khí hư
Chứng trạng
Người bệnh mệt mỏi, hồi hộp, thở ngắn, vận động nhẹ đã mệt, tự ra mồ hôi, tiếng nói nhỏ, sắc mặt nhợt, lưỡi nhạt, mạch hư nhược hoặc tế nhược.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài hoặc biến cố Tâm mạch làm Tâm khí hao tổn. Tâm khí không đủ sức thúc đẩy huyết dịch nên hồi hộp, thở ngắn và dễ mệt. Khí hư không cố biểu nên tự ra mồ hôi.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, cố biểu, thông mạch nhẹ.
Phương thang
Bảo nguyên thang hợp Sinh mạch tán gia giảm (保元汤合生脉散加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Chích cam thảo (炙甘草), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Phục linh (茯苓), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁). Nhục quế (肉桂) chỉ dùng lượng nhỏ khi hàn tượng rõ.
Gia giảm
Mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎), Ma hoàng căn (麻黄根); ăn kém gia Bạch truật (白术), Sơn dược (山药), Sa nhân (砂仁); hồi hộp rõ gia Bá tử nhân (柏子仁), Long cốt (龙骨).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí; Phục linh kiện Tỳ; Đan sâm thông mạch nhẹ; Toan táo nhân dưỡng Tâm an thần.
Hai. Khí âm lưỡng hư
Chứng trạng
Mệt, hồi hộp, thở ngắn, miệng khô, ra mồ hôi, ngủ kém, lòng bàn tay bàn chân hơi nóng, ngực tức âm ỉ, lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế sác hoặc hư sác.
Bệnh cơ
Bệnh lâu ngày làm khí và âm cùng tổn thương. Khí hư thì huyết vận hành không đủ lực; âm hư thì Tâm mạch mất nhu dưỡng.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, phục mạch thông lạc, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); miệng khô gia Thạch hộc (石斛), Ngọc trúc (玉竹), Huyền sâm (玄参); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông, Sinh địa và A giao dưỡng âm huyết; Ngũ vị tử liễm khí; Chích cam thảo phục mạch; Quế chi thông dương mạch; Đan sâm hoạt huyết; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Ba. Tâm Tỳ lưỡng hư
Chứng trạng
Mệt, ăn kém, bụng đầy, hồi hộp, mất ngủ, hay mơ, dễ lo lắng, sắc mặt nhợt, hay quên, đại tiện không đều, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Bệnh lâu ngày, lo nghĩ và điều trị kéo dài làm Tâm Tỳ cùng suy. Tỳ hư thì khí huyết sinh hóa không đủ; Tâm huyết thiếu thì hồi hộp, ngủ kém và hay quên.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần, kiêm thông Tâm mạch.
Phương thang
Quy Tỳ thang gia giảm (归脾汤加减): Đảng sâm (党参), Hoàng kỳ (黄芪), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Đương quy (当归), Long nhãn nhục (龙眼肉), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Mộc hương (木香), Chích cam thảo (炙甘草), Đại táo (大枣), Sinh khương (生姜), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Ăn kém gia Sa nhân (砂仁), Sơn dược (山药), Kê nội kim (鸡内金); mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); ngực tức gia Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật và Phục linh kiện Tỳ ích khí; Đương quy và Long nhãn nhục dưỡng huyết; Toan táo nhân và Viễn chí an thần; Mộc hương giúp thuốc bổ không gây trệ; Đan sâm thông Tâm mạch.
Bốn. Tỳ hư đàm trọc
Chứng trạng
Sau điều trị, người bệnh vẫn ngực nặng, thân thể nặng nề, bụng lớn, đàm nhiều, ăn kém, bụng đầy, buồn ngủ, lưỡi nhạt, rêu trắng dày nhầy, mạch hoạt hoặc huyền hoạt.
Bệnh cơ
Can thiệp mạch vành có thể cải thiện dòng máu ở vị trí hẹp nhưng không tự giải quyết Tỳ hư, béo phì và đàm trọc. Đàm còn bế vùng ngực nên người bệnh vẫn nặng ngực và phục hồi chậm.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa đàm, khứ trọc khoan hung, thông mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Nhị trần thang gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合二陈汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓), Cam thảo (甘草), Chỉ xác (枳壳), Bạch truật (白术), Trạch tả (泽泻), Sơn tra (山楂), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Bụng đầy gia Sa nhân (砂仁), Mộc hương (木香); thân thể nặng gia Ý dĩ nhân (薏苡仁), Hà diệp (荷叶); rêu vàng nhầy gia Trúc nhự (竹茹), Hoàng cầm (黄芩).
