Đông y với bệnh hen suyễn
Tài liệu tham khảo:
Y học Cổ truyền nhận thức về bệnh hen phế quản như thế nào?
“Hen suyễn” của y học Trung Quốc là theo nghĩa rộng, nó đề cập đến hô hấp cấp bách, các cuốn sách y học qua các thời đại thảo luận và ghi lại bệnh này rất nhiều, {Nội kinh} có “Suyễn minh” (喘鸣), còn gọi là “Suyễn hát” (喘喝) suyễn có âm thanh; “Kim quỹ yếu lược” của Trương Trọng Cảnh đời Hán còn gọi là “thượng khí” (上气), còn có ghi chép “khái nhi thượng khí, hầu trung thuỷ kê thanh” (咳而上气,喉中水鸡声) ho khí nghịch lên như âm thanh trong họng con gà nước (gà lôi). “Chứng nhân mạch trị” (症因脉治) của Chu Đan Khê thời xưa lần đầu tiên được gọi là “háo suyễn” (哮喘), các y gia đời sau lại phân thành hai, trong “Y học chính truyền” của Ngu Đoàn đời nhà Minh chỉ ra: “Suyễn dĩ khí tức ngôn, háo dĩ thanh hưởng danh.” (喘以气息言,哮以声响名。) Suyễn là nói về hơi thở, háo là nói về âm thanh. Cho rằng hô hấp dồn dập, há miệng so vai thở dốc là chứng suyễn, mà khi hít thở hổn hển, cổ họng có âm thanh là chứng hen, chứng hen tất có kèm theo chứng suyễn, mà chứng suyễn thì không nhất thiết phải kèm theo chứng hen. Sự phân biệt như vậy có ý nghĩa nhất định đối với việc biện chứng luận trị, nhưng trên lâm sàng cũng không dễ phân biệt giữa hen và suyễn, tức là cùng một bệnh nhân khi bệnh phát nhẹ thì tựa như chứng suyễn mà khi bệnh phát nặng thì thành chứng hen.
Khâu bệnh lý chính của bệnh hen suyễn là bệnh cũ tiềm phục bên trong, cũng do cảm thụ ngoại tà hoặc các yếu tố khác mà gây ra, Chu Đan Khê (Nguyên) viết trong “Chứng nhân mạch trị”: “Háo bệnh chi nhân, đàm ẩm lưu phục, kết thành khoà cữu, tiềm phục vu nội, ngẫu hữu thất tình chi phạm, ẩm thực chi thương, hoặc ngoại hữu thời lịnh chi phong hàn, thúc kỳ cơ biểu, tắc háo suyễn chi chứng tác hĩ” (哮病之因,痰饮留伏,结成窠臼,潜伏于内,偶有七情之犯,饮食之伤,或外有时令之风寒,束其肌表,则哮喘之证作矣). Nguyên nhân của bệnh hen, là do đàm dãi phục bên trong, kết thành khuôn mẫu, tiềm phục ở trong, khi phạm phải cảm xúc thất tình, hay tổn thương do ẩm thực, hoặc cảm thụ phong hàn thắt bó cơ biểu thì chứng hen suyễn liền phát tác.
Nguyên nhân dẫn đến bệnh cũ nội phục đại phàm có một số loại (nguyên nhân) sau: Hàn Tà gây tổn thương tạng phế, đàm dãi đình trệ trong đường thở (khí đạo); Chế độ ăn uống không thích hợp, quá nhiều chất béo chua, tạo đàm gây nóng phổi; Có nguyên nhân do tỳ thận dương hư, khí không hóa thành tân dịch, mà thành đàm trọc gây nghẽn tắc trong phổi. Nhưng nguyên nhân gây hen suyễn phải có tất cả các loại nguyên nhân, như phong hàn, chế độ ăn uống, cảm xúc, mệt mỏi và như vậy gây ra đàm, để khi đàm khí giao nhau gây trở ngại, đàm theo khí đạo thăng lên, khí do đàm gây trở ngại, kết lại với nhau gây tắc nghẽn đường thở, phế quản vì thế mà hẹp lại, phế khí thăng giáng (lên xuống) không thuận lợi và gây khó thở, là chứng suyễn; Đồng thời khi khí ra vào, lại tiếp xúc với đàm đình tích trong khí đạo mà sản sinh ra tiếng rít của chứng hen suyễn. Trong {Chứng trị hối bổ}, Lý Dụng Túy đời nhà Thanh chỉ ra: “Háo vi đàm suyễn chi cửu nhi thường phát âm, nhân nhi nội hữu ủng tắc chi khí, ngoại hữu phi thời chi cảm, cách hữu giao cố chi đàm, tam giả tương hợp, bế cự khí đạo, bác kích hữu thanh, phát vi háo bệnh” (哮为痰喘之久而常发音,因而内有壅塞之气,外有非时之感,膈有胶固之痰,三者相合,闭拒气道,搏击有声,发为哮病。) Háo là đàm suyễn lâu ngày phát ra âm thanh, mà nguyên nhân là bên trong khí đạo có đàm nghẽn tắc, bên ngoài cảm thụ thời tiết bất thường, trong hoành cách có đàm keo đặc, cả ba nguyên nhân trên hợp lại, che lấp khí đạo, nên khi thở tạo thành âm thanh (tiếng rít của đàm) là chứng hen suyễn. Phần trên giải thích ngắn gọn rằng ba liên kết chính của cơn hen suyễn là không khí bị tắc nghẽn, cảm thụ khí hậu thất thường và nhiều đàm keo đặc.
Các thế hệ y học tin rằng các biến hoá bệnh lý của chứng hen suyễn chủ yếu tại tạng Phế, có liên hệ với tạng Tỳ và Thận, thời kỳ cuối của bệnh thì liên luỵ đến tạng Tâm. Vì thế, chứng hen suyễn phần lớn bệnh ở tạng phế với chủ yếu là tà thực, bệnh lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến tạng thận, chính khí (năng lực kháng bệnh) không đầy đủ. Nhưng bệnh này do tái phát nhiều lần, bệnh trình khá dài, trên lâm sàng thường xuất hiện hiện tượng hư tổn của cả ba tạnh Phế, Tỳ và Thận, khi bệnh nhân tái cảm thụ nhân tố dụ phát bệnh, bệnh tà mới cảm thụ dẫn động (khơi gợi) đàm dãi có sẵn (nội phục) làm cho đàm và khí giao nhau gây nghẽn tắc ở phế, và khi chứng hen suyễn phát tác thì có biểu hiện của hiện tượng tà thực chính hư đan xen hỗn tạp xuất hiện.
Nguyên tắc điều trị: “ Thực suyễn nghi khứ tà, hư suyễn nghi bồi bổ; Lãnh suyễn nghi ôn hoá hoặc tuyên tán, nhiệt suyễn nghi trừ đàm túc phế.” (实喘宜祛邪,虚喘宜培补;冷哮宜温化或宣散,热哮宜除痰肃肺.) Chứng thực suyễn nên trừ khứ bệnh tà, chứng hư suyễn nên bồi bổ, Chứng suyễn lạnh nên làm cho ấm áp, chứng nhiệt suyễn nên trừ đàm làm sạch phổi. Đó là đại pháp điều trị tiêu (ngọn), nhưng không nên bỏ căn bản. Bệnh nhân hen suyễn thường không đơn thuần là hư thực hàn nhiệt, mà phần lớn đều có biểu hiện là bản hư tiêu thực, hư thực hỗn tạp, vì thế việc phân biệt chính tà hư thực, sự khác biệt trước sau của tiêu bản (gốc ngọn) chính là điểm then chốt trong điều trị chứng hen suyễn.
{Đan Khê tâm pháp} của Chu Đan Khê đời Nguyên chủ trương: “Phàm cửu suyễn chi chứng, vị phát thời nghi phù chính khí vi chủ, dĩ phát dụng công tà vi chủ.” (凡久喘之症,未发时宜扶正气为主,已发用攻邪为主.) Phàm bệnh suyễn đã lâu ngày, khi chưa phát bệnh thì nên bồi bổ chính khí là chính, khi đã phát bệnh thì nên trừ khứ bệnh tà là chính. Và đã trở thành nguyên tắc trị liệu bệnh hen suyễn cho các y gia đời sau. Trên lâm sàng thường dùng phép khứ bệnh tà trước và phù trì chính khí sau, nhưng không được chỉ chú ý đến tiêu mà không chú ý đến bản, hoặc chỉ phù trì chính khí mà không đề cập đến tiêu chứng, vì bệnh hen suyễn thường thuộc bản hư tiêu thực, vì thế khi điều trị bệnh cần phải chú ý cả tiêu và bản. Đến như việc khứ tà và phù chính nhiều ít khác nhau thì cần phải tuỳ theo tình trạng khác biệt của từng người. Bệnh nhân ở tuổi thanh thiếu niên phần lớn thiên về nhiệt về thực, với chủ yếu là hội chứng của phế kinh; Bệnh nhân trung, lão niên thì thường thuộc hư suyễn, thường gặp hội chứng thượng thực hạ hư. Bệnh mới thường thuộc tà thực, bệnh cũ thường là chính khí hư tổn. Trên lâm sàng chỉ cần biện chứng chuẩn xác, trong điều trị, nếu nắm vững chính xác hư thực và chiếu cố cả tiêu và bản thì có thể thu được hiệu quả khá lý tưởng.
Chứng suyễn chỉ là bệnh biến ở phổi, có khác biệt gì với chứng hen?
Chứng suyễn là một loại chứng bệnh phổ biến ở trẻ em, bất luận là hư hay thực suyễn, đều chịu ảnh hưởng công năng tuyên phát và túc giáng ( Tuyên phát là hướng lên trên và lan toả, phân tán hướng ra ngoài) (túc giáng là hướng vào trong và hướng xuống dưới) của phế khí, từ đó mới phát sinh chứng khí suyễn. Nhưng chứng suyễn có phải chỉ vỏn vẹn là bệnh biến của riêng tạng phế không? Câu trả lời là không. Chứng suyễn, đặc biệt là hư suyễn, đồng thời không chỉ là bệnh biến ở tạng phế, bệnh này có quan hệ với tạng Can, Tỳ và nhất là với tạng Thận. Ngoại tà, đàm trọc, Can khí là những nhân tố của chứng thực suyễn, vì phế khí bị nghẽn tắc, liền phát tác chứng hen suyễn; Mà tình trạng tinh khí bị hư tổn sẽ dẫn đến chứng hư suyễn, chủ yếu đều do sự cố xuất khí của phế và nạp khí của tạng thận không như thường độ. Vì tạng thận là căn bản của khí, chủ quản về nhiếp nạp khí, vì thế thận hư yếu thì công năng nhiếp nạp suy yếu, không thể nạp khí về gốc, dẫn đến khí nghịch lên phổi, tạo thành chứng hen suyễn. Thận hư không chỉ làm cho khí nghịch lên phổi mà còn chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến dương của tạng tâm, dẫn đến tâm dương hư suy; Đồng thời bởi vì dương hư, thủy khí đình trệ bên trong, thậm chí chân dương (động lực công năng sinh lý của tạng thận) ngoại thoát và các bệnh tình khác cũng theo đó mà phát sinh.
Trong các tác phẩm y học Cổ truyền Trung Quốc trước thời Kim Nguyên, chứng suyễn và chứng hen không có sự phân biệt, tất cả đều được thảo luận trong “Suyễn xúc môn” (喘促门). Người đời sau thông qua thực tiễn không ngừng, dần dần phân biệt được sự khác biệt của hen và suyễn, điểm chính của chứng suyễn là hơi thở cấp bách và khó khăn, thậm chí mở miệng so vai, cổ họng không có tiếng khò khè, thường phát đồng thời trong nhiều loại bệnh cấp và mạn tính; Chứng hen đồng thời với hô hấp cấp bách và khó khăn là trong cổ họng có tiếng khò khè, bệnh có nguồn gốc lâu năm và là một loại bệnh phát theo từng đợt. Từ các đặc điểm trên, có thể hiểu sự khác biệt giữa hai loại hen và suyễn là: “Hen” được đặt tên theo âm thanh, “Suyễn” là nói về hơi thở của bệnh. Từ đó có thể thấy rõ ràng mối quan hệ giữa hai bệnh này là: Suyễn không kèm theo hen và hen tất phải kèm theo suyễn, vì thế thường gọi chung là hen suyễn.
Các đặc điểm của chứng hen và nguyên tắc điều trị là gì?
Đặc điểm của chứng hen, có tính khởi phát, bệnh phát đột ngột, cũng có thể có các chứng trạng báo trước như ngứa trong cổ họng, hắt hơi nghẹt thở, khó chịu trong ngực, khó thở …, sau đó bệnh phát tác rõ rệt, ngắn thì kéo dài 1 đến 2 giờ, hoặc 1 ~ 2 ngày, người cao tuổi có thể lên đến hơn 10 ngày. Khi phát tác người bệnh có cảm giác trong ngực phiền muộn cổ họng bị bó lại, hô hấp dồn dập, âm thanh hơi thở cao và thô, có tiếng đàm trong cổ họng, lượng đàm ít và dính, khó khạc đàm, thậm chí há miệng so vai, mắt trướng lên, như lồi ra, khó nằm ngửa, sắc mặt tái nhợt, môi xanh tím, phiền não bất an, trán đổ mồ hôi lạnh, hoặc kèm theo hàn nhiệt. Lúc này nếu có thể ho đàm nhớt ra, thì tức ngực có thể giảm bớt, hô hấp bắt đầu thông suốt, triệu chứng ho khò khè đàm cũng có thể tạm thời thuyên giảm. Từ biểu hiện nêu trên có thể thấy, lúc mới xuất hiện chứng này thuộc hiện tượng tà thực ở phế kinh và trị pháp là công tà làm chủ, có thể dùng phương pháp trừ đàm tuyên phế giáng nghịch. Tuy nhiên, đàm có hàn hoá, nhiệt hóa khác nhau, vì vậy, phải tiếp tục phân rõ chứng hen suyễn là do hàn lãnh hoặc là chứng hen suyễn do nhiệt gây ra, từ đó mới có thể đưa ra những phương pháp xử lý chính xác.
Nếu hen suyễn kéo dài, tái phát, phế khí ngày càng háo tán, chắc chắn sẽ tổn thương tạng tỳ và thận. Tỳ hư thì sinh ra đàm thấp (Tỳ hư thấp thịnh), không có nguồn sinh hoá, vệ khí không kiên cố, càng dễ dụ phát chứng hen suyễn (do cảm thụ ngoại tà). Thận hư không thể nạp khí, nên dù là bình thường, cũng có thể thấy xuất hiện chứng khó thở, thở gấp. Những hư tổn này của chính khí, là những biến hoá bệnh lý thuộc loại hình bệnh tà ít mà hư tổn thì nhiều, nhắc nhở mọi người khi điều trị bệnh nhân bị bệnh háo suyễn lâu ngày, không thể thiên lệch về hướng công trục bệnh tà, mà nên chú ý bồi bổ nhiếp nạp cho bệnh nhân, kèm theo phép lợi khí hoá đàm. Đến khi bệnh đã hoãn giải (giảm nhẹ), hoặc khi bệnh chưa tái phát thì nên căn cứ theo tình huống âm dương thiên thịnh thiên suy, tạng phủ mất điều hoà, phân biệt sử dụng các phép như bổ phế, kiện tỳ hoặc ích thận để giảm nhẹ chứng trạng hoặc kiềm chế bệnh phát tác, để dần dần đạt được mục đích điều trị tận gốc bệnh.
Nói chung, nguyên tắc điều trị chứng hen suyễn được phân thành bệnh đã phát và khi bệnh chưa phát, bệnh đã phát thuộc tà thực thì khi trị liệu nên dùng phép khứ trừ bệnh tà để trị tiêu (ngọn); Sau khi bệnh đã thuyên giảm, tình trạng cơ thể trong lúc này chủ yếu là chính khí hư tổn, vì thế khi trị liệu nên chú trọng phù trì chính khí để củng cố căn bản. Nếu có thể nắm bắt được những điều này một cách thích hợp, thì chắc chắn sẽ thu được hiệu quả tốt hơn khi điều trị chứng hen suyễn.
Làm thế nào y học Trung Quốc có thể phân biệt bệnh hen suyễn thuộc hàn nhiệt hư thực và nguyên tắc điều trị chủ yếu là gì?
Hen suyễn hàn tính: Khó thở khò khè, đàm dãi trong lỏng, đàm màu trắng có bọt, sắc mặt tối ám, không khát hoặc khát nhưng thích uống nước nóng, hoặc nóng lạnh mà không xuất mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc trắng nhờn, mạch phù khẩn.
Hen suyễn nhiệt chứng : Ngực nhô cao thở mạnh, âm thanh khò khè, đàm vàng đặc, ho khạc đàm không dễ dàng, trong ngực nóng, mặt đỏ, táo bón, khát thích uống nước lạnh, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch hoạt sác.