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Bán hạ, Trần bì và Phục linh hóa đàm; Bạch truật kiện Tỳ; Trạch tả khứ thấp; Sơn tra tiêu thực; Đan sâm và Uất kim thông mạch.
Năm. Khí hư huyết ứ
Chứng trạng
Người bệnh mệt, thở ngắn, hồi hộp, ngực đau hoặc tức âm ỉ, vận động thì tăng, sắc mặt nhợt tối, môi hơi tím, lưỡi nhạt tím hoặc có điểm ứ, mạch hư sáp.
Bệnh cơ
Khí hư không đủ sức thúc đẩy huyết dịch, huyết hành chậm mà sinh ứ. Đây là thể thường gặp sau bệnh kéo dài hoặc sau biến cố Tâm mạch.
Pháp trị
Ích khí hoạt huyết, thông mạch nhưng không công phá quá mức.
Phương thang
Bổ dương hoàn ngũ thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm (补阳还五汤合丹参饮加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đương quy vĩ (当归尾), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Địa long (地龙), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Phục linh (茯苓). Đào nhân (桃仁) và Hồng hoa (红花) chỉ cân nhắc khi thật cần thiết.
Gia giảm
Khí hư rõ gia Đảng sâm (党参), Bạch truật (白术); đau ngực gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Huyền hồ sách (玄胡索); mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ ích khí hành huyết; Đương quy vĩ, Xích thược, Xuyên khung và Đan sâm hoạt huyết; Địa long thông lạc; Đàn hương và Sa nhân hành khí; Phục linh kiện Tỳ.
Chú ý
Người đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu không được tự sử dụng phương hoạt huyết. Việc có Đan sâm, Xuyên khung, Đào nhân hoặc Hồng hoa cần được xem xét riêng.
Sáu. Tâm dương hư
Chứng trạng
Người bệnh sợ lạnh, tay chân lạnh, hồi hộp, thở ngắn, mệt, ngực âm ỉ khó chịu, sắc mặt trắng xanh, có thể phù nhẹ, lưỡi nhạt bệu hoặc nhạt tím, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm tế.
Bệnh cơ
Tâm dương không đủ ôn thông huyết mạch, khí hóa thủy dịch cũng suy. Vì vậy người bệnh lạnh, mệt, huyết hành chậm và có thể phù.
Pháp trị
Ôn dương ích khí, thông mạch, lợi thủy nhẹ.
Phương thang
Tham phụ thang hợp Quế chi cam thảo thang gia giảm (参附汤合桂枝甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Phụ tử chế (制附子), Quế chi (桂枝), Chích cam thảo (炙甘草), Hoàng kỳ (黄芪), Phục linh (茯苓), Bạch truật (白术), Ngũ vị tử (五味子), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Sợ lạnh rõ gia Can khương (干姜); phù nhẹ gia Trạch tả (泽泻), Xa tiền tử (车前子); hồi hộp, ngủ kém gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Đảng sâm và Hoàng kỳ ích khí; Phụ tử chế và Quế chi ôn dương; Phục linh và Bạch truật kiện Tỳ lợi thủy; Ngũ vị tử định Tâm; Đan sâm thông mạch.
Chú ý
Phụ tử có độc tính. Người bệnh tim, suy tim, rối loạn nhịp hoặc huyết áp không ổn định không được tự dùng thuốc ôn dương mạnh. Phù và khó thở cần được đánh giá để loại trừ suy tim.
Bảy. Tâm thần bất an
Chứng trạng
Sau biến cố Tâm mạch, người bệnh hay lo sợ, hồi hộp, mất ngủ, dễ giật mình, không dám vận động, thường xuyên sợ bệnh tái phát, lưỡi nhạt hoặc đỏ nhạt, mạch tế hoặc huyền.
Bệnh cơ
Cơn bệnh làm Tâm thần bị kinh động. Nếu Tâm huyết hoặc Tâm âm không đủ, thần không được nuôi dưỡng, lo sợ càng kéo dài.