Chứng thực suyễn là do thực tà gây ra, chứng hư suyễn là do nguyên khí hư gây ra. Chứng thực suyễn có hơi thở dài, chứng hư suyễn hơi thở ngắn, ngắt quãng và không liền lạc; Chứng thực suyễn, ngực trướng hơi thở to thô, âm thanh cao, thở mạnh, trướng đầy không thể chịu nổi, thở ra rất nhanh; Chứng hư suyễn, kinh hoảng và hư nhược, âm thanh thấp bé thở ngắn, hoảng sợ như muốn đứt hơi, khi hoạt động thì chứng trạng càng tệ hại, thở dồn dập tựa như suyễn, sau khi hít một hơi dài thì chứng trạng tạm thời thuyên giảm.
Đối với nguyên tắc chung để điều trị hen suyễn ở trẻ em, thường phải nắm vững các điểm như : Bệnh chưa phát thì nên bồi bổ phù trì chính khí là chính, khi bệnh đã phát thì chủ yếu là trừ khứ bệnh tà, đó là đại pháp để điều trị chứng bệnh này. Hàn tà dùng phép ôn phế hóa đàm, đàm nhiệt dùng phép thanh nhiệt tuyên phế. Bệnh nhi hen suyễn khi phát tác cấp tính thì tà thực là chính, nên dùng phép khứ trừ bệnh tà để điều trị tiêu (ngọn), chú trọng điều chỉnh hai tạng Phế và Tỳ, thường dùng các phương pháp như tiêu trừ đàm, tuyên phế và giáng khí. Khi bệnh thuyên giảm thì chủ yếu thuộc chính khí hư, nên phù chính để củng cố căn bản, chú trọng bồi bổ hai tạng Tỳ và Thận, bổ thổ sinh kim để điều hoà công năng của tạng phủ, khứ trừ nguyên nhân sinh đàm, để hi vọng có thể giảm nhẹ hoặc ngăn chặn bệnh phát tác, dần đần đạt được mục đích điều trị tận gốc bệnh.
Bệnh hen phế quản được “Trị tiêu” (ngọn) như thế nào?
Bệnh hen do lạnh “冷哮” (Lãnh háo)_
1/ Biểu hiện lâm sàng: Thở gấp, trong cổ họng có tiếng khò khè, đàm trong lỏng và ít, màu trắng có bọt, ngực đầy ngột ngạt như bị che lấp, sắc mặt tối và xanh, miệng không khát hoặc khát mà thích uống nước nóng, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch huyền khẩn hoặc huyền hoạt.
2/ Trị pháp cơ bản: Ôn phế tán hàn, khoát (tiêu) đàm lợi khiếu
3/ Phương dược cơ bản: Xạ can Ma hoàng thang gia giảm.
Ma hoàng 6g, Xạ can 6g, Sinh khương 3 lát, Tế tân 3g, Tử uyển 9g, Khoản đông hoa 9g, Ngũ vị tử 3g, Bán hạ 9g, Đại táo 5 quả.
4/ Tùy chứng gia giảm: Đàm nhiều gia Quất hồng 9g, Bạch giới tử 9g, thổ đàm ít mà suyễn nhiều gia thang Tam tử dưỡng thân (Tô tử 9g, Bạch giới tử 9g, Lai bặc tử 12g) hợp với Đình lịch tử 9g. Tay chân lạnh, mạch yếu gia chế Phụ tử 9g, Can khương 6g; Ngứa họng hắt hơi nặng gia Tân di 9g, Thương nhĩ tử 9g; Bệnh nhân ghét lạnh nghẹt mũi gia Tô diệp 9g, Quế chi 9g, Xuyên khung 9g.
①Kèm theo ghét lạnh đau thân thể và các biểu chứng khác có thể chuyển sang dùng thang Tiểu thanh long (Ma hoàng 6g, quế chi 9g, tế tân 3g, Can khương 3g, ngũ vị tử 3g, Bạch thược 9g, Bán hạ 9g, Cam thảo 6g) để ôn phế hoá đàm dãi.
②Nếu nhiều đàm, ngực phiền muộn, vị quản bế tắc chán ăn thì có thể dùng thang Nhị trần (Trần bì 9g, Bán hạ 9g, Phục linh 9g, Cam thảo 6g, Ô mai 6g) để kiện tỳ ích khí hoá đàm.
③ Sau khi điều trị, biểu chứng đã được giải trừ và chứng suyễn đang dần dần ổn định thì có thể dùng thang Tô tử giáng khí (Tô tử 9g, Quất hồng 6g, Bán hạ 9g, Đương quy 9g, Tiền hồ 9g, Hậu phác 9g, Nhục quế 6g, chích Cam thảo 9g, Sinh khương 3 phiến, Đại táo 15g) để hoá đàm thuận khí.
④ Sau khi phát bệnh, nếu bệnh nhân ho có rất nhiều đàm bọt thì có thể dùng thuốc Lãnh háo hoàn (Ma hoàng, Hạnh nhân, Tế tân, Cam thảo, Đảm tinh, Bán hạ, Xuyên ô, Xuyên tiêu, Bạch phàn, Nha tạo, Tử uyển, Khoản đông hoa, Thần khúc, hoàn bằng hồ, uống bằng Sinh khương, mỗi ngày 6g) để ôn phế (ấm phổi) hoá đàm, có tác dụng thuyên giảm và trị bệnh triệt để.
Hen nhiệt tính
(1) Biểu hiện lâm sàng: khó thở, cổ họng khò khè, ngực phập phồng, hơi thở thô gấp, ho từng cơn, đàm vàng đặc dính, ho không thuận lợi, ngực và hoành cách trướng đầy, ph, mặt đỏiền muộn bất ankhó thở, mặt đỏ bừng khát nước. Miệng đắng thích uống, thân thể nóng đổ mồ hôi, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
(2) Trị pháp cơ bản: Tuyên phế thanh nhiệt, hoá đàm giáng nghịch.
(3) Đơn thuốc cơ bản: Việt tỳ gia Bán hạ thang
Ma hoàng 6g, thạch cao 15g, Sinh khương 3 lát, Bán hạ 9g, Cam thảo 3g, Đại táo 5 quả.
(4) Tuỳ chứng gia giảm: Nhiều đàm gia Đảm tinh 9g, Qua lâu 9g; Phát nhiệt gia Kim kiều mạch 9g, Bản lam căn 9g, Ngư tinh thảo 15g; Nếu phế âm đã tổn thương và vẫn còn đàm nhiệt thì khứ Ma hoàng gia Sa sâm 9g, Ngọc trúc 9g, Xuyên bối 6g
①Biểu chứng đã giải nhưng vẫn còn suyễn, trong phổi còn đàm nhiệt, ho có đàm vàng đặc có thể dùng Định suyễn thang (Ma hoàng 6g, Bạch quả 9g, Tang bạch bì 9g, Khoản đông hoa 9g, Bán hạ 9g, Tô tử 9g , Hoàng cầm 9g, Hạnh nhân 9g, Cam thảo 9g) Tuyên phế thanh nhiệt trừ đàm, trị suyễn.
② Nếu ho suyễn kèm theo đầy bụng, đại tiện khó khăn, hơi thở thô, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch trầm thực có lực thì có thể dùng phép công hạ bình suyễn, dùng Hậu phác Đại hoàng thang (Hậu phác 9g, Đại hoàng 6g, Chỉ thực 9g).
③Đối với những bệnh nhân hình thể và khí lực chưa hư tổn, khí suyễn mà đàm không ra được, chỉ ngồi mà không thể nằm có thể dùng Tạo Giáp hoàn (Tạo giáp dùng mật hoàn, dùng thang Táo cao để uống) Mỗi ngày 6g, để trừ đàm lợi khiếu.
④ Với chứng suyễn nhẹ, chính khí hư và đàm trọc chưa hết, có thể dùng Toàn phú đại giả thang (Toàn phú hoa 9g, Đại giả thạch 15g, Nhân sâm 6g, Cam thảo 9g, Bán hạ 9g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 9g, để phù chính giáng nghịch, thuận khí hoá đàm.
Làm sao để “trị tận gốc” bệnh hen phế quản?
Phế hư
(1) Biểu hiện lâm sàng: Chứng suyễn phát tác mỗi khi khí hậu biến hoá, thường thuộc tố chất sợ lạnh tự hãn (tự ra mồ hôi) hắt hơi trước khi phát bệnh, ngạt mũi chảy nước mũi trước khi lên cơn, rêu lưỡi mỏng, chất lưỡi to và mềm, mạch tế nhuyễn
(2) Trị pháp cơ bản: Bổ phế cố vệ.
(3) Đơn thuốc cơ bản: Ngọc Bình Phong tán kết hợp với Quế chi gia Hoàng kỳ thang.
Hoàng kỳ 12g, Phòng phong 6g,
Bạch truật 9g, Quế chi 6g,
Bạch thược 9g, Cam thảo 3g,
gừng 3 miếng, Đại táo 5 quả.
(4) Tuỳ chứng gia giảm: Ho suyễn tái phát nhiều lần thêm Đương quy 9g Kha tử 6g; Ho ra đàm trắng, thổ đàm không dễ gia Bán hạ 9g, Trần bì 9g, Tô tử 9g; Nếu thở ngắn đổ mồ hôi gia Nhân sâm 9g, Mạch môn 9g, Ngũ vị tử 9g; Hồi hộp ít ngủ gia Bách hợp 9g, Phục linh 9g, Viễn chí 6g; Khi chứng hen suyễn thì có thể uống Sâm Cáp tán 6g (Nhân sâm, Cáp giới) ích khí dưỡng phế phù trì chính khí.
Tỳ hư
(1) Biểu hiện lâm sàng: Thường ho có nhiều đàm, ăn không tiêu, bụng đầy trướng, mệt mỏi, phân nát hoặc ăn nhiều dầu mỡ, dễ bị tiêu chảy, thường do ăn uống không điều độ mà dụ phát bệnh, rêu lưỡi trắng mỏng,lưỡi to mềm, mạch hoãn nhược.
(2) Trị pháp cơ bản: Kiện tỳ hóa đàm
(3) Phương thuốc cơ bản: Lục quân tử thang.
Đảng sâm 9g, Bạch truật 9g, Phục linh 9g, Trần bì 6g, Bán hạ 9g, Cam thảo 3g.
(4) Gia giảm: Thân thể lạnh, chân tay lạnh phân lỏng, chân tay lạnh thì thêm Nhục quế 6g, Can khương 6g, Sơn dược 9g, Nhục đậu khấu 6g; Người có hơi thở ngắn sắc mặt nhợt nhạt yếu sức gia Hoàng kỳ 12g, Đương quy 9g, Bạch thược 9g, Long nhãn 6g.
Thận hư
(1) Biểu hiện lâm sàng: Khí nghịch dễ bị suyễn, hơi thở ngắn và gấp, đàm nhiều bọt trắng, khi hoạt động thì tim đập mạnh, lưng ê ẩm, tứ chi yếu mềm, hoa mắt vựng đầu ù tai, nam giới di tinh, xuất tinh sớm, tiểu nhiều đặc biệt là về đêm, nước tiểu trong, tiểu ít, rêu lưỡi trắng, chất lưỡi nhợt nhạt và mềm, mạch trầm tế vi.
(2) Trị pháp cơ bản: Bổ thận nạp khí.
(3) Đơn thuốc căn bản: Quế Phụ Bát Vị hoàn gia giảm.
Phụ tử 3g, quế chi 3g, địa hoàng 24g, ngưu tất 12g, Hoài sơn 12g, Phục linh 9g, Đan bì 9g, Trạch tả 9g, Tử hà sa phấn 3g (nuốt), Hồ đào nhục 9g, Bổ cốt chỉ 9g, Cáp giới 3g.
(4) Gia giảm: Thân thể lạnh, chân tay lạnh, suyễn nặng khi hoạt động gia Tử thạch anh 15g, Khảm khí (cuống rốn) 2 cái; Suyễn nặng tiểu tiện mất tự chủ gia Ngũ vị tử 6g, Ích trí nhân 9g, Trạch tả 9g, Long cốt nướng 15g, Mẫu lệ chín 30g, phân lỏng gia Can khương 6g, Nhục đậu khấu 9g, Bạch truật 9g, Phục linh 9g; Suyễn nặng, xuất mồ hôi như dầu gia Nhân sâm 6g, Ngũ vị tử 9g, Đại giả thạch 15g.
Đề cương biện chứng luận trị bệnh hen suyễn là gì?
(1) Biện chứng luận trị khi bệnh khởi phát
① Hàn suyễn (Hen do lạnh)
Chứng suyễn do lạnh (hàn suyễn) phổ biến hơn chứng suyễn do nhiệt (nhiệt suyễn), bệnh tái phát và dai dẳng (ngoan cố) thường gặp ở những người bị chứng hàn suyễn và kèm theo dương hư. Loại bệnh này khi khởi phát thì suyễn, hơi thở cấp bách, trong họng có tiếng khò khè, đàm trắng loãng, tức ngực, thở gấp, sắc mặt xám xịt, không khát, hay thích uống nước ấm. Rêu lưỡi trắng hoặc trắng nhầy, mặt lưỡi trơn ướt, nhiều nước. Mạch huyền hoạt hoặc phù khẩn.
Trị pháp: Ôn phế hoá đàm
Phương dược đề cử: Các phương như Tiểu thanh long thang hoặc Xạ can ma hoàng thang. Dù hai phương này đơn giản, nhưng qua ứng dụng điều trị thu được hiệu quả hoá đàm trị suyễn khá rõ rệt. Với thang Tiểu Thanh long (Ma hoàng, Quế chi, Thược dược, Cam thảo, Tế tân, Can khương, Ngũ vị tử, Bán hạ) xuất từ {Thương hàn luận}, {Kim quỹ yếu lược}, thường dùng để điều trị suyễn do lạnh (hàn suyễn), là phương thang khá tốt có tác dụng trừ lạnh ở bên ngoài (tán ngoại hàn) và trừ khứ đàm dãi ở bên trong. Đối với các bệnh về đường hô hấp, đặc biệt là ho và hen suyễn, Y học cổ truyền thường nhắc đến đàm và dịch (đàm ẩm), trong khi các sách Đông y thường so sánh giữa đàm và dịch, chẳng hạn như “Tích thuỷ thành ẩm, ẩm ngưng thành đàm” (积水成饮,饮凝成痰) Tích thuỷ thành ẩm (đàm loãng), ẩm ngưng tụ lại thành đàm. Có thể thấy đàm và ẩm đều phát sinh do có quá nhiều thuỷ thấp trong cơ thể, chỉ là đàm đặc và dính hơn ẩm và ẩm thì trong lỏng hơn đàm, gọi chung là đàm ẩm.
Bệnh hen suyễn có liên quan mật thiết hơn với đàm ẩm. Người xưa từ lâu đã chỉ ra rằng nguyên nhân gây ra bệnh hen suyễn là do “Đàm ẩm nội phục, kết thành khoà cữu” (痰饮内伏,结成窠臼) Đàm ẩm phục ở trong, kết thành khuôn ổ. Vì vậy, khi điều trị bệnh hen suyễn, cần phải chăm chỉ dùng thuốc hoá đàm ẩm. Lâm sàng thường dùng thang Tiểu thanh long phối hợp với Tam tử dưỡng thân thang gia giảm, phương thang gồm: Ma hoàng 6-9g, Tế tân 3g, Can khương 3-6g, Bán hạ 9-12g, Ngũ vị tử 3g, Cam thảo 3-6g, Tô tử 9g, Bạch giới tử 9~12g. Phương trên dùng điều trị suyễn hàn tính, luôn thu được hiệu quả bình suyễn, hóa đàm. Để áp dụng những điều trên, cũng phải nắm vững những điểm chính sau: ① Vị Ma hoàng là vị thuốc chủ yếu chữa bệnh hen suyễn (tuyên phế bình suyễn). Sản phẩm này có hai dạng là dùng sống và nướng, liều lượng dành cho người lớn là: 6-9g đối với dạng sống, khoảng 9g đối với dạng nướng, liều lượng có thể tăng lên tùy theo nhu cầu. Liều trẻ em nên giảm theo liều người lớn. Tuy nhiên, trẻ em bệnh suyễn phát triển nhanh, nhất là đối với những trường hợp cá biệt cứng đầu, nên dùng ma hoàng lại để tuyên phế, cắt cơn suyễn. Có người cho rằng: Cơn suyễn cấp tính thường ra mồ hôi đầm đìa, trường hợp ra nhiều mồ hôi lại trọng dụng Ma hoàng, sợ rằng “Hãn xuất vong dương” (Hư thoát) (汗出亡阳”(虚脱)) Xuất mồ hôi thoát dương. Trên thực tế, lo lắng này là không cần thiết, hầu hết bệnh nhân đổ mồ hôi ít hơn khi bệnh hen thuyên giảm. Có thể thấy ra mồ hôi đầm đìa là do cơn suyễn lên cơn, khi cơn suyễn ngừng lại thì cũng ngừng ra mồ hôi. Ứng dụng của cây Ma hoàng ở đây không phải để phát hãn giải biểu, mà là một phương pháp điều trị bệnh hen suyễn, phù hợp với nguyên tắc điều trị gốc rễ của bệnh (Trị bệnh cầu bản). Còn những bệnh nhân bị suyễn do lạnh (hàn suyễn) kết hợp với chứng dương hư ra nhiều mồ hôi thì đơn thuốc có sự khác biệt, vàt vấn đề sử dụng phương dược sẽ được thảo luận ở phần dưới. ②Liên quan đến việc ứng dụng gia giảm phương dược nêu trên: Đơn thuốc này lấy 6 vị thuốc của thang Tiểu thanh long là Tế tân, Ma hoàng, Can khương, Bán hạ, Ngũ vị tử, Cam thảo, có tác dụng ấm phổi trị ho, hoá đàm trị ẩu thổ, nạp khí hoà trung, lại dùng thang trừ đàm chủ yếu là Thang Tam tử dưỡng thân (Tô tử, Bạch giới tử, Lai bặc tử) có tác dụng giáng khí khoát (vét) đàm, có thể tăng cường công dụng trị suyễn hoá đàm của thang Tiểu thanh long. ③Thận hư kiêm dương hư, thường tuyển dụng vị Phụ tử để ôn dương.