Pháp trị
Dưỡng Tâm an thần, định quý, điều hòa khí huyết.
Phương thang
Toan táo nhân thang hợp Cam mạch đại táo thang gia giảm (酸枣仁汤合甘麦大枣汤加减): Toan táo nhân (酸枣仁), Phục linh (茯苓), Tri mẫu (知母), Xuyên khung (川芎), Cam thảo (甘草), Phù tiểu mạch (浮小麦), Đại táo (大枣), Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤), Viễn chí (远志).
Gia giảm
Hồi hộp rõ gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎); khí hư gia Đảng sâm (党参), Hoàng kỳ (黄芪); miệng khô, âm hư gia Mạch môn đông (麦门冬), Sinh địa hoàng (生地黄).
Ý nghĩa
Toan táo nhân, Bá tử nhân và Dạ giao đằng dưỡng Tâm an thần; Phục linh kiện Tỳ; Tri mẫu thanh hư nhiệt; Xuyên khung điều huyết; Phù tiểu mạch, Đại táo và Cam thảo hòa Trung, dưỡng Tâm; Viễn chí định chí.
Nguyên tắc luyện tập
Tăng dần từng bước
Vận động cần bắt đầu từ nhẹ, thời gian ngắn rồi tăng dần. Không nên vì cảm thấy khỏe hơn mà tăng đồng thời cả tốc độ, thời gian và độ dốc.
Mỗi lần chỉ nên tăng một yếu tố và quan sát phản ứng của cơ thể.
Tập đều hơn tập nặng
Một buổi tập quá sức không đem lại lợi ích bằng việc vận động nhẹ nhưng đều đặn. Mục tiêu là tạo thói quen lâu dài, không phải chứng minh khả năng chịu đựng.
Không lấy mồ hôi làm tiêu chuẩn
Ra nhiều mồ hôi không có nghĩa Tâm mạch được thông hơn. Người khí hư hoặc khí âm lưỡng hư có thể càng mệt sau khi ra nhiều mồ hôi.
Mức tập phù hợp là sau tập thấy người ấm, tinh thần dễ chịu, hơi thở điều hòa và không xuất hiện đau ngực hoặc mệt kéo dài.
Không tự tính cường độ chỉ bằng công thức
Nhịp tim khi tập bị ảnh hưởng bởi tuổi, thuốc chẹn beta, rối loạn nhịp, chức năng Tâm và mức độ bệnh.
Vì vậy, không nên chỉ dùng công thức nhịp tim chung để quyết định mức tập. Người bệnh nên căn cứ kết quả đánh giá chuyên môn, cảm giác gắng sức, khả năng nói chuyện và triệu chứng thực tế.
Khởi động
Trước khi tập nên dành vài phút đi chậm, cử động vai, khuỷu tay, cổ tay, hông, gối và cổ chân. Hơi thở giữ tự nhiên, không nín thở.
Khởi động giúp khí huyết tăng dần, tránh làm Tâm phải thay đổi đột ngột.
Thả lỏng
Sau tập không nên dừng lại ngay hoặc nằm xuống. Cần đi chậm, cử động nhẹ và thở đều để nhịp tim, huyết áp giảm từ từ.
Không nên tắm ngay sau tập, đặc biệt bằng nước quá nóng hoặc quá lạnh.
Các hình thức vận động
Đi bộ
Đi bộ là hình thức phù hợp với nhiều người bệnh. Có thể bắt đầu bằng những quãng ngắn, đi trên mặt phẳng và nghỉ khi cần.
Khi đi nên giữ vai thả lỏng, bước đều và thở tự nhiên. Không nên vừa đi vừa cố nói quá nhiều nếu hơi thở đã nhanh.
Đạp xe tại chỗ
Xe đạp tại chỗ giúp dễ kiểm soát thời gian và mức độ. Yên xe cần điều chỉnh phù hợp, không cúi gập người quá mức và không tăng lực cản đột ngột.
Thái cực quyền
Thái cực quyền có động tác chậm và liên tục, hỗ trợ điều hòa hô hấp, thăng bằng và tinh thần. Người bệnh nên chọn bài đơn giản, không hạ thấp người quá mức và không tập quá lâu.
Bát đoạn cẩm
Bát đoạn cẩm có thể giúp vận động toàn thân nhẹ nhàng. Khi tập không gồng cơ, không nín thở và không cố kéo giãn gây đau.
Bơi
Bơi chỉ phù hợp khi tình trạng Tâm mạch ổn định, người bệnh vốn biết bơi và đã được đánh giá khả năng vận động.
Không bơi một mình, không xuống nước quá lạnh và không cố bơi xa. Người có suy tim, rối loạn nhịp hoặc đau ngực chưa ổn định không nên tự lựa chọn môn này.
Chạy chậm
Chạy chậm không phải lựa chọn ban đầu cho người mới qua nhồi máu cơ tim hoặc mới đặt stent. Chỉ cân nhắc khi thể lực tốt, bệnh ổn định và có đánh giá chuyên môn.
Dấu hiệu phải dừng tập
Đau hoặc tức ngực.
Đau lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ hoặc hàm.
Khó thở rõ hoặc không nói được thành câu.
Chóng mặt, choáng hoặc muốn ngất.
Tim đập loạn hoặc hồi hộp tăng rõ.
Vã mồ hôi lạnh.
Buồn nôn.
Sắc mặt tái xám.
Mệt bất thường hoặc mệt kéo dài sau tập.
Khi xuất hiện các biểu hiện này, cần dừng hoạt động. Nếu triệu chứng nặng, kéo dài hoặc khác thường, cần được xử trí kịp thời.
Những trường hợp không nên tập
Đang đau ngực hoặc cơn đau gần đây tăng lên.
Đau thắt ngực không ổn định.
Khó thở khi nghỉ hoặc khó thở tăng nhanh.
Suy tim chưa ổn định.
Nhịp tim quá nhanh, quá chậm hoặc loạn rõ.
Huyết áp chưa được kiểm soát.
Đang sốt, nhiễm trùng hoặc quá mệt.
Sau một đêm mất ngủ nghiêm trọng.
Vừa ăn quá no hoặc uống nhiều rượu.
Thời tiết quá nóng, quá lạnh hoặc không khí ô nhiễm nặng.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu có thể hỗ trợ điều khí, dưỡng Tâm, hóa đàm, an thần và cải thiện giấc ngủ khi bệnh đã ổn định.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Tâm-7 Thần môn (神门), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-14 Quyết âm du (厥阴俞), Bàng quang-17 Cách du (膈俞), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Vị-40 Phong long (丰隆), Nhâm-6 Khí hải (气海), Nhâm-4 Quan nguyên (关元) và Can-3 Thái xung (太冲).
Hồi hộp, ngực tức phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Bàng quang-15 Tâm du và Tâm-7 Thần môn.
Khí hư phối Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-20 Tỳ du và Tâm bào-6 Nội quan.
Đàm trọc phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Nhâm-17 Chiên trung và Vị-36 Túc tam lý.
Huyết ứ phối Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Mất ngủ, lo sợ phối Tâm-7 Thần môn, An miên, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Không dùng châm cứu để trì hoãn việc xử trí khi đau ngực cấp, khó thở, vã mồ hôi hoặc choáng.
Bấm huyệt
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Nhâm-17 Chiên trung, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-40 Phong long và Can-3 Thái xung.
Không ấn mạnh vùng trước tim. Bấm huyệt chỉ có tính hỗ trợ thư giãn, không thay thế thuốc hoặc cấp cứu.
Cứu ngải
Cứu ngải chỉ phù hợp với thể dương hư, biểu hiện sợ lạnh, tay chân lạnh, lưỡi nhạt và mạch trầm tế, đồng thời bệnh đang ổn định.
Có thể cân nhắc Nhâm-6 Khí hải, Nhâm-4 Quan nguyên, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn và Bàng quang-23 Thận du.
Không cứu khi đau ngực cấp, tim đập nhanh, huyết áp không ổn định, sốt, miệng khô, lưỡi đỏ hoặc bốc hỏa.
Ăn uống phục hồi
Nguyên tắc chung
Ăn uống cần đủ chất nhưng thanh đạm và dễ tiêu. Không nên vì cơ thể yếu mà dùng nhiều thịt mỡ, đồ hầm béo, rượu thuốc hoặc thực phẩm quá bổ.