②Nhiệt suyễn (suyễn do nhiệt)
Loại hình bệnh này chủ yếu do đàm nhiệt tích tụ ở phổi. Thường dùng thang Ma Hạnh Thạch Cam được sử dụng làm đơn thuốc chính cộng với các loại thuốc thanh nhiệt hoá đàm. Người bị nhiệt nhẹ có thể dùng Định suyễn thang. Khi đàm nhiệt tích chứa ở phổi, âm khí bị hư tổn, có thể dùng Ma Hạnh Thạch Cam thang gia Hoàng cầm, Qua lâu nhân, Bối mẫu để thanh phế hoá đàm bình suyễn, lại gia thêm Sa sâm, Mạch đông, Ngọc trúc để ích âm sinh tân dịch.
Nếu biện chứng thấy bên trên là đàm nhiệt tích chứa trong phổi, bên dưới là thận dương hư tổn, thận không nạp khí, có thể dùng phương pháp “Thanh thượng ôn hạ” (清上温下) trên mát dưới ấm áp, dùng Ma Hạnh Thạch Cam thang gia Phụ tử, Hắc tích đan.
2/ Biện chứng luận trị thời kỳ hoãn giải của chứng hen suyễn
Người xưa từng chỉ rõ: Đối với bệnh chứng này, nên hiểu và phải ghi nhớ đến nguyên khí, phải bồi bổ cho nguyên khí ngày càng sung túc, ngõ hầu có thể hy vọng bệnh khỏi dần. Chính là có ý nói chỉ có thể điều trị bệnh này thông qua phù trì chính khí và củng cố căn bản của cơ thể, có khả năng khiến “Nguyên khí tiệm sung” (元气渐充) Nguyên khí dần dần đầy đủ, để đạt được mục đích điều trị tận gốc bệnh.
① Phế hư
Thường do khí ôn (ấm) biến hoá mà gây bệnh, tố chất bệnh nhân loại hình phế hư thường dễ bị cảm lạnh, sợ lạnh dễ đổ mồ hôi. Thường dùng thuốc bột Ngọc bình phong tán, nếu hiệu quả không tốt, có thể dùng thang Ngọc bình phong tán gia Quế chi để điều trị.
②Tỳ hư
Những bệnh nhân ăn ít, khó chịu ở dạ dày, trướng bụng, đi ngoài phân nát thường chọn thang Nhị trần gia Đảng sâm, Bạch truật. Nếu thấy bên trong có đàm thấp thì gia Thương truật, Hậu phác để kiện vận tỳ hoá thấp. Nếu thấy chân tay lạnh, phân lỏng, nước tiểu trong và nhiều, phải làm theo phương thang Lý Trung , gia thêm Thục phụ tử và Can khương (hoặc Pháo khương) để trợ dương, vận tỳ.
③ Thận hư
Nếu là chứng thận dương hư thì dùng Kim Quỹ Thận Khí hoàn, thận âm hư thì dùng Lục vị địa hoàng hoàn hoặc Tri bá bát vị hoàn.
Trên lâm sàng có nhiều vị thuốc ôn thận, như Nhục quế, Phụ tử, Lộc nhung, Kỷ tử, Cáp giới, Lưu huỳnh, Tiên mao, Tiên linh tỳ , Phá cố chỉ Ba kích thiên, v.v. Trong số đó, Phụ tử thường được sử dụng khá phổ biến: ①Phụ tử kết hợp với Can khương có thể chữa được chứng dương hư trúng hàn; ② Phụ tử phối Thương, Bạch truật chủ trị tỳ thận dương khí của tỳ và thận không đầy đủ, đàm thấp tích chứa ở bên trong; ③Phụ tử phối Ma hoàng, Tế tân dùng trị chứng ho suyễn kèm theo chứng trạng dương hư rõ rệt; ④Phụ tử phối Sinh địa, Ngũ vị tử có công dụng thiên về ôn thận nạp khí, dùng trong trường hợp hơi thở ngắn và không đầy đủ; ⑤Phụ tử phối Long cốt, Từ thạch để dẫn hoả quy nguyên; Phụ tử phối Hoàng cầm, Thạch cao trị thận dương hư kiêm đàm nhiệt tắc nghẽn trong phổi.
(3) Đặc điểm phòng bệnh và điều trị bệnh hen suyễn
①Bảo vệ phế khiếu: Bệnh nhân hen suyễn cần chú ý phòng ngừa cảm lạnh và điều trị kịp thời các bệnh viêm mũi, viêm họng, dị ứng ngoài da.
②Thông khí đạo (đường thở): Đàm cản trở cơ chế dẫn khí, đường thở không thuận lợi nên phải kịp thời thực hiện phương pháp tiêu đàm giảm viêm, thông khí phổi, hóa đàm.
③ Bổ Tỳ Thận: Bổ tỳ thận, đặc biệt là ôn thận ích dương, là phương pháp thăm dò nguồn gốc của phòng và trị bệnh hen suyễn.
④Ba bài tập: Tức là thường xuyên thực hiện ba bài tập chống lạnh, rèn luyện thể chất và hít thở để không ngừng nâng cao thể chất và cải thiện chức năng phổi.
Tại sao cần phải nhận rõ hư thực trong việc điều trị bệnh hen suyễn?
Hen phế quản là nói đến hống háo (hơi thở khò khè và thô), bệnh của nó là do phế đạo nghẹt tắc, dịch tích tụ thành đàm, hàn ẩm (dịch lạnh) cùng đàm nóng tích tụ ở phổi, thường do ngoại tà hoặc chế độ ăn uống kích phát, lặp đi lặp lại nhiều lần. Lâu ngày làm ngực phình to, khó thở gọi là phế trương, cho nên có thuyết “Háo tất kiêm suyễn, nhi suyễn vị tất kiêm háo” (哮必兼喘,而喘未必兼哮) Hen tất kèm theo suyễn, mà suyễn vị tất kèm theo hen. Đối với việc điều trị bệnh hen suyễn, việc đầu tiên là cắt cơn, cần xem xét rõ ràng hư thực, Biện chứng hư thực, chủ yếu ở âm hưởng, hơi thở.
Thực chứng sẽ thấy bệnh khởi phát cấp bách, bệnh trình (quá trình bệnh) ngắn, hơi thở dài có thừa, hoặc có âm thanh của đàm, ngực trương hơi thở thô, duy chỉ thở hơi ra nhanh chóng. Trị liệu chủ yếu là tả thực, có thể dùng Bạch quả nhân, Ma hoàng, Khoản đông hoa, Phong hưu, Bán hạ, Tang bạch bì, Tô tử, Đình lịch tử, Đại táo, Xà đảm, Trần bì mạt, Địa long. Sau khi uống thuốc 2 giờ, nếu hen suyễn chưa giảm, có thể sắc uống lại lần nữa.
Hư chứng có quá trình bệnh khá dài, khi bệnh phát tác có âm thanh của đàm, lồng ngực phiền muộn khó thở, bệnh nhân không thể nằm ngửa; Sau khi bệnh phát tác hơi thở ngắn không liền lạc như muốn đứt đoạn, thở cấp bách là chứng suyễn, nhưng thở rất nhanh, khi phát tác nên dựa theo thượng thịnh hạ hư (thượng thực hạ hư) để nhận xét và xử lý, có thể dùng Tô tử, Đình lịch tử, Quất bì, Bán hạ, Đương quy, Tiền hồ, Trầm hương, Xuyên phác, Chích thảo, Đại táo. Sau khi phát bệnh nếu là hư chứng thì dùng phép bổ để điều trị, chủ yếu là kiện tỳ bổ thận.
YHCT điều trị bệnh hen suyễn như thế nào?
Cơ chế phát bệnh của chứng hen suyễn chi khí quản, chủ yếu là do đàm phục (có sẵn) ở trong phổi, phế khí không thuận lợi mà gây bệnh, bệnh có sự khác biệt như hàn, nhiệt và hư, nhưng phần nhiều thuộc hàn chứng. Lại như bệnh hen tái phát không ngừng, thường dẫn đến thận dương suy yếu, thuỷ tràn lan thành đàm, hoặc âm hư hoả thăng, thiêu đốt dịch thành đàm. Hen do lạnh là chứng khá thường gặp, chứng này bệnh nhân hô hấp cấp bách, trong họng có tiếng đàm, đàm trong lỏng, ngực, hoành cách mô đầy trướng phiền muộn, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch phù khẩn.
Trị pháp: Ôn phế tán hàn, khoát đàm lợi khiếu
Xử phương: Phí thị nga lê thang. Hạnh nhân, Tô tử, Lâu nhân, Bán hạ đều 9g, Quất hồng 4,5g, Phục linh 9g, một ly nước ép quả lê, Chung nhũ thạch 12g, Ma hoàng 6g, Tang bì 9g, Đương quy 6g, sắc uống.
Chú giải: Phương thang này sử dụng Hạnh tô, Nhị trần gia Tang bì giáng khí trừ đàm, Ma hoàng giải biểu tán hàn, Lê trấp ngọt lạnh nhuận phế, Chung nhũ thạch ngọt ấm trợ dương, Đương quy hoà huyết. Toàn phương thang có tác dụng chủ yếu là trừ khứ bệnh tà và trong đó cũng có bổ dưỡng, chủ yếu là khứ hàn, nhưng trong ấm áp có tư nhuận, phối hợp tinh diệu, nên được dùng để trị chứng hàn suyễn.
Phép Bình can giáng nghịch lý khí khoát đàm điều trị chứng suyễn nghịch khạc đàm khó khăn, rêu lưỡi vàng nhầy. Phương thang có: Xuyên bối 6g, Hạnh nhân 9g, Bán hạ 9g, Quất hồng 4.5g, Trúc lịch 30g, Sinh khương trấp 10 giọt, Toàn phú hoa 6g, Tử thạch anh 12g, Tây dương sâm 6g, Cáp giới vĩ 6g, Bạch tật lê 9g, Ti qua lạc 6g, sắc uống. Trong bệnh này hai tạng phế và thận đều hư yếu, vì thế dùng Tây dương sâm để bổ phế khí, Cáp giới nạp thận khí, lại dùng Hạnh, Bối, Hạ, Trần Trúc lịch, Toàn phú hoa, Thạch anh thanh nhiệt, trừ đàm để trị tiêu (ngọn), phương thang thoả đáng, dùng để điều trị chứng hen suyễn hư nhiệt sẽ thu được hiệu quả nhất định
“Trị suyễn bát pháp” là gì”
Tám phương pháp điều trị bệnh hen suyễn là gì?
1/ Tuyên phế tán hàn, giải biểu hoá ẩm
Phế là tạng khí thanh hư (trong trẻo và trống rỗng), cả tạng đều linh hoạt, để hấp nhập khí, chủ về năng lực thở ra trọc khí, cơ chế vận động là thở ra thông sướng. Bệnh tà phong hàn theo da lông xâm nhập cơ thể, bên trong hợp với phổi, hoặc phục trong đàm dãi, đều có thể khiến cơ chế vận động bị nghẽn tắc, không tuyên giáng (lan toả và giáng xuống) mà nghịch lên gây suyễn. Nếu suyễn súc lồng ngực phiền muộn, khạc đàm trong lỏng, chảy nước mũi trong, lạnh nóng không xuất mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn. Điều trị nên dùng phép Tuyên phế tán hàn, chỉ khái định suyễn, dùng thang Ma hoàng chủ trị bệnh này. Với chứng biểu thực lý uất điều trị nên giải ngoại tà, nên dùng Ma hoàng, Quế chi để phát hãn, Hạnh nhân túc (làm sạch) tạng phế, đồng thời có Cam thảo để phụ giữ âm dịch, là cách thiết lập phương thang đối với chứng biểu thực. Đối với những bệnh nhân có tố chất âm thịnh thì khi bị ngoại tà xâm phạm tất sẽ dẫn động ẩm (thấp) tiềm phục, nếu lạc mạch của phế bị nghẹt tắc, phế khí không thể túc giáng ( không trong sạch và không thể giáng xuống) khí nghịch lên thành hen suyễn. Xuất hiện khí suyễn, ho suyễn, trường hợp nặng bệnh nhân phải ngồi để thở vì không thể nằm, đàm trắng trong lỏng hoặc lẫn nhiều bọt, ghét lạnh phát sốt, không xuất mồ hôi, không khát, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch phù khẩn hoặc hoạt, điều trị nên giải biểu tán hàn, tuyên phế hoá ẩm, dùng thang Tiểu thanh long gia vị của Trọng Cảnh tiên sinh. Với trường hợp ngoại hàn nội ẩm, đồng thời xâm phạm phổi, nên dùng thang Ma hoàng khứ Hạnh nhân để phát hãn giải biểu, đồng thời gia Ngũ vị tử, Can khương, Tế tân, pháp Bán hạ, Bạch thược, Tô tử, Bạch tiền để ôn phế trị ho, giáng khí bình suyễn mà trừ ẩm.
2/ Tán hàn thanh nhiệt, giáng nghịch bình suyễn
Vốn đã có đàm ẩm suyễn ho, lưu phục trong phổi, lại cảm thụ ngoại tà, nguyên nhân trong ngoài hợp lại cản trở phế khí, bên ngoài hành lãnh, bên trong uất nhiệt, đàm ẩm kết lại, biểu lý (trong ngoài) cùng bị bệnh. Người bệnh hen suyễn, mắt như lồi như muốn rơi ra ngoài, thổ ra đàm màu vàng, ớn lạnh phát sốt, đau đầu không xuất mồ hôi, khát nước, chất lưỡi hồng, mạch phù hoạt sác. Điều trị dùng phép giải biểu tán hàn, thanh phế hoá đàm, thang Việt tì gia Bán hạ chủ trị bệnh này. Với nhiệt ẩm bốc lên huyệt Hoa cái, nội nhiệt đầy rẫy, mà ở thế dụ phát nhưng không xuất ra được nên bệnh nhân khó chịu dị thường, vì thế với Sinh khương hỗ trợ Ma hoàng giải trừ khổ não ở phổi, Bán hạ giáng nghịch tiêu trừ đàm ẩm, Thạch cao sông cay ngọt lạnh, thanh nhiệt thấu quá biểu, hàn lãnh mà không ngưng trệ, thêm Cam thảo, Đại táo để an trung điều hoà chư dược (các vị thuốc). Vì nhiệt nặng hơn ẩm (dịch), vì thế trọng dụng Thạch cao, nếu ẩm nặng hơn nhiệt thì không nên (trọng dụng Thạch cao). Nếu nhiều đàm ẩm, biểu bế uất nhiệt khá nhẹ, ho mà ngực trướng đầy, mạch phù, có thể dùng Hậu phác Ma hoàng thang, là phương Ma Hạnh Thạch Cam thang khứ Cam thảo dùng Tiểu mạch, dùng Hậu phác trừ đầy trướng và hạ khí, Bán hạ, Can khương, Tế tân hoá ẩm trị ho, Ngũ vị tử thu liễm phế khí. Đàm đặc dính, ho khí nghịch lên trên, thường thổ ra đàm trọc, chỉ ngồi mà không thể nằm nên dùng Tạo giáp hoàn thanh tiết (thanh khí tiết đàm), khi đàm được trừ khứ, khí trong trẻo thì phế tự ninh (bằng an).
3/ Thanh nhiệt hoá đàm tuyên phế bình suyễn
Vì ngoại tà xâm phạm cơ thể, nhập lý (bên trong) hoá nhiệt, hoặc do ẩm thực, ăn nhiều thực phẩm ngọt béo, tích thấp sinh nhiệt, ảnh hưởng đến phế, hoặc tố chất của tạng phế uẩn chứa nhiệt, nhiệt luyện tân dịch biến thành đàm, đàm nhiệt gây nghẽn tắc trong phổi, nhiệt không tiết ra được, đều có thể dẫn đến phế khí nghịch lên gây ra hen suyễn. Biểu hiện là hô hấp cấp bách, trong họng có tiếng khò khè, khạc đàm vàng đặc, hoặc đàm trắng dính, khát thích uống nước, mặt đỏ tự hãn, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng nhầy, mạch hoạt sác. Điều trị nên thanh nhiệt hoá đàm, tuyên phế bình suyễn, thường dùng Ma hoàng thạch cam thang gia vị chủ trị bệnh này. Trong phương tuy có vị Ma hoàng vị đắng cay và tính ấm, phối với Thạch cao cay ngọt tính lạnh, tương tu tương tế (phối hợp, hỗ trợ nhau), nên có công dụng tân tán (vị cay thì tán), mà tránh được tình trạng tân táo (cay thì khô khan)
huống hồ lại có vị Cam thảo có lực hoãn giải mãnh liệt, Hạnh nhân tuyên tán nghẽn tắc, hợp với công năng sinh lý tuyên giáng của tạng phế, để hướng theo đà phát triển; Gia Qua lâu, Tang bì, Chiết bối, Tiền hồ, Trúc nhự, là những vị thuốc thanh kim (phế kim) hoá đàm trị ho rất tốt, là diệu dược cực phẩm để điều trị chứng đàm nhiệt trong phổi; Vị Cát cánh tân tán khổ tiết (Cay đắng tán và tiết bệnh tà) dẫn đàm ra ngoài. Hợp lại có tác dụng trừ (tuyên tiết) uất nhiệt, thanh (mát, sạch) phế trị suyễn, khiến cho phế khí được lan toả (tuyên thông), lý nhiệt đắc thanh (trừ nóng nhiệt ở bên trong) nên các chứng ho suyễn tự khỏi. Nếu nhiều đàm hơi thở cánh mũi phập phồng nhiều, có thể gia Đình lịch tử, Tì bà diệp để trong sạch phế khí; Nếu đại tiện bí kết (táo bón), gia Đại hoàng, Mang tiêu để tả nhiệt thông tiện.
4/ Khai uất khoát đàm, giáng khí bình suyễn
Bệnh lâu ngày tinh thần không vui, ưu tư nên khí kết, phế khí bị trở ngại bế tắc, khí cơ không thuận lợi hoặc uất giận tổn thương gan, can khí nghịch lên phế, phế khí không thể giáng xuống, thăng lên nhiều mà giáng xuống ít nên khí nghịch lên tạo thành chứng hen suyễn. Là chứng đột nhiên xuất hiện hô hấp ngắn và cấp bách, ho khạc đàm, ho dẫn đến váng đầu đau cạnh sườn, khó chịu trong họng, lồng ngực phiền muộn không thoải mái, kèm theo mất ngủ, hồi hộp tim đập mạnh, rêu lưỡi trắng, mạch huyền.
Trị pháp: Hành khí giải uất, giáng nghịch bình suyễn.
Xử phương: Việt cúc hoàn hợp Bán hạ Hậu phác thang gồm: Hương phụ điều khí sơ can (điều tiết), giải khí uất, Thương truật, Phục linh, pháp Bán hạ có tác dụng táo thấp kiện tỳ, tán kết hoá đàm, Xuyên khung hành khí hoạt huyết, Chi tử thanh nhiệt trừ phiền, Xuyên phác giáng khí trừ mãn (đầy trướng), Tô diệp khoan trung giải uất, Sinh khương giáng nghịch tán hàn, Kiến khúc tiêu thực hoà vị (điều hoà dạ dày). Phối hợp các vị thuốc trên để điều trị tận gốc bệnh, không trị suyễn mà suyễn tự hết, có thể gọi đây là phương pháp điều trị phù bản cầu nguyên (Bồi bổ căn bản để trị bệnh). Nếu hồi hộp tim đập mạnh, mất ngủ gia Bách hợp, Dạ giao đằng, Viễn chí để ninh tâm an thần; Nếu khí uất hoá hoả, hoả tà hình kim (hoả khắc kim), khí nghịch ho suyễn, có thể dùng Tả bạch tán gia tượng Bối mẫu, Tì bà diệp để túc giáng phế khí, tăng cường hiệu quả thanh nhiệt định suyễn của thang dược.
5/Ích khí dưỡng âm, nhuận phế bình suyễn
Suyễn là chứng khí nghịch lên, thường thấy nhiều đàm, nhưng cũng thường gặp bệnh suyễn không có đàm, đó là do bệnh hen suyễn lâu ngày, khí và âm của phế bị tổn hại nên khí bị ảnh hưởng, xuất hiện suyễn súc thở ngắn, thở yếu âm thanh hơi thở nhỏ thấp, âm thanh ho yếu ớt, hoặc ho ít đàm, phiền nóng, miệng khô, cổ họng không thận lợi, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi bị bong tróc hoặc ít tân dịch, mạch nhuyễn nhược hoặc tế sác. Trị hư chứng thì dùng các vị thuốc ngọt lạnh mát nhuận, ngọt và lạnh chủ yếu là nuôi dưỡng âm, chú ý ích khí dưỡng âm, nhuận phế trị suyễn, thường dùng Sinh mạch tán hợp Bách hợp cố kim thang gia vị là chính. Trong phương có Sinh mạch tán toan cam hoá âm (ngọt chua hoá âm), ích khí dưỡng âm, lại có Mạch đông, Bách hợp sinh tân dịch nhuận phế: Nhị địa, Huyền sâm tư âm thanh nhiệt; Đương quy , Bạch thược nhu (mềm) can dưỡng huyết; Bối mẫu, Cát cánh mát phế hoá đàm, Tì bà diệp, Tang bì hoá đàm túc (làm sạch) phổi; Cam thảo hiệp điều các vị thuốc. Hợp dụng có thể khiến khí và tân dịch sung túc, hư hoả tự hết, đàm hoá nhiệt thoái, chứng phế hư háo suyễn tự hết. Nếu sốt nhẹ hoặc phiền nóng ngũ tâm (lòng bàn tay, chân và ngực gọi là ngũ tâm), gia Địa cốt bì, Bạch vi, Tri mẫu; Đàm dính khạc đàm không thuận lợi, gia Hải cáp phấn; Ho rất nhiều, trong đàm có máu, gia Bạch mao căn, Ngẫu tiết để thanh nhiệt mát máu, cầm máu. Loại hình bệnh hen suyễn này sau khi uống thuốc đạt được hiệu quả, nên lập tức điều dưỡng tỳ vị. Vì thổ là mẹ kim (Tỳ thổ sinh phế kim), sau khi thanh kim (con) phải chiếu cố đến mẹ, tỳ thổ vượng thì sinh phế kim, thể lực sẽ dễ dàng khôi phục.
6/ Kiện tỳ bổ phế, hoá đàm định suyễn
{Tố vấn · Khái luận} viết: “Thử giai tụ vu vị, quan vu phế, sử nhân đa thế thoá nhi diện phù thũng khí nghịch dã.” (此皆聚于胃,关于肺,使人多涕唾而面浮肿气逆也。) Đều tụ ở dạ dày, liên quan đến phổi, khiến cho người này nhiều nước bọt dãi, mặt phù thũng khí nghịch. Tỳ vị là căn bản của hậu thiên, chủ vận hoá, vận chuyển vật chất tinh vi nuôi dưỡng toàn thân, nếu ăn nhiều thực phẩm béo ngọt sống lạnh, hoặc tổn thương vì uống nhiều rượu làm cho tạng tỳ vận chuyển kém khiến tinh khí của thuỷ cốc tụ lại thành đàm, tạng tỳ hư tổn ảnh hưởng tạng phế nên đàm trọc nghịch lên, thăng giáng không thuận lợi mà thành chứng hen suyễn. Trường hợp tạng tỳ hư tổn nên tụ thấp thành đàm mà gây bệnh hen suyễn, khi gặp loại hình bệnh này cần linh hoạt phân biệt rõ vị trí chính yếu và thứ yếu của bệnh và năng lực kháng bệnh (còn gọi là tà khí và chính khí). Nếu ho suyễn nhiều đàm dính, khó khạc đàm, trong ngực khó chịu, miệng dính không muốn ăn uống, rêu lưỡi trắng nhầy, mạch hoạt.
Trị pháp: Kiện tỳ táo thấp, lý khí hoá đàm
Xử phương: Nhị trần thang hợp Tam tử dưỡng thân thang. Trong thang Nhị trần có tác dụng trừ đàm rất tốt nhất là với chứng đàm thấp. Phối với Tô tử, Bạch giới tử, sao Lai bặc tử, Tử uyển, Khoản đông hoa có tác dụng trị ho trừ đàm, giáng nghịch định suyễn; Thương truật, Ý rĩ tăng cường tác dụng kiện tỳ táo thấp, để khứ trừ nguồn gốc của đàm.
Nếu do tạng tỳ suy yếu, phế khí lại hư, tuy ho suyễn bất định, nhưng bệnh nhân tinh thần yếu mệt, thở kém, sắc mặt không tươi, tự hãn, mạch yếu nhược, không có thực chứng. Điều trị nên ích khí kiện tỳ, bồi thổ sinh kim. Dùng thang Lục quân tử gia vị. Dược như Thái tử sâm, chích Cam thảo bổ khí của tỳ và phế, Bạch truật, Phục linh kiện tỳ, pháp Bán hạ, Quất hồng bì hoá đàm. Tự hãn gia Hoàng kỳ, Phù tiểu mạch để cố biểu liễm mồ hôi; Ắn ít, phân nát gia Ý rĩ, Liên nhục, Sa nhân, Tiêu tam tiên kiện tỳ khai vị; Nếu trung khí hạ hãm, châm chước gia Hoàng kỳ sống có tác dụng ích khí cố biểu để chứng hư suyễn tự khỏi.
7/ Bổ phế cố thận, nạp khí định suyễn
Tạng Phế là chủ của khí, thận là gốc của khí. Phế khí giáng xuống là thuận, thận khí kiên cố là tàng trữ. Ho lâu ngày tạng phế bị tổn hại, phế khí không đầy đủ, không làm chủ được khí, làm việc quá độ làm cho tạng thận bị tổn thương, tinh khí bị tổn hại, căn bản không kiên cố vững vàng, công năng nhiếp nạp (hấp thu tiếp nhận) suy yếu, khí nghịch lên trên, đều có thể gây thành bệnh hen suyễn. Chứng hen suyễn lâu ngày, khí ngắn không đủ để thở, thở ra nhiều hít vào ít, hoạt động là suyễn tăng nặng, hơi thở yếu và ngắn, thanh âm nhỏ bé, nhiều đàm trong lỏng, eo gối mềm yếu, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế, đây là chứng hen suyễn của phế thận khí hư. Bệnh ở trên cầu tìm ở dưới, phế chủ khí mà về trú ngụ ở tạng thận, thận không nạp khí mà gây thành hen suyễn, chỉ có thể phủ phục chứ không thể nằm ngửa, là chứng bất túc (hư chứng). Sử dụng Nhân sâm bổ phế khí lực mạnh nhất, Cáp giới ôn thận khí tốt nhất, hai vị phối ngẫu để song bổ phế thận, đồng thời hàm ý kim thuỷ tương sinh. Phục linh, Chích Cam thảo hoà trung kiện tỳ, Hạnh nhân, Chiết bối hoá đàm hạ khí, Tri mẫu, Tang bạch bì tả phế thanh kim, gia Hồ đào, Ngũ vị tử, sao Bạch quả, để tăng cường công hiệu bổ thận liễm phế nạp khí định suyễn. Nếu phế thận âm hư, có các chứng trạng như ho, khí hư và mặt đỏ, có thể dùng Đô khí hoàn gia giảm, gia thêm dược phẩm thu nạp chấn nhiếp, để trị chứng háo suyễn do thận hư thì rất thích hợp.
8/ Ôn dương hoá ẩm, điều (gột rửa) đàm bình suyễn
Bệnh do tỳ hư thuỷ phiếm (tràn lan) tụ ở trung tiêu, tổn thương tỳ dương, hàn sinh ra ở trung tiêu, thấm lên phế, công năng túc giáng (hướng vào bên trong và hướng xuống dưới) không bình thường, khí cơ nghịch lên thành hen suyễn. Xuất hiện các chứng trạng ho, khí suyễn, ngực, vị quản bĩ tắc phiền muộn, bệnh nhân không thể nằm ngửa, khạc nhổ đàm dãi dính, lượng đàm khá nhiều, miệng nhạt chán ăn, đại tiện phân lỏng, bệnh nặng thì chân, mặt phù thũng, lưỡi to và bên cạnh có dấu răng, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch trầm huyền, là do dương không hoá âm gây ra, nên dùng thuốc cay ngọt để hoá dương, ngọt nhạt để khứ thấp, nên dựa vào ôn pháp của Trọng Cảnh đề điều hoà. Phương mô phỏng theo Linh quế truật cam thang hợp Nhị trần thang gia vị. Trong phương có Quế chi, chích Cam thảo, Bạch truật, thông dương vận tỳ; Trần bì , Phục linh thấm đạm lợi thấp; Pháp Hạ, Quất hồng táo thấp hoá đàm, Hậu phác giáng nghịch trị suyễn. Nếu tỳ dương hư suy có thể kết hợp với thang Lý trung để ôn trung ích khí. Nếu tỳ dương hư tổn lâu ngày không bình phục, suyễn lâu ngày tạng thận tất suy yếu, xuất hiện các hội chứng tỳ thận dương hư rất rõ ràng như ho suyễn khí nghịch, thở ngắn, tiếng nói nhỏ yếu (ngữ khiếp), mặt mắt và hạ chi phù thũng, ho đàm trong lỏng, tim đập mạnh, sợ lạnh, tiểu tiện ít, phân lỏng.. Dùng thang Chân võ hợp Ngũ linh tán gia giảm. Thang Chân võ ôn thận dương để tiêu trừ âm u che lấp, phối hợp với Ngũ linh tán tăng cường thông dương lợi thuỷ để có công hiệu trừ khứ thuỷ tà. Nếu thuỷ thũng khá mạnh, suyễn súc lịch liệt, có thể gia Trầm hương, Đình lịch tử để tả phế trị suyễn, nhiều đàm trong lỏng có thể gia Tô tử, Nga quản thạch, tuỳ theo chứng trạng cụ thể mà gia giảm thì hiệu quả thu được càng rõ rệt.
Kết hợp phương dược cơ bản với phân loại hình luận trị như thế nào để điều trị bệnh hen suyễn?
1/ Phương dược cơ bản
Ma hoàng 5g, Hạnh nhân, Địa long, Xuyên khung đều 10g, Toàn yết 3g (tán bột uống riêng).
Phương giải: Ma hoàng tuyên thông phế khí, giải biểu tán hàn; Hạnh nhân thông giáng phế khí, hoá đàm nhuận táo. Hai phương phối ngẫu, một tuyên (lan toả) một giáng (hạ xuống) để hỗ trợ chứng năng tuyên giáng của phế khí. Địa long, Toàn yết, Xuyên khung là kinh nghiệm sử dụng dược, có công dụng giải trừ co thắt điều hoà lạc mạch trị hen suyễn.
2/ Lâm sàng phân loại hình luận trị
①Thực chứng ( thời kỳ hen suyễn phát tác)
1/ Đàm nhiệt nghẽn tắc bên trong: Có những đặc điểm như phát nhiệt, đàm màu vàng, đặc dính khó khạc, rêu lưỡi vàng nhầy. Dùng phương cơ bản gia Hoàng cầm, Xuyên bối, Đình lịch tử. Nếu nhiệt thậm, gia Thạch cao sống. Đàm rất nhiều, gia Lai bặc tử, Tô tử, Toàn qua lâu. Đàm trọc dính nhầy, không dễ khạc ra, gia Hải phù thạch, Cáp xác sống.
2/Phế táo nhiệt (khô nóng): Có các đặc điểm như Lưỡi họng khô khan, ngứa họng ho liên tục, đàm ít không thuận lợi, chất lưỡi hồng ít tân dịch. Dùng phương cơ bản gia Bắc sa sâm, Mạch đông, Ngọc trúc, Tang bạch bì.
3/Nội phục hàn ẩm, phục cảm hàn tà (có sẵn hàn ẩm, lại cảm nhiễm hàn tà) Có các đặc điểm: Nhiều đàm dịch trong lỏng, ghét lạnh. Dùng phương cơ bản gia Quế chi, Can khương, Tế tân, Ngũ vị tử.
②Hư chứng ( Thời kỳ hoãn giải của bệnh hen suyễn)
Chứng này không dùng vị Ma hoàng.
1/Loại hình Phế Tỳ khí hư: Có các đặc điểm như hơi thở ngắn, tiếng nói thấp yếu, ngại nói, chán ăn, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi vàng. Dùng phương cơ bản gia Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Công lao diệp.
2/Khí âm lưỡng hư: Có các đặc điểm như hơi thở ngắn, ngại nói chuyện, hồi hộp tim đập mạnh, chất lưỡi màu hông non, ít rêu lưỡi. Dùng phương cơ bản gia Hoàng kỳ, Đảng sâm, Sa sâm, Mạch đông, Đông trùng hạ thảo, Tiên hạc thảo.
3/Thận dương hư tổn: Có các đặc điểm như sợ lạnh, chân tay lạnh, mạch trầm xích nhược *bộ xích yếu nhược). Dùng phương cơ bản gia Phụ tử phiến, Tử hà xa, Nhục quế, Tử thạch anh, Trầm hương.
4/Thận âm bất túc (không đầy đủ): Có các đặc điểm như ngũ tâm phiền nóng (nóng nhiều), thân thể gầy ốm, thở ngắn, chất lưỡi hồng, ít rêu. Dùng phương cơ bản gia Sinh Thục địa, Nữ trinh tử, Hạch đào nhục, Ngũ vị tử, Trầm hương.
③Hư thực thác tạp (hỗn tạp) (Trạng thái hen suyễn liên tục)
1/ Phế hư Vị thực: Chứng Phế Tỳ khí hư kèm theo Vị trướng hoặc đau, đại tiện táo bón. Có thể dùng trên cơ sở của phương dược Phế Tỳ khí hư gia Tô tử, Tô cánh, Qua lâu, Bán hạ, Chỉ xác, Tam tiên.
2/Thận hư biểu thực: Thận hư kèm theo ngoại cảm, trên cơ sở của phương dược thận hư, phế nhiệt gia Ma hoàng, Hoàng cầm, Đình lịch tử; Phế táo (khô) gia Sinh địa, Sa sâm, Mạch đông, Ngọc trúc; Trong phế có phục ẩm gia Can khương, Tế tân, Ngũ vị, Ma hoàng.
Vì sao lại cho rằng trong điều trị bệnh hen suyễn điểm quý nhất là ứng biến phù hợp?
{Đan Khê tâm pháp} viết: “Vị phát nghi phù chính khí vi chủ, dĩ phát dụng dĩ công tà vi chủ” (未发宜扶正气为主,已发用以攻邪为主。) Bệnh chưa phát tác thì bồi bổ chính khí là chính, bệnh đã phát thì công trục bệnh tà là chính. Đây chính là đại pháp dùng để điều trị bệnh hen suyễn, cũng chính là điều các thày thuốc cần phải nắm vững. Nhưng với chứng chi khí quản hen suyễn, thường phát bệnh rất nhanh, bệnh nhiều biến hoá, lúc phát lúc ngừng, lúc hư lúc thực, vì thế làm sao để nắm được chính xác nguyên tắc điều trị tương ứng, khi nào công trục bệnh tà là chính, khi nào sử dụng bồi bổ là ưu tiên, hoặc cùng chiếu cố cả hư và thực, dùng cả hai phép công trục bệnh tà và bồi bổ, những lựa chọn này chắc chắn không phải là việc dễ dàng. Nếu như thày thuốc có thể tuỳ theo bệnh thế biến hoá mà đề ra được những ứng biến phù hợp thì có thể khiến cho hiệu quả điều trị trên lâm sàng được nâng cao rất rõ rệt.
Vì sao có thuyết “Trị háo tuyên phế hoá đàm, phòng háo nội ngoại kiêm trị” ?(治哮宣肺化痰,防哮内外兼治)Điều trị bệnh hen thì tuyên phế hoá đàm, phòng bệnh hen thì trong ngoài kiêm trị (điều trị cả trong và ngoài)
1/Trị hen trước tiên cần tuyên phế hoá đàm
Nguyên nhân chủ yếu của bệnh hen là có sẵn “phục đàm” (đàm ở sẵn trong phổi). Chứng trạng lâm sàng của bệnh hen ngoài hơi thở cấp súc (gấp vội), thì đặc trưng là các hiện tượng trong cổ họng có tiếng khò khè, trong ngực khó chịu, khó khạc đàm. Bệnh hen phục phát tất có nguyên nhân dụ phát bệnh, mỗi khi có nguyên nhân ngoại tà kích động đàm ẩm bên trong, đàm cản trở khí đạo, vì đàm gây ho, vì ho mà hen suyễn, cho nên việc đầu tiên trị bệnh hen là phải khứ trừ đàm, khứ đàm thì việc đầu tiên là phải tuyên phát phế khí để đưa bệnh tà ra ngoài, khiến cho tà khứ đàm tiêu, chứng hen tự nhiên ngừng lại. Nhưng ngoại tà có tính chất hàn nhiệt khác biệt, nên sử dụng thuốc cũng có tính ấm mát khác nhau, trên lâm sàng cần phải phân biệt rõ ràng.
1/ Dùng vị Ma hoàng điều trị bệnh hen suyễn nên chú trọng các vị thuốc các vị thuốc phối ngẫu.
Ma hoàng là vị thuốc chủ yếu trị hen suyễn, dùng Ma hoàng trị hen cần phải phối ngẫu thích hợp. Chứng hen suyễn có tính hàn thì phối với Quế chi, có tinh nhiệt thì phối với Thạch cao, thanh phế phối với Tang bạch bì, hạ khí phối với Đình lịch, hoá đàm định suyễn thường phối với Xạ can, lý khí (điều chỉnh khí cơ) thư thái lồng ngực thường phối với Hậu phác. Ma hoàng hợp với Đảng sâm có tác dụng ích khí bình suyễn, hợp Thục địa để tư bổ thận trị suyễn, hợp Sa sâm tư dưỡng phế âm, trị hen suyễn, hợp với Phụ tử để ôn bổ thận dương, trị đàm suyễn.
2/ Dự phòng bệnh hen suyễn cần phải điều trị kết hợp trong ngoài
Nên điều trị bệnh hen suyễn trong thời kỳ hoãn giải của bệnh (bệnh không phát tác), dùng thuốc uống hoặc thuốc đắp bên ngoài để điều trị căn bản, bồi bổ để chính khí ngày càng dồi dào, bên ngoài có thể chế ngự bệnh tà, từ đó có thể khống chế bệnh hen suyễn phát tác.
①Phép uống thuốc
1/Sâm cáp ma hạnh cao: Sinh sái sâm 60g (nếu dùng Đảng sâm thì dùng lượng nhiều lên). Cáp giới (khứ đầu chân) 2 đôi (tán bột trộn vào lấy cao), Ma hoàng 30g, Hạnh nhân 100g, chích Cam thảo 50g, Sinh khương 50g, Hồng táo (bot hột) 120g, Ngân hạnh nhục 100g, sắc đặc 3 lần, bỏ bã lọc lây nước thuốc, gia 500g đường phèn để thành cao, mỗi ngày uống hai lần sáng và tối mỗi lần một thìa, uống kéo dài.
2/ Thuốc hoàn: Hà xa đại tạo hoàn, Ngọc bình phong tán (hoàn), Kim quỹ thận khí hoàn, Kim thuỷ lục quân hoàn, uống thuốc ngày 2 lần, mỗi lần 9g, uống lâu dài.
3/ Thuốc dạng bột: ①Nhân sâm (nếu dùng Đảng sâm thì bội lên), Cáp giới (bỏ đầu và chân) cả hai có lượng bằng nhau, nghiền thành bột, mỗi lần uống 1.5g, uống với mật. ②Tử hà xa (nhau thai) 2 bộ, sấy khô tán bột, đóng vào viên nang, ngày uống từ 1~2g, uống với nước.
②Ngoại kích pháp (thuốc đắp ngoài)
Phương đắp bằng vị Bạch giới tử: Bạch giới tử 12g, Dirn hồ sách 12g, Tế tân 21g, Cam toại 12g, Xạ hương 0.15g, cộng chung các vị thuốc nghiền thành bột, dùng nước gừng tươi trộn bột thuốc làm thành từng bánh nhỏ để đắp lên thân thể bệnh nhân, đắp vào ba huyệt : Phế du, Cao manh du và Đại chuy, đắp trong khoảng 2 giờ thì gỡ bỏ, ba lần là 1 liệu trình, kiên trì trong vài năm sẽ thu được hiệu quả !!!
Cách điều trị hen phế quản theo từng giai đoạn như thế nào?
Bệnh hen suyễn phân thành các loại như: Bệnh mới phát, bệnh đã lâu, bệnh do hư tổn, bệnh có thực tà; Bệnh mới phát và thực suyễn thì trách tại tạng phế, có bệnh tà tức là thực; Bệnh đã lâu và hư suyễn thì bệnh do tạng thận, không có bệnh tà là hư chứng. Lúc đầu thường do cảm lạnh mà phát bệnh, phải nhanh chóng điều trị ngọn (tiêu), nếu bệnh nhẹ dùng thang Bán hạ hậu phác gia giảm, bệnh nặng dùng thang Việt tỳ truật hạ gia giảm (Ma hoàng, Thạch cao sống, Bán hạ, Cam thảo nướng, Bạch truật, Sinh khương, Đại táo, Hậu phác, Tế tân, Ngũ vị); Nếu ngực bụng trướng đầy nên dùng thang Hậu phác ma hoàng; Nếu nhiều đàm dãi khò khè như gà nước, dùng thang Xạ can Ma hoàng sẽ thu được hiệu quả cực tốt; Hàn bao hoả có thể dùng thang Ma Hạnh Thạch Cam hoặc thang Bạch quả định suyễn; Nếu có bức rứt khó chịu thì dùng thang Đại thanh long gia nhiều Thạch cao; Bên ngoài lạnh (biểu hàn), lý ẩm (bên trong nhiều đàm dãi), ho khạc ra đàm màu trắng có nhiều bọt, dùng thang Tiểu thanh long là thích hợp nhất. Duy chỉ trong tễ trên ba vị Khương (Can khương) Tân (Tế tân) Vị (Ngũ vị tử) khi phối ngẫu sử dụng thì ba vị này phải dùng lượng bằng nhau, nếu như e ngại lượng Tế tân quá nhiều mà chỉ dùng với lượng nhỏ thì hiệu quả lập tức giảm. Nói rằng có thuyết “Tân bất quá tiền” (辛不过钱) Vị Tế tân sử dụng không quá 1 tiền (4g), là chỉ nói về lượng Tế tân dùng trong thuốc tán, trong thang tễ lượng Tế tân thường từ 6~9g, sắc uống 2~3 lần trong ngày, thường không trở ngại, mà còn thu được hiệu quả đặc thù đối với bệnh này.
Với thời kỳ giữa của bệnh hen suyễn (trung kỳ), bệnh ở thời kỳ này có hư chứng, có thực chứng), tức là bản hư tiêu thực (gốc hư ngọn thực), lúc này không nên sử dụng các phương thang như thang Tam ảo, thang Đại, Tiểu thanh long và thang Xạ can Ma hoàng, các phương thang của hậu thế như thang Nhân sâm định suyễn, thang Nhân sâm Ma hoàng đều là những phương thang điều trị cả tiêu và bản, có thể không chịu ảnh hưởng của khí hậu. Nhưng mạch thượng bộ (thốn quan) (bộ trên) phù sác, hai bộ dưới (bộ xích) nhỏ, là biểu hiện của thượng thực hạ hư, với hạ hư là chính, điều trị nên đại bổ phế khí, nạp khí về thận, người viết triển khai phương thang Toàn chân nhất khí: Nhân sâm 30~60g (Lộ Đảng sâm 60~90g), Thục địa 30g, Sơn thù du12g, Mạch đông 15g, Ngũ vị 3g, Hoài ngưu tất 10g, Bạch giới tử 6g, Sinh khương 5 phiến.
Trên lâm sàng thường dùng phương này trị khỏi hoặc khống chế nhiều trường hợp loại hình hen suyễn này ở độ tuổi thanh niên, như trường hợp một thiếu mới chỉ 20 tuổi mà đã bị hen suyễn chi khí quản 17 năm, qua điều trị bằng phương này hơn 1 tháng, đã thu được hiệu quả rất tốt. Với ứng dụng số lượng nhỏ Nhân sâm thì tính phù lên trên, với số lượng lớn thì tính lại trầm xuống. Bán hư bán thực dùng thang Nhân sâm định suyễn, việc dùng Nhân sâm chung với vị Ma hoàng cũng là ý này.
Ở giai đoạn cuối của bệnh hen suyễn, đàm ra như suối, có thể dùng thang Quế phụ địa hoàng, để ôn phế hoá ẩm, bồi bổ hạ nguyên. Thân thể hư nhược lâu ngày, đều có quan hệ với công năng vận hoá không tốt của trung tiêu, đàm dãi sinh sản không ngừng, nếu không biện pháp đối ứng kịp thời, dần dần chính khí hư tổn tệ hại, thì thận thuỷ sẽ tràn lên, hoả long lôi bốc lên, cuối cùng là chết. Giai đoạn cuối của bệnh hen suyễn ba tạng phế tỳ và thận đều hư tổn, Nhân sâm, Thục địa điều trị căn bản, cũng là thuốc hoá đàm rất tốt. Bệnh lâu ngày hen suyễn nặng, dùng Cáp giới vĩ 2g nghiền bột hoà nước uống, trị hen suyễn rất tốt. Hằng ngày ăn từ 3~5 hạt đào (Hồ đào nhục hay quả óc chó), có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh hư suyễn. Sau khi bệnh đã được không chế. Tuyển dụng thận khí hoàn gia Trầm hương, Ngũ vị tử để nạp khí về gốc, sau đó dùng phép Tỳ Thận đồng trị, buổi sáng uống Ngũ vị dị công tán hoặc Lục quân tử hoàn, chiều muộn uống Vị khí hoàn, để phù trợ chính khí bồi bổ căn bản, củng cố hiệu quả.
“Tam phần y dược, thất phần điều dưỡng” (三分医药,七分调养) Ba phần dùng thuốc, bảy phần điều dưỡng (điều trị bảo dưỡng), bệnh hen suyễn cũng không ngoại lệ. Một là cần biết nên làm gì, tránh làm gì, đề phòng cảm mạo, tránh ngoại cảm khuấy động đàm ẩm bên trong, phát hen suyễn vì đường, muối thì phải kiêng đường muối. Hai là cần làm việc và nghỉ ngơi thích hợp, làm nhiều hoặc nằm lâu đều gây tổn thương khí lực, vì thế nên làm việc và nghỉ ngơi ở mức độ thích hợp; Người bệnh hen suyễn lâu năm nên tránh xa chốn phòng the, để bảo vệ tinh khí của bản thân. Ba là nên ăn uống tiết độ, thực phẩm thanh đạm là tốt, cao lương mĩ vị dễ gây thấp nhiệt, đều nên tiết chế.
Xem xét hội chứng và điều trị bệnh hen suyễn như thế nào?
I/ Phân biệt hàn nhiệt để điều trị ngọn
Khi hen suyễn phát tác cấp tính, công việc là khống chế cơn suyễn Khi lên cơn hen cấp tính, ưu tiên hàng đầu là kiểm soát cơn, thuốc thường dùng nhất là An trà kiềm (aminophylline), nhưng dùng lâu dài sẽ làm giảm độ nhạy cảm của thuốc này vì thế nên điều trị bằng đông tây y kết hợp.
Hàn suyễn với biện chứng yếu điểm gồm ngực trướng đầy khó chịu, đàm dịch trong lỏng, ghét lạnh chảy nước mũi, miệng không khô hoặc không thích uống nước nóng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn, dùng thang Tiểu thanh long gia giảm.
Nhiệt suyễn có các điểm biện chứng chính yếu như hô hấp cấp xúc, lồng ngực khó chịu, khạc đàm đặc dính màu vàng, miệng khô thích uống nước lạnh, rêu lưỡi vàng chất lưỡi hồng, mạch hoạt sác hoặc kèm theo các hiện tượng nóng nhiệt khác thì dùng thang Định suyễn gia giảm.
Trong thang có vị Ma hoàng là vị thuốc trị hen suyễn quan trọng của Đông y. Nếu xuất nhiều mồ hôi thì dùng Ma hoang căn, chứng hen suyễn do nhiệt thì dùng vị Ma hoàng phối với Hoàng cầm, Tang bạch bì, Xạ can để thanh phế lợi cổ họng trị hen suyễn, để chế bớt tính khô nóng của Ma hoàng. Với những bệnh nhân cao huyết áp hoặc thân thể hư nhược thì không nên dùng Ma hoàng mà có thể thay bằng lá Hoàng kinh tử. Hoàng kinh tử là vị thuốc chuyên hành khí khứ phong, trừ đàm giảm đau, dùng trị hen suyễn, luôn luôn có thể thay thế Ma hoàng và không có tác dụng phụ của vị Ma hoàng.
Bệnh nhân ngứa cổ họng hắt hơi, chảy nhiều nước mũi trong, trên cơ sở uống 200mg Ketotifen “Đường Tế phân” 酮替芬) hàng ngày, uống thêm Tân di 4.5g, Thương nhĩ tử 9g, luôn luôn có thể nâng cao tính kháng dị ứng và có tác dụng giải co thắt. Trị ho hoá đàm gia Tiền hồ 9g, Tử uyển 9g hoặc Cát cánh 4.5g, thanh nhiệt hoá đàm dùng Qua lâu 12g hoặc Trúc nhự 4.5g
Bệnh nhân ho liên tục, đó là biểu hiện của tăng trương lực cơ trơn đường thở, gia Hồ đồi diệp 9~15g, liễm phế trị ho.
Bệnh nhân nhiều đàm khó khạc, trường hợp này nên lợi thuỷ bình suyễn, dùng Xa tiền thảo từ 9~15g để lợi thuỷ khứ đàm trị suyễn, nếu lại phối hợp với Phòng kỷ 9g, Trần hồ lô 30g thì lực lợi thuỷ khứ đàm càng mạnh hơn. Người bệnh hen suyễn phải ngồi để thở nên dùng Đình lịch tử 15g để tả phế lợi thuỷ trị suyễn.
II/ Bổ thận để bồi đắp căn bản
Tính chất phản ứng dị thường của đường thở ở bệnh nhân hen suyễn được cho là do thận suy yếu. “Bổ thận bồi bản” (补肾培本) Bổ thận để bồi đắp căn bản, cải thiện tố chất của bệnh nhân, hạ thấp tính phản ứng của đường thở, chính là phương pháp trị liệu trọng yếu để điều trị bệnh hen suyễn trong thời kỳ hoãn giải của bệnh.
III/ Phương pháp mới để có công hiệu
Đông y trị bệnh hen suyễn, phần lớn là luận trị theo ba tạng Phế, Tỳ và Thận. Nhưng bệnh suyễn thì không thể tách rời khí, mà tạng Can lại chính là đầu mối trọng yếu để thông điều khí cơ toàn thân, vì thế chính trị (điều trị thông thường như lấy lạnh trị nóng v.v…) không đạt hiệu quả mà luôn thu được hiệu quả khi dùng pp sơ tiết tạng Can.
Dùng phương pháp thông phủ tả nhiệt để trị bệnh hen suyễn, ứng dụng với một số trường hợp hen suyễn ngoan cố. Ngoài ra, điều đáng nói là việc sử dụng Nhân trần và Hoắc hương để phòng và điều trị bệnh hen suyễn. Nhất là rất phù hợp với những người mắc chứng ngực và cơ hoành khó chịu không thông sướng và chán ăn.
Điều trị chứng hen suyễn có hàn đàm như thế nào?
Hen suyễn phát tác kịch liệt, thường do hàn và đàm kết trệ với nhau, làm cho khí không thể thăng giáng, dùng thang Ma hoàng Phụ tử Tế tân lập tức thu được hiệu quả, Phụ tử có tác dụng ấm thận trừ lạnh, Ma hoàng tuyên phế bình suyễn, tương đắc ích chương, (cùng nhau để tốt hơn), vị Ma hoàng kết hợp với vị Phụ tử có tác dụng trị suyễn mà không tổn thương chính khí; Phụ tử lại có thể hạn chế tính tân tán của vị Ma hoàng. Hai vị thuốc này rất tiện dụng đối với chứng hen suyễn thiên về hàn lãnh, Tế tân thông dương bình suyễn, hen suyễn nặng thì không thể không dùng vị này, lượng dùng tất phải nhiều, thông thường là khoảng 4.5g, trường hợp suyễn nặng có thể dùng đến 9g trở lên. Người viết đã từng gặp những trường hợp hen suyễn ngoan cố trên lâm sàng, dùng một lượng lớn hormon cũng không có hiệu quả, bệnh nhân phải ngồi suốt ngày đêm để thở, sau khi dùng 1 thang Ma hoàng Phụ tử Tế tân là được bằng an.
Hen suyễn là một bệnh trầm trọng, tái phát liên miên, tinh khí bị tổn thương, chứng trạng xuất hiện đan xen phức tạp, nhưng suy cho cùng thì phần nhiều đều là hàn đàm và âm hàn ngưng tụ ở bên trong, dùng Phụ tử Ma hoàng cùng Tế tân như lửa chiếu trên không trung, âm tự hoá có thể khiến cắt suyễn giảm đàm, tức là khiến cho chất lưỡi hồng nhẹ, tân dịch không đầy đủ, nhưng thực chất căn bản của bệnh là hàn ngưng tụ, sau khi dùng Ma Phụ thì dương khí trở lại, đưa tân dịch lên trên, chất lưỡi chuyển lại tình trạng nhuận trạch (mượt mà), vì thế dùng thuốc trong điều trị bệnh hen suyễn cũng không nên quá câu nệ.
Bán hạ sống có lực trừ đàm rất rõ rệt, trị hen suyễn có thể dùng vị này, thường dùng là 9g, gia thêm 2 lát gừng tươi thì không có tác dụng phụ. Bột Thuỷ điệt có thể cải thiện hiện tượng thiếu dưỡng khí, mỗi lần uống 1.5g, ngày uống 2 lần, hiệu quả cũng rõ rệt.
Dự phòng bệnh hen suyễn. Quan điểm “Đông bệnh hạ trị” (冬病夏治) Bệnh ở nùa Đông điều trị vào mùa Hạ, được cho là có nhiều ý nghĩa lâm sàng, vào mùa hạ bệnh nhân bị hen suyễn lâu ngày uống thang Linh Truật Quế Truật Cam, ngày uống 1 thang, uống liên tục 1 tháng, thì có thể giảm thiểu hoặc không phát tác bệnh, phương pháp này đã được chứng thực trên lâm sàng.
Vì sao cho rằng “Trị chứng hen suyễn cần phân biệt hư thực chú trọng trị đàm và kháng quá mẫn” ?
I/ Với bệnh hen suyễn lúc phát lúc ngừng phải phân biệt hư thực, chú trọng Tỳ và Thận
Hen suyễn bệnh cơ tuy phức tạp, hội chứng tuy nhiều, nhưng vị trí bệnh không nằm ngoài tạng phế. Nên chú ý phân tích đặc điểm phát tác và hoãn giải thay phiên nhau của bệnh, như bệnh hen suyễn khi phát tác thì bệnh nhân thở phát âm thanh như kéo cưa, không thể nằm, bất luận bệnh trình đã lâu hay mới, đều điều trị theo thực chứng. Nếu bệnh nhân mỗi khi phát tác hen suyễn đều do cảm hàn, hoặc khuấy động đàm phục sẵn bên trong, hoặc bản thân có uất nhiệt hợp ngoại tà, dẫn đến đàm gây trở ngại, khí nghịch, điều trị nên biểu lý song giải (giải cả trong và ngoài), hoặc chiếu cố trong ngoài. Nếu bệnh thuộc ngoại hàn nội ẩm (bên ngoài lạnh, bên trong có đàm dịch lỏng), thường dùng thang Tiểu thanh long hoặc Xạ can Ma hoàng gia giảm, hoặc tán phong hàn bên ngoài, bên trong trừ đàm ẩm; Nếu là ngoại hàn nội nhiệt thường dùng thang Ma Hạnh Thạch Cam gia vị, để tuyên tiết phế nhiệt (lan toả và tiết bớt nóng trong phổi), hoá đàm trị suyễn. Ma hoàng là một vị thuốc trị hen suyễn tốt của Trương Trọng Cảnh, bực bội có thể phối với Thạch cao sống, Bạch thược, Ngũ vị tử…; Nhiều đàm gia Tô tử, Quất hồng; Ngực phiền muộn gia Hậu phác, Trần bì, lúc này nên thận trọng với các vị thuốc thu liễm và nhuận trạch, để tránh đóng cửa giữ trộm “bế môn lưu khấu”(闭门留寇). Chứng hen suyễn sau khi hoãn giải thường thuộc hư chứng, nhưng vị trí bệnh có phân chia ở Phế, Tỳ và Thận khác nhau, Phế là chủ của khí, thận là căn bản của khí, phế chủ xuất khí, thận chủ nạp khí, tạng tỳ ở trung tiêu là nguồn của đàm, bệnh hen suyễn lâu ngày, tất nhiên bệnh từ tạng phế sẽ liên luỵ đến hai tạng tỳ và thận, vì thế bồi bổ tỳ và thận, củng cố căn bản trị hen suyễn, có thể hi vọng trừ bệnh từ gốc rễ. Nếu phế vệ không kiên cố vững vàng, da thịt không kín đáo, thường dễ bị ngoại cảm, động cảm là hen suyễn, thường dùng Thăng hãm thang hoặc Sinh mạch tán gia vị để thực vệ cố biểu (có thực lực để vững vàng bên ngoài), bổ khí và âm. Tạng tỳ không kiện vận, đàm thấp sinh ra ở bên trong, ăn kém phân nát có thể dùng thang Hương Sa lục quân hoặc Sâm Linh Bạch truật tán để kiện tỳ hoá đàm, bồi bổ thổ để sinh kim; Thận không nhiếp nạp, hô đa hấp thiểu (thở ra nhiều, hít vào ít), tứ chi lạnh, phù thũng dùng thang Chân võ để ôn thận nạp khí, bổ ích hạ nguyên. Xét rằng đây là bệnh mạn tĩnh khó chữa, trên cơ sở chủ phương gia các vị thuốc nạp khí trị hen suyễn như : Bổ cốt chỉ, Hồ đào nhục, Thố ti tử, Tử hà xa, Đại cáp giới, phối hợp chế thành thuốc hoàn mật uống thường xuyên để thu được hiệu quả.
II/ Trị đàm là phương pháp điều trị bệnh hen suyễn chính yếu, điều hoà thông sướng khí cơ
Trị bệnh hen suyễn mà không trị đàm thì không phải là điều trị bệnh, tạng phế là nơi chứa đàm trọc thuỷ ẩm, là nhân tố tiềm ẩn để cho hen suyễn tái phát, đó là {Kim Quỹ Yếu Lược} gọi là “Lưu ẩm” và “Phục ẩm” (ẩm là đàm trong lỏng) (Lưu ẩm là đàm trong lỏng lưu lại trong cục bộ cơ thể) (Phục ẩm là lưu ẩm sau khi trừ khứ còn sót lại trong cục bộ cơ thể), hoặc hậu thế gọi là túi đàm, đàm trọc thuỷ ẩm ở lâu trong phế, mỗi khi do cảm thụ hàn tà, ăn uống, mỏi mệt, tình chí biến động mà dụ phát bệnh, tác động khí đạo xuất hiện nhiều đàm gây nghẽn tắc, dính nhớp khó chịu, ngực bụng đầy trướng khó chịu, chán ăn táo bón, rêu lưỡi nhầy bẩn và mạch hoạt, điều trị dùng Ngũ tử định suyễn thang gia vị. Phương thang này trên cơ sở thang Tam tử dưỡng thân có tác dụng trừ đàm hạ khí gia thêm vị Hạnh nhân tuyên phế bình suyễn, Đình lịch tử tả phế hành thuỷ, một vị tuyên (tuyên thông) một vị tả (bỏ bớt) để khí cơ thông sướng, chứng hen suyễn tự bình (hoãn giải), nhưng chỉ nên ứng dụng trong tình huống không có bệnh tà ở biểu, nếu thuộc phong hàn bế tắc phế khí thì không nên. Nếu kèm theo ho gia thêm Tiền hồ, Bạch tiền, Tử uyển, Khoản đông hoa; Kèm theo kém ăn gia Thạch xương bồ, Bội lan diệp; Ngực khó chịu gia Hậu phác, Trần bì; Táo bón gia Qua lâu , Giới bạch.
Nguyên nhân hen suyễn phần nhiều do đàm trọc nghẽn tắc phổi mà ra, do khí của phế vị nghịch lên hoặc uất hoả của kinh can cũng không ít. Điều trị bệnh hen suyễn nên chú trọng điều sướng khí cơ của cơ thể, gọi là “Khí thuận tắc đàm tiên tự tiêu” (气顺则一身痰涎自消) Khí thuận thì đàm dãi tự tiêu, ngoài việc tuyên giáng túc phế (lan toả giáng xuống và làm sạch phế khí), có khi còn giáng vị khí và thư can khí để trị hen suyễn. Có thể sử dụng đơn độc trị liệu phế vị khí nghịch của chứng hen suyễn. Mà vị Toàn phú hoa, Đại giả thạch đã có công dụng trị suyễn giáng nghịch, Bán hạ, Sinh khương có thể hoà vị hoá đàm, làm cho nhau tốt hơn (tương đắc ích chương), mà đối với loại hình hen suyễn do tinh thần căng thẳng, hoặc ưu uất không toại ý dẫn đến can hoả phạm phế gây chứng hen suyễn, thì thường dùng Tiêu dao tán, gia Đan bì, Hoàng cầm, Địa long, Câu đằng, Hạnh nhân, Tang bạch bì để trị hen suyễn giải trừ co thắt và là thuốc tuyên phế trị ho, có tác dụng điều sướng khí cơ, hàm chứa ý nghĩa của câu “Khí thuận đàm tiêu” .
III/ Kháng mẫn cảm là đặc sắc, hoạt huyết là phụ
Điển hình của chứng hen suyễn theo mùa có quan hệ mật thiết với nhân tố quá mẫn cảm, bệnh nhân do nhân tố thể chất, tiếp xúc với các dị nguyên như phấn hoa, mạt bụi, thuốc gây co thắt cơ trơn phế quản, lòng mạch hẹp lại dẫn đến lên cơn hen suyễn, nên còn gọi là bệnh hen suyễn do dị ứng. Bệnh nhân loại này thường là trẻ em hoặc ở tuổi thanh thiếu niên, cần biện chứng dụng dược, thường chọn phương Kháng mẫn tiễn để kháng dị ứng giải trừ co thắt trị ho suyễn, trong phương có Sài hồ ngọt lạnh (cam hàn) ích âm, mát máu hạ nhiệt; Phòng phong cay ấm, khứ phong giải biểu; Ô mai toan sáp hoá âm sinh tân dịch; Ngũ vị tử toan ôn, liễm phế ích thận; Cam thảo điều hoà các vị thuốc, phương thang đã được xác định có hiệu quả tốt đối với những bệnh nhân huyết táo phong hàn dị ứng hen suyễn.
Một số bệnh nhân hen suyễn được Tây y chẩn đoán là khí thũng, tâm phế, xơ kẽ phổi hoặc tâm phế mạn, diễn biến bệnh kéo dài, người bệnh sắc mặt xám xịt, môi và móng tay bầm tím, tĩnh mạch cổ nổi, chất lưỡi tím tái hoặc có ban ứ, điểm ứ, có biểu hiện hội chứng khí hư huyết ứ. Tạng phế chủ khí, hỗ trợ tạng tâm vận hành huyết mạch, tạng phế bị bệnh lâu ngày. Tông khí không đầy đủ (Tông khí là khí kết hợp của thanh khí và tinh khí thuỷ cốc), không đủ lực để vận hành huyết dịch nên huyết mạch bị ứ trệ. Nên hoạt huyết hoá ứ để trị liệu, tuỳ theo hội chứng gia thêm Đương quy, Xuyên khung, Đan sâm, dùng Xuyên khung khiến huyết thượng hành (đi lên trên), Đương quy khiến huyết dịch hạ hành (đi xuống dưới), Đan sâm hoạt huyết toàn thân. Huyết ứ nặng dùng thang Tứ vật Đào Hồng, hoạt huyết hoá ứ trị tiêu (ngọn), phối hợp ích khí dưỡng âm để củng cố căn bản. Loại trị pháp này nên cân nhắc nặng nhẹ, bệnh ở khí phận dựa theo phương pháp trị liệu ở huyết phận thường hiệu quả hơn so với chỉ đơn thuần bổ khí.
Đặc điểm của phương dược trị chứng hen suyễn là gì?
Chứng hen suyễn chi khí quản là bệnh biến của hai tạng phế và tỳ, do nguyên nhân bên ngoài gây ra, phế không túc giáng (giáng xuống thu liễm), tạng tỳ không kiện vận (vận chuyển mạnh mẽ), đàm khí kết lại gây trở ngại, bế tắc khí đạo mà thành chứng hen; Suyễn là bệnh biến của hai tạng phế và thận, phế không tuyên giáng, thận không nạp khí, tâm khí nội hư mà thành suyễn, hen và suyễn thường kèm nhau gây bệnh. Trẻ em hen suyễn ngoại trừ thân thể không đầy đủ và ngoại tà xâm phạm tạng phế, lại chủ yếu chính là hai tạng phế và tỳ thụ tà gây ra. Như trong {Xích thuỷ huyền châu} viết: “Hữu tự ấu đơn thời, bị toan hàm chi vị, hoặc thương tỳ hoặc thương phế, dĩ chí đàm tích khí đạo, tích cửu sinh nhiệt, phương ngại thăng giáng nhi thành vi háo chứng.” (有自幼单时,被酸咸之味,或伤脾,或伤肺,以致痰积气道,积久生热,妨碍升降而成为哮证。) Khi còn nhỏ, ăn nhiều vị chua mặn, hoặc tổn thương tạng tỳ hoặc tổn thương tạng phế, làm cho đàm tích trệ ở khí đạo, lâu ngày sinh nhiệt, trở ngại sự thăng giáng của khí mà thành chứng hen. Theo đó điển hình cơ chế bệnh hen suyễn ở trẻ em chủ yếu là do bệnh biến ở tỳ phế và do đàm thực (phẩm) gây ra, trên lâm sàng có thể thấy, bệnh hen thường kèm theo ho, chứng suyễn thường kèm theo thũng, đều do phế không tuyên túc (lan toả và sạch sẽ), trường hợp bệnh nặng sẽ ảnh hưởng đến tạng tâm, vì thế bệnh ở phế tỳ thường là thực chứng, bệnh ở phế thận đều là hiện tượng hư tổn.
Chứng hen suyễn trong thời kỳ phát tác chủ yếu thường thuộc thực chứng, điều trị nên công tà là chính, khi khám bệnh, nên phân biệt bệnh thuộc hàn nhiệt đàm thấp để có thể xử lý thoả đáng. Bệnh thuộc hàn có các chứng trạng như hô hấp cấp bách, họng có tiếng rít, nhiều đàm trong lỏng, lồng ngực như bị ngăn lấp, sợ lạnh, sắc mặt tối ám hoặc trắng xanh, thích uống nước nóng nhưng uống rất ít, hơi thở lạnh, mạch phù khẩn, lưỡi trắng nhuận (ướt), điều trị nên ôn phế tán hàn, trừ đàm lợi khiếu, dùng phương tự chế có tên Lãnh háo ẩm, Ma hoàng, Quế chi, Phục linh, Bán hạ, Trần bì, chích Cam thảo, Chỉ xác, Tô tử, Bạch giới tử, Đông hoa, Sinh thông, Đạm đậu thị để điều trị. Nếu hen suyễn kèm theo nôn oẹ, là phong hàn phạm phế, thuỷ ẩm đình lại bên trong, cũng có thể dùng thang Tiểu thanh long gia Tô tử, Khoản đông hoa, Bạch giới tử để điều trị. Nếu thuộc nhiệt tà gây bệnh, thì tiếng hô hấp thô to, đàm đặc đính rất khó bài xuất ra ngoài, mặt bn đỏ, xuất mồ hôi, ngực đau trướng phiền muộn, trường hợp nặng bệnh nhân khát nước, táo bón, nước tiểu vàng và ít, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng bẩn, mạch trầm sác hoặc hồng sác. Điều trị nên tuyên phế, hoá đàm định suyễn. Dùng phương người viết tự đặt tên thang Thanh nhiệt bình suyễn, Tang bạch bì, Ma hoàng, Đông hoa, Xuyên bối, Lai bặc tử, Toàn qua lâu, Bán hạ, Hoàng liên, Xạ can, Hạnh nhân, Cam thảo, đợi sau khi hen suyễn nhiệt trở lại bình thường, thì dùng thang Định suyễn trong {Thiên Kim} gia Tử uyển, Đảm tinh uống liên tục 20, 30 thang, khiến phế khí thanh túc (trong sạch) trừ khứ được gốc rễ của bệnh hen suyễn. Trên lâm sàng có chứng hen suyễn do hoả nhiệt, có các chứng trạng như suyễn cấp khí nghịch, ho, đàm vàng dính, trường hợp nặng hoặc không có đàm, tức là có đàm nhưng không khạc ra được, xuất mồ hôi, khát nước, sốt cao không hạ, nguyên nhân do hoả trong phế quá mạnh, khiến phế khí trướng đầy thế bệnh khẩn cấp kịch liệt, nên tả hoả thanh phế, tiết nhiệt bình suyễn. Dùng thang tự chế gọi là Phế viêm thanh giải thang: Bạch linh dương, Thanh thiên quý, Sinh Thạch cao, Ma hoàng, Hạnh nhân, Tang Bạch bì, Địa cốt bì, Liên kiều, Mạch đông, Lai bặc tử, Tri mẫu, Cam thảo, nếu sốt cao gây tổn thương tân dịch có thể gia Tây dương sâm, Mạch đông, nếu có hiện suy tim, có thể gia Sinh mạch tán. Nếu đàm thấp dẫn đến thực suyễn, suyễn kèm theo ho, nhiều đàm dính nhầy, khó khạc, lồng ngực đầy và bực bội. Là do tích thấp sinh đàm, hoặc cơ thể thiên về nhiều đàm thấp, tích luỹ mỗi ngày, đến khí đàm tràn lan trong phổi, phổi không còn thanh sạch, rêu lưỡi trắng nhờn hoặc cáu bẩn, mạch thường hoạt hoặc nhu, điều trị nên trừ đàm sạch phổi, thuận khí trị suyễn. Phương tự chế là thang Tô quất nhị trần: Tô tử, Quất hồng, Bán hạ, Trần bì, Phục linh, Chỉ xác, Tiền hồ, Hậu phác, Bạch giới tử, chích thảo, Sinh khương, kèm theo phong đàm gia chế Nam tinh, nếu thấy hoá nhiệt thì gia Sơn chi, Hoàng liên, Lâu bì nhân, Xuyên nhự. Nếu hen suyễn ở trạng thái kéo dài liên tục, mà bệnh nhân thể chất khá cường tráng, thường dùng Tạo giáp hoàn: Hắc Bạch sửu đều 3g, Tạo giáp, Tử uyển, Cam thảo, Tang bạch bì, Thạch xương bồ, Bán hạ đều 6g, Đảm tinh 5g, Bách bộ 6g, cộng chung các vị thuốc trên tán thành bột mịn, dùng mật viên thành hoàn nhỏ (bằng hạt đậu xanh), mỗi lần uống 30 hoàn, ngày 2 lần, chiêu với nước. Phương này trị chứng hen lâu ngày không khỏi, có hiệu quả nhất định.
{Nguyên lý} nói: “Hư suyễn giả, vô thực tà, nguyên khí hư dã” (虚喘者,无实邪,元气虚也。) Hư suyễn là không có thực tà, nguyên khí bị hư tổn Lại nói: “Hư giả, khí vi tức phản, đa do nội thương. Trị liệu chi pháp hư giả bổ chi dĩ cam ôn.” (虚者,气微息返,多由内伤。治疗之法虚者补之以甘温。) Người hư tổn, hơi thở ngược trở lại nhỏ nhẹ, phần lớn do nội thương, phép trị liệu là hư thì bồi bổ dùng vị cam ôn (ngọt ấm).
Biện chứng hư suyễn, thường là phế hư hoặc thận hư, lại có tâm thận cùng nguồn (đồng nguyên), hư tổn của phế thận, đều ảnh hưởng đến tâm dương, tâm dương không phấn chấn, phát thành chứng hen suyễn hội chứng hư tổn của tâm thận. Hen suyễn do phế hư, là khí suyễn mà vội vã, thở ngắn, tiếng nói yếu không có lực, mỏi mệt thích ngủ, ăn kém, đồng thời tự hãn hoặc ghét gió. Điều trị dùng phương người viết tự nghĩ có tên Hư suyễn ninh phế thang: Bạch thược, Hoàng kỳ, Nhân sâm, Cam thảo, Phục linh, Đương quy, Ngũ vị tử, A giao, Bán hạ, Trầm hương. Trên lâm sàng chứng hen suyễn do phế tạng hư nhược, thậm chí chung quanh mắt phù thũng, cũng có thể ứng dụng phương này. Chứng hen suyễn do thận hư, thở suyễn mà hơi thở không liền lạc bị ngắt quãng, hoạt động là suyễn xúc không ngừng, đồng thời thường theo tiếng khò khè của đàm, hồi hộp, mặt xanh hoặc tím tái, tứ chi sợ lạnh phù thũng. Đó là chứng trạng của thận dương hư suy, thận khí không nạp, điều trị nên ôn thận tráng dương, nạp khí bình suyễn, phương tự nghĩ có tên Gia vị Nhân sâm Cáp giới tán: Nhân sâm, chích Cam thảo đều 10g, Cáp giới 2 đôi, Ngũ vị tử, Bổ cốt chỉ, Trầm hương, Thạch xương bồ, Bạch truật đều 30g, Hồ đào, Trạch tả đều 60g, Xuân sa nhân 25g, Hoàng kỳ 45g, Tế tân 20g,phép chế: Ngoại trừ Nhân sâm và Trầm hương, tất cả đều tẩm nước muối cho ướt, chưng với cơm trắng, cộng chung lại sấy khô tán bột, cho vào bình, mỗi lần uống 6g, uống bằng nước, uống đến khi hen suyễn được hoãn giải, chứng này cũng có thể dùng Tô tử giáng khí thang gia Cáp giới, Hải mã, Tử hà xa để điều trị, Cáp giới bổ phế khí, hỗ trợ thận dương, trị ho suyễn, bổ ích tinh huyết, Hải mã bổ thận tráng dương, điền bổ kỳ kinh đốc mạch, bồi bổ tinh huyết, trừ khứ đàm trệ trong cơ thể, bên trong ấm áp tạng phủ, bên ngoài trị ho trị suyễn, trừ đàm hoá ẩm (đàm trong lỏng), đối với hen suyễn do phế thận dương hư, thu hiệu quả cực nhanh, vì thế đây là những dược phẩm chắc chắn sẽ được sử dụng để điều trị bệnh hen suyễn.
Đến như khi tâm dương hư suy dẫn đến hen suyễn, có biểu hiện là hô hấp khó khăn, khi suyễn thì hồi hộp, tim đập mạnh, tinh thần mỏi mệt, đó là tâm dương không đầy đủ, chân nguyên (nguyên khí của tạng) tổn háo cực độ, thận khí đưa lên gây ra. Điều trị nên cường tâm ôn dương, trợ nguyên trấn suyễn, thường đầu tiên dùng thang Chích Cam thảo, đông thời uống thêm Hắc Tích đan, đợi khi suyễn tạm ổn định thì chuyển sang dùng thang Chân võ, hoặc phương của người viết có tên Sâm kỳ tiếp chân thang, Nhân sâm, Hoàng kỳ, Cố chỉ, Quế chi, Chích thảo, A giao, Từ thạch, Mẫu lệ, Ngũ vị tử.
Ngoài ra đối với việc điều trị bệnh hen suyễn trong thời kỳ thuyên giảm, nên phù trì chính khí, bồi bổ căn bản, căn cứ theo lý luận của {Hoàng đế nội kinh} “Xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm, dĩ tòng kỳ căn” (春夏养阳,秋冬养阴,以从其根), hai mùa xuân hạ, tức là dùng phép dưỡng dương, dùng Nhân sâm cáp giới tán, phù trợ dương tráng thận hoặc dùng Sâm linh bạch truật tán, gia Cáp giới Hải mã, để ôn tráng tỳ dương, Nếu như mùa thu đông, thì dưỡng âm của phế thận, dùng Lục vị địa hoàng hoàn, gia Tô tử, Trầm hương, Ngũ vị tử để điều trị bệnh; Thời kỳ thuyên giảm của bệnh hen suyễn thường thuộc tình huống trong hư có thực, người viết thường dùng thang Lục quân tử hợ với thang Tam tử dưỡng thân gia Tử uyển, Khoản đông hoa, uống lâu dài, để phù trợ chính khí và khứ bệnh tà.
Phép bổ thận ích phế điều trị bệnh hen suyễn như thế nào?
I/ Nguyên nhân và cơ chế của bệnh hen suyễn
Bệnh hen suyễn phát tác, nguyên nhân nhiều nhất là hàn lãnh và cảm mạo, sau đó là ngửi mùi vị dị thường, mệt nhọc, mà cơ chế bệnh là hai tạng phế và thận hư tổn. Mà tạng phế chủ khí, điều khiển hô hấp, là bộ phận then chốt thăng giáng xuất nhập của khí, nếu cảm thụ bệnh tà phong hàn, hoặc ngửi thấy mùi vị dị thường dẫn đến mất điều khiển công năng túc giáng (giáng xuống và làm sạch) của phế, phế khí nghịch lên và gây suyễn, hen suyễn lâu ngày, phế khí tất bị hư tổn, phế hư nên khí thăng giáng thất thường, làm cho hô hấp gấp và nhanh, khí suyễn tệ hại, trường hợp nặng thì người bệnh há miệng so vai để thở, cánh mũi phập phồng, miệng môi móng tay xanh tím, hoảng hốt, thở ngắn, bức bách tâm dương vượt ra ngoài mà xuất mồ hôi, tạng thận chủ nạp khí, là gốc của nguyên khí, bệnh hen suyễn lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến thận, thận khí bị tổn hại, nên không thể nhiếp nạp, khí không về nguồn, nên khí nghịch lên bức bách tạng phế, thở ra nhiều, hút vào ít, khi hoạt động thì suyễn nặng. Hơi thở không liên tục, bệnh nhân phải ngồi mà thở, bệnh nhân không thể nằm là những điểm biện chứng chính yếu của phế thận lưỡng hư. Vì thế phép điều trị chủ yếu là điều bổ phế thận, phù chính khứ tà. Bệnh học của Đông y cho rằng, dưới tác dụng của nguyên nhân bệnh, tình trạng thăng bằng sinh lý của cơ thể bị mất điều hoà chính là mấu chốt dẫn đến phát sinh bệnh. “ Chính khí tồn nội, tà bất khả can” (正气存内,邪不可干) Chính khí (năng lực kháng bệnh tốt) thì bệnh tà không thể xâm phạm , “Tà chi sở tấu, kỳ khí tất hư” (邪之所凑,其气必虚) Bệnh tụ tập (xuất hiện) thì chính khí tất đã hư tổn, chính là những nhận thức cơ bản của đông y đối với phát bệnh. Nguyên nhân bệnh của bệnh nhân hen suyễn là tố chất cơ thể không đầy đủ, bệnh lâu ngày thân thể yếu nhược và chính khí hư là những đặc điểm điển hình, vì thế việc bồi bổ chính khí, cải thiện thể chất là trị pháp chủ yếu của bệnh hen suyễn, đồng thời nên chú ý điều hoà thông sướng khí cơ, hoá đàm hành ứ, thăng giáng xuất nhập của phế chính là bộ phận tạo thành quan trọng của khí cơ của cơ thể. Theo Vương Mãnh Anh : “ Phế thụ bệnh, nhất thân chi khí giai thất thuận giáng chi cơ” (肺受病,一身之气皆失顺降之机) khi tạng phế bị bệnh, khí toàn thân đều mất cơ hội để thuận giáng (xuống). Xem xét trên lâm sàng, bệnh nhân hen suyễn đều có sự ngột ngạt khó chịu ở các mức độ khác nhau, vì thế việc điều hoà thông sướng khí cơ, hoà thuận phế thận chính là nội dung chủ yếu của trị liệu bệnh hen suyễn. Tuy nhiên sự hình thành đàm và ứ đều có quan hệ mật thiết với khí cơ không thông sướng (vận chuyển của khí kém), vì thế việc điều hoà bồi bổ phế và thận là có ngụ ý điều sướng khí cơ (cải thiện lực vận chuyển của khí), đồng thời có công hiệu hoá đàm hành ứ, cải thiện vi tuần hoàn, để đạt được mục đích trị suyễn, đó là phương pháp phù trợ chính khí để trừ khứ bệnh tà.
II/ Phương bổ thận ích phế bình suyễn
Thành phần phương dươc; Thái tử sâm, Mạch đông, Ngũ vị tử, Trần bì, khương Bán hạ, Tô tử sao, Ô mai, Địa long, Từ thạch, Bổ cốt chỉ, Thai bồn, Đào nhân.
Gia giảm: Khí hư nhiều gia Hoàng kỳ; Âm hư gia Sa sâm, Sinh địa; Dương hư gia Phụ tử, Nhục quế; Huyết ứ gia Đan sâm, Xuyên khung; Ho nhiều, đàm nhiều gia Qua lâu nhân, Xuyên bối mẫu.
Phương này dùng thang Sinh mạch tán gia vị trong {Nội Ngoại Thương Biện Cảm Luận}, có ý bồi bổ phế thận, bổ ích khí âm, trong phương dùng Thái tử sâm mà không dùng Nhân sâm để tránh khô táo, Mạch môn dưỡng âm nhuận phế, ích dạ dày sinh tân dịch. Trong phương khéo dùng (diệu dụng) Ngũ vị tử vị toan sáp (chua rít), nhập hai kinh phế thận, có công hiệu liễm phế, tư bổ thận, sinh tân dịch, thu mồ hôi và cố sáp tinh khí. Tôn Tư Mạc nói về vị thuốc này “Tại thượng khả tư nguyên, tại hạ tắc bổ thận”
(在上可滋源,在下则补肾) ở trên có thể bổ nguồn, ở dưới thì bổ thận, đúng là vị thuốc chủ yếu để song bổ hai tạng phế và thận. Trần bì , Bán hạ lý (điều chỉnh) khí hoà vị, hoá đàm trị ho. Tô tử giáng khí tiêu đàm, Địa long thông lạc mạch giải co thắt. Ô mai chua ấm, nhập hai kinh phế thận, có thể “Thu phế khí” (收肺气) hấp thu phế khí, “Trị cửu khái” (治久嗽) Trị chứng ho đã lâu, “Hấp khí quy nguyên” (吸气归元) Hấp khí về nguồn, vì vậy vị thuốc này có thể phụ trợ Sinh mạch tán thu liễm phế khí, nạp thận khí. Tử hà xa trong phương đại bổ nguyên khí mà không khô háo, có thể bổ cả âm dương, có nhiều báo cáo về việc đã dùng vị thuốc này điều trị hen suyễn. Vị Từ thạch cay mặn tính bình, nhập vào hai kinh phế thận, có thể “Nạp khí bình suyễn” (纳气平喘) nạp khí trị suyễn.
Bổ cốt chỉ cay ấm, nhập thận hỗ trợ dương khí, khiến thận thuỷ không lạnh, bốc hơi khí hoá, phế khí được bóng mát, đối với chứng hen suyễn thận hư, y gia qua các thời kỳ đều thích dùng vị thuốc này. Trong phương có Đào nhân hoạt huyết hành ứ, nhuận tràng, khiến phế khí thông sướng, bổ mà không trệ. Tổng quát toàn phương, với chủ yếu là bồi bổ phế thận, đồng thời chiếu cố tỳ vị, âm dương song bổ, đồng thời có công hiệu hoá đàm, lý khí hành huyết. Cùng nhau khiến chính khí dần dần sung mãn, điều hoà khí của phế thận, khí thuận đàm tiêu, hen suyễn có thể trị khỏi. Toàn phương có tính vị hoà bình, bổ mà không khô, tư dưỡng mà không nị trệ (nhờn dính), thích hợp để sử dụng lâu dài.
III/ Trị bệnh trong phòng bệnh, phòng bệnh trong trị bệnh
Đối với việc điều trị bệnh hen suyễn, “Phát tác thời trị kỳ tiêu, hoãn thời trị bản”( 发作时治其标,缓时治本) Khi bệnh hen suyễn phát tác thì điều trị tiêu (ngọn), khi bệnh hoãn giải thì điều trị căn bản, rất nhiều thày thuốc tôn sùng và không nghi ngờ cho đây là trị pháp chính xác của chứng hen suyễn khi bệnh phát tác. Tuy nhiên, nhìn vào các loại thuốc trị tiêu (bệnh tà) và chống hen suyễn truyền thống, thì thường là các thuốc cay ấm như Ma hoàng, Tế tân hoặc hàn lãnh mạnh mẽ như Đình lịch tử, Tang bì v.v… Đều là các vị thuốc dễ gây tổn háo chính khí, rất khó đạt được mục đích trị liệu bệnh hen suyễn. Nhất là đối với những bệnh nhân hen suyễn kéo dài và tái phát nhiều lần, chính khí nguyên bản đã không đầy đủ, nếu cứ tái dụng các vị thuốc tân tán, hàn lãnh, không chỉ phạm vào điều cấm là làm bệnh nhân hư tổn lại bị hư tổn thêm (“Hư hư” chi giới), việc giảm thiểu cơn phát tác của bệnh hen suyễn làm cho việc điều trị bệnh hen suyễn trong thời kỳ hoãn giải có ý nghĩa lớn hơn, tức là với bệnh hen suyễn lúc nào cũng phải chú ý phù trì chính khí. Tóm lại, trị liệu bệnh hen suyễn trong thời kỳ bệnh phát tác phải hết sức tránh sử dụng những dược phẩm gây tổn thương tân dịch và háo khí, bất luận là thời kỳ phát tác hoặc thời kỳ hoãn giải đều phải điều trị cùng lúc cả (tiêu và bản) là sử dụng dược phẩm phù trì chính khí đồng thời với dược phẩm trừ khứ bệnh tà, và tinh thần này phải được giữ xuyên suốt trong toàn quá trình điều trị bệnh.
Kinh nghiệm lâm sàng trong điều trị hen phế quản là gì?
I/ Lãnh hen (Hen do lạnh)
Bệnh nhân có tố chất dương hư, khí không hoá thành tân dịch, mà thành đàm ẩm đình trệ trong cơ thể, mỗi khi phong hàn bên ngoài xâm phạm, nhập vào hệ thống của tạng phế, bệnh tà cũ gây trở ngại cho đàm và khí mà phát thành chứng lãnh hen (hen do lạnh). Có các chứng trạng như: Ghét lạnh, không có mồ hôi, đầu và thân thể đau nhức, hô hấp gấp và ngắn, khò khè trong họng, khạc đàm trong lỏng nhiều bọt, ngực hoành cách trướng đầy khó chịu như bị che lấp, nếu tình trạng bệnh nặng thì môi tím tái, bệnh nhân không thể nằm, không khát nước, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch phù khẩn. Thường do phong hàn xâm nhập cơ biểu, da lông khai hợp (mở đóng) không đúng, làm cho phế khí uất trệ, cần nhanh chóng tuyên thông phế khí, hoá đàm định suyễn. Đầu tiên dùng Hoa cái thang (Ma hoàng, Tô tử, Hạnh nhân, Tang bì, Xích phục linh, Quất hồng, Cam thảo). Nếu bên trong có đàm cũ, ngoại cảm hàn tà dụ phát, xuất hiện ho khí nghịch lên, trong họng có tiếng như gà nước, dùng thang Xạ can Ma hoàng trong {Kim Quỹ Yếu Lược} (Xạ can, Ma hoàng, Sinh khương, Tế tân, Tử uyển, Khoản đông hoa, Ngũ vị tử, Đại táo, Bán hạ) để tán hàn tuyên phế, giáng nghịch hoá đàm. Nếu suyễn nghịch không hạ có thể hợp với Tam tử dưỡng thân thang (Tô tử, Lai bặc tử, Bạch giới tử), để tăng cường tác dụng giáng khí định suyễn. Hàn bên ngoài đã giải mà khí cơ không thông suốt nên hơi thở cấp bách, có thể dùng Tô tử giáng khí thang (Tô tử, Quất nhân, Bán hạ, Đương quy, Tiền hồ, Hậu phác, Nhục quế hoặc Trầm hương, Cam thảo, Sinh khương), khí thuận thì suyễn tự trừ.
II/ Nhiệt hen (Hen suyễn do nhiệt) ăn uống không tiết độ, ăn nhiều thực phẩm béo ngọt, tích thấp sinh nhiệt, hun đốt ở phế, hoặc hàn ẩm uất lâu ngày hoá nhiệt, luyện tân dịch thành đàm, đàm nhiệt nghẽn tắc ở phổi, dụ phát bệnh mỗi khi ngoại cảm. Xuất hiện chứng trạng: Hô hấp cấp bách, trong họng có tiếng đàm, ho từng cơn, đàm màu vàng đặc khó khạc, mặt bệnh nhân đỏ, tự hãn, phiền muộn bất an, khát và thích uống, nước tiểu màu đỏ, táo bón, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng nhầy, mạch hoạt sác. Thường do bên trong có đàm nhiệt, bên ngoài là ảnh hưởng của phong hàn ràng buộc, hoặc do hàn uất hoá nhiệt. Nếu kèm theo ghét gió lạnh, dùng phương Thiên kim định suyễn thang ( Ma hoàng chích (nướng), Bạch quả, sinh Tang bì, Khoản đông hoa, Hạnh nhân, Tô tử, Hoàng cầm, Cam thảo, Bán hạ, Quất hồng). Phế vị tích chứa nhiệt, đàm nhiệt nghẽn tắc ở trong, là do ngoại cảm phong nhiệt dẫn phát bệnh, dùng Ma Hạnh thạch cam thang gia Hoàng cầm, Qua lâu, Triết bối, Tang bì. Đàm trọc nghẽn tắc phế mà phát bệnh thì dùng Thiên kim vi hành thang hợp Đình lịch Đại táo tả phế thang (Đình lịch tử, đại táo, Ý mễ, Đông qua tử, Đào nhân, Lô căn). Bên trong có đàm nhiệt, phong nhập phế kinh mà phát tác hen suyễn thì dùng Phí thị nga lê thang (Nga quản thạch, chích Ma hoàng, Qua lâu nhân, Hạnh nhân, Xuyên Bối mẫu, Phục linh, Quất hồng, Trúc lịch, Bán hạ, Tô tử, Xạ can, Lê trấp, Sinh khương trấp).
Phép gia giảm thường dùng: ①Nhiều đàm, đàm vàng đặc, gia Qua lâu, Thiên trúc hoàng, Đảm tinh, Tam xà đảm, Trần bì mạt; ② Đàm trọc đặc keo, không dễ khạc gia Hải phù thạch, Đại cáp tán, Trúc lịch thuỷ; ③Đàm khô dính, ho không sảng khoái gia Sa sâm, Thiên đông, Mạch đông, Tì bà diệp; ④ Hen suyễn kèm theo hung cách (ngực hoành cách mô) đầy trướng khó chịu gia Chỉ xác, Cát cánh; ⑤ Hen suyễn kèm theo ho đàm gia Địa long, Thạch vi, Câu đằng, Cương tàm; ⑥Phế lạc bị ứ trệ khí không vận chuyển phân bố nên miệng môi tím tái gia Xích thược, Đào nhân, Hồng hoa, Đan bì, Đan sâm, Quất lạc; ⑦Kèm theo phế bị cảm nhiễm gia Hoàng cầm, Chi tử, Ngân hoa, Liên kiều, Ngư tinh thảo, Tảo hưu…
III/ Hen suyễn lâu ngày dẫn đến hư tổn
Phế chủ khí và là ngọn của khí, thận chủ khí và là gốc của khí, tỳ vị chủ về thấp trọc là gốc của ho đàm, nếu tỳ dương không đầy đủ thì đàm thấp sinh ra ở bên trong; Thận khí khuy tổn nên khí không nhiếp nạp (hấp thu, tiếp nhận), vì thế nếu chứng hen suyễn kéo dài lâu ngày sẽ xuất hiện hội chứng hư tổn của 3 tạng phế, tỳ và thận. Các chứng trạng: Phế khí hư khiến bệnh nhân sợ lạnh tự hãn, ho mà không có lực, đàm dãi lỏng và ít, chỉ cần gặp gió lạnh là dễ dụ phát hen suyễn, tỳ hư thì thấy ho nhiều đàm, ngực ức bế tắc phiền muộn, mệt mỏi yếu sức, ăn ít, phân lỏng; Thận khí hư, hoạt động thì suyễn nặng, mồ hôi nhễ nhại, miệng môi tím tái, eo lưng ê ẩm, chân yếu, trống ngực tứ chi lạnh, hạ chi phù thũng. Trên lâm sàng thường gặp các hội chứng hư tổn như: Phế khí hư, ba tạng phế tỳ thận đều hư và ba tạng phế tâm thận cùng hư.
Phế khí hư dùng Chung nhũ bổ phế thang (Nhân sâm, Mạch đông, Ngũ vị tử, Khoản đông hoa, Tử uyển, Tang bì, Quế chi, Chung nhũ thạch, Bạch thạch anh, Nhu mễ, Sinh khương, Đại táo); Phế tỳ lưỡng hư dùng thang Lục quân tử hợp với thang Linh quế truật cam gia vị (Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Quất hồng, Thanh Bán hạ, Quế chi, Tử uyển, Khoản đông hoa, Tô tử, Hạnh nhân, Xuyên bối mẫu); Phế thận âm hư dùng Thất vị đô khí thang (Thục địa, Sơn dược, Sơn thù, Phục linh, Đan bì, Trạch tả, Ngũ vị tử), uống chiêu Nhân sâm cáp giới tán (Nhân sâm, Cáp giới vĩ, Sinh Tang bì, Quất hồng, Hạnh nhân, Phục linh, Tri mẫu); Phế thận dương hư dùng thang Kim quỹ thận khí, dùng nước thuốc để uống Hắc tích đan, tâm thận dương suy như muốn sốc choáng dùng thang Sâm phụ, để ích khí hồi dương, biểu hư tự hãn gia Hoàng kỳ, tỳ hư phân lỏng gia Bạch truật.
Cách dùng 3 phương pháp điều hòa gan chữa hen suyễn như thế nào?
Hen suyễn chính là do công năng của ba tạng phế, tỳ và thận không đầy đủ, đàm tiềm phục bên trong, cảm thụ ngoại tà mới khuấy động mà phát bệnh, đàm theo khí thăng lên, khí bị đàm cản trở, kết lại với nhau, gây trở ngại đường thở, phế không tuyên túc (lan toả, nghiêm túc, sạch sẽ), nên ho suyễn, khí ra vào làm cho đàm tích trệ phát âm thanh khò khè. Đối với việc điều trị chứng hen suyễn, trị tiêu chủ yếu là tuyên phế khứ đàm, trị bản thường bắt đầu từ ba tạng phế tỳ và thận. Trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh hen suyễn, cần phải lưu ý đến tác dụng của tạng can trong phát bệnh hen suyển. Theo đông y tạng can thuộc mộc, tạng phế thuộc kim, kim căn bản là khắc mộc, nhưng một khi phế kim bị bệnh, thì lại dễ bị mộc khí lấn át ngược lại, nhất là ở những người bị bệnh phổi mạn tính tái phát nhiều lần, hoặc can mộc uất mà hoá hoả, khắc phạt phế kim; Hoặc do can âm không đầy đủ nên hấp nhập thận thuỷ ở dưới, gọi là con lấy trộm khí của mẹ “Tử đạo mẫu khí” (盗母气), phế không trong trẻo ẩm nhuận. Vì thế mỗi khi gặp hội chứng này sẽ dựa trên cơ sở phương pháp trị liệu hen suyễn, phối hợp với các phép như: Thanh can, sơ (tiết) gan, dưỡng can, ứng dụng lâm sàng tương đối hiệu quả.
I/ Phương pháp thanh can bình suyễn
Dùng trong trường hợp hoả của can đảm mạnh, mộc hoả hình kim (phạt kim), phế bị hen suyễn vì không thanh túc (trong trẻo, nghiêm minh). Thường gặp bệnh nhân cơ thể bẩm thụ khí chất mộc hoả, hoặc do thích hút thuốc uống rượu, ăn nhiều thực phẩm ngọt béo, uẩn tích nhiệt hoá hoả, dẫn đến tướng hoả của can đảm nhiễu loạn lên trên, mộc gõ kim kêu “Mộc khấu kim minh”( 木叩金鸣). Có các chứng trạng: Ho khí suyễn hoặc có âm thanh của đàm, đầu trướng huyễn vựng, ù tai, điếc tai, mắt đỏ, miệng đắng, lưỡi hồng rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác, điều trị phỏng theo Túc can bình suyễn hợp thanh can giáng hoả. Phương dược dùng Kim qua lâu, Khổ hạnh nhân, Tang bạch bì, Ma hoàng nướng mật, Tử uyển nướng mật.
II/ Phương pháp sơ (tiết) can bình suyễn
Do tạng can không điều đạt*, khí cơ uất trệ, chứng ho suyễn do phế không tuyên giáng. Do tình chí không thông sướng, khí cơ không điều sướng, khí của tạng phế thăng giáng nghịch loạn, xuất hiện ho suyễn không ngừng, hoặc hen suyễn, cạnh sườn không thư thái, ngực ức trướng muộn, chán ăn ợ hơi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền. Điều trị phỏng theo lý phế bình suyễn hợp sơ (tiết) can giải uất. Phương dược dùng Bạch thược, Phục linh, Xuyên luyện tử, Ma hoàng nướng mật, Tử uyển nướng mật.
III/ Phương pháp dưỡng can bình suyễn
Dùng trong trường hợp can âm không đầy đủ, táo khí (khí khô ráo) bức bách lên trên, thành chứng ho suyễn, Có chứng trạng ho lâu không ngừng, thở gấp khò khè, hoặc kèm theo ho ra máu, miệng họng khô, ngực sườn không thoải mái, mạch tế sác. Điều trị theo hướng nhuận phế bình suyễn hợp dưỡng huyết nhu can, Phương dược gồm Nam sa sâm, khổ Hạnh nhân, Huyền sâm, Địa cốt bì, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Cam thảo, Ma hoàng nướng mật, Tử uyển nướng mật…
Hội chứng hen suyễn điều trị như thế nào?
Chứng hen suyễn phần nhiều do ngoại tà khuấy động mà phát bệnh. Đối với nguyên nhân bệnh, nên tìm hiểu hàn nhiệt. Thường gặp ba loại như nhiệt suyễn, hàn suyễn, hàn bao nhiệt suyễn. Điều trị chứng hàn suyễn chủ yếu dùng thang Tiểu thanh long; Nhiệt suyễn chủ yếu dùng thang