Mỗi bữa nên ăn vừa đủ, nhai chậm và không ăn quá no. Người mới qua nhồi máu cơ tim hoặc phẫu thuật có thể chia thành các bữa nhỏ phù hợp.
Nên dùng rau củ, các loại đậu, ngũ cốc, cá, đậu phụ và thịt nạc lượng vừa phải. Hạn chế nội tạng, đồ chiên rán, thức ăn chế biến sẵn, bánh ngọt, nước ngọt, rượu và thức ăn quá mặn.
Thể khí hư
Cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Món này kiện Tỳ ích khí nhẹ, thích hợp với người mệt, ăn kém và hồi hộp nhẹ.
Thể khí âm lưỡng hư
Cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Món này dưỡng âm sinh tân, hỗ trợ người miệng khô, ngủ kém và ra mồ hôi.
Thể đàm thấp
Cháo Ý dĩ nhân Phục linh: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Phục linh (茯苓), gạo tẻ.
Món này kiện Tỳ hóa thấp nhẹ, phù hợp với người thân thể nặng, bụng đầy và rêu lưỡi nhầy.
Tâm thần bất an
Cháo Bách hợp Liên tử: Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Món này có tính dưỡng Tâm nhẹ, phù hợp với người ngủ kém và lo lắng. Người Tỳ Vị hư hàn hoặc tiêu lỏng nên dùng lượng vừa phải.
Chú ý về dược thiện hoạt huyết
Mộc nhĩ đen có thể dùng như một loại thực phẩm, nhưng không nên xem là thuốc hoạt huyết hoặc ăn quá nhiều để thay thuốc.
Người đang dùng aspirin, clopidogrel hoặc thuốc chống đông không nên tự thêm Tam thất, Đan sâm, Hồng hoa, Đào nhân, Xuyên khung, Nhũ hương, Một dược hoặc Uất kim liều cao.
Phục hồi tâm lý
Lo sợ sau biến cố Tâm mạch là phản ứng thường gặp. Tuy nhiên, nếu lo sợ khiến người bệnh không dám đi lại, không ngủ được hoặc luôn nghĩ mình sắp phát bệnh, quá trình phục hồi sẽ bị ảnh hưởng.
Người bệnh cần được giải thích rõ hoạt động nào an toàn, dấu hiệu nào cần chú ý và khi nào phải đi cấp cứu. Hiểu rõ bệnh giúp giảm sự hoang mang.
Không nên ép người bệnh “phải vui lên” hoặc xem sự lo sợ là yếu đuối. Cần lắng nghe và từng bước giúp họ trở lại sinh hoạt.
Nếu lo âu, mất ngủ hoặc trầm buồn kéo dài, nên tìm hỗ trợ chuyên môn.
Trở lại công việc
Thời điểm trở lại công việc phụ thuộc mức độ bệnh, chức năng Tâm, loại công việc và khả năng gắng sức.
Công việc văn phòng thường ít gắng sức hơn công việc mang vác, leo trèo, làm ngoài trời nóng lạnh hoặc làm ca đêm.
Khi trở lại làm việc nên bắt đầu từng bước, có thời gian nghỉ và tránh nhận quá nhiều việc cùng lúc. Không nên làm thêm giờ hoặc thức khuya trong giai đoạn đầu.
Sinh hoạt vợ chồng
Sinh hoạt vợ chồng có thể làm nhịp tim và hơi thở tăng. Người bệnh chỉ nên trở lại khi tình trạng đã ổn định, các hoạt động thường ngày không gây đau ngực hoặc khó thở và đã được hướng dẫn phù hợp.
Không nên sinh hoạt khi đang đau ngực, quá mệt, sau ăn no, sau uống rượu hoặc sau tắm nóng.
Không tự dùng thuốc điều trị rối loạn cương khi đang dùng nitrate hoặc chưa trao đổi với bác sĩ.
Đi xa và du lịch
Người bệnh có thể đi xa khi tình trạng ổn định. Cần mang đủ thuốc, danh sách thuốc và thông tin cần thiết.
Lịch trình không nên quá dày. Tránh mang hành lý nặng, thức khuya, ăn uống thất thường và thay đổi thuốc.
Người mới qua biến cố Tâm mạch, suy tim chưa ổn định hoặc thường đau ngực cần được đánh giá trước khi đi máy bay, vùng cao hoặc chuyến đi dài.
Chăm sóc răng miệng và thủ thuật
Người bệnh mạch vành cần thông báo cho bác sĩ nha khoa hoặc bác sĩ phẫu thuật về tiền sử Tâm mạch và toàn bộ thuốc đang dùng.
Không tự ngừng aspirin, clopidogrel hoặc thuốc chống đông trước khi nhổ răng hay phẫu thuật. Việc ngừng hoặc tiếp tục thuốc phải được quyết định dựa trên nguy cơ chảy máu và nguy cơ huyết khối.
Không nên áp dụng một quy tắc cố định cho tất cả các thủ thuật. Người bệnh cần được đánh giá riêng, nhất là sau đặt stent hoặc nhồi máu cơ tim gần đây.
Những điều nên làm
Tham gia chương trình phục hồi Tâm mạch khi được giới thiệu.
Tăng vận động từng bước.
Khởi động và thả lỏng đầy đủ.
Dùng thuốc đúng giờ.
Tái khám theo hẹn.
Kiểm soát huyết áp, đường huyết và mỡ máu.
Ăn đủ chất nhưng không quá no.
Ngủ đủ và điều chỉnh lo âu.
Bỏ thuốc lá.
Mang thuốc khi đi xa.
Nhận biết dấu hiệu phải dừng tập và dấu hiệu cần cấp cứu.
Những điều không nên làm
Không nằm bất động kéo dài khi đã được phép vận động.
Không tự tập mạnh sau nhồi máu cơ tim hoặc đặt stent.
Không chạy, leo dốc hoặc nâng vật nặng khi chưa được đánh giá.
Không tập khi đau ngực, khó thở hoặc choáng.
Không dùng mồ hôi nhiều làm mục tiêu luyện tập.
Không tự ngừng thuốc tim mạch.
Không dùng rượu thuốc để phục hồi Tâm mạch.
Không tự dùng nhiều vị hoạt huyết.
Không ăn quá no rồi vận động hoặc tắm.
Không xem nhẹ mất ngủ, trầm buồn hoặc lo sợ kéo dài.
Chú ý
Bài viết trình bày nguyên tắc phục hồi và điều dưỡng theo Trung y. Chương trình vận động cụ thể cần căn cứ mức độ tổn thương Tâm, thuốc đang dùng, huyết áp, nhịp tim, khả năng gắng sức và các bệnh kèm theo.
Khi xuất hiện đau ngực dữ dội hoặc kéo dài, đau lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ, hàm hoặc vùng thượng vị, kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất, sắc mặt tái xám hoặc tay chân lạnh, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời.
Không dùng nghỉ ngơi, thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Kết luận
Phục hồi chức năng là một phần thiết yếu của quá trình điều trị bệnh mạch vành. Mục tiêu không chỉ là tăng khả năng vận động, mà còn giúp người bệnh dùng thuốc đều, kiểm soát các yếu tố nguy cơ, điều chỉnh ăn uống, giấc ngủ, tình chí và từng bước trở lại sinh hoạt bình thường.
Theo Trung y, giai đoạn phục hồi thường thuộc bản hư tiêu thực. Tâm khí hư, khí âm lưỡng hư, Tâm Tỳ lưỡng hư hoặc Tâm dương hư là phần gốc; đàm trọc, huyết ứ và khí trệ còn lưu lại là phần ngọn.
Tâm khí hư thì ích khí dưỡng Tâm; khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm; Tâm Tỳ lưỡng hư thì kiện Tỳ dưỡng huyết; đàm trọc thì hóa đàm khoan hung; khí hư huyết ứ thì ích khí thông mạch; Tâm dương hư thì ôn dương nhưng phải thận trọng; Tâm thần bất an thì dưỡng Tâm định quý.
Vận động cần từ nhẹ đến nặng, từ ngắn đến dài, đều đặn nhưng không quá sức. Sau tập, người bệnh nên thấy dễ chịu, không đau ngực, không khó thở và không mệt kéo dài.
Nói tóm lại, phục hồi tốt là quá trình giúp người bệnh hoạt động nhiều hơn nhưng Tâm mạch không bị quá tải, thể lực tăng mà chính khí không hao, tinh thần ổn định hơn và nguy cơ tái phát được kiểm soát lâu dài.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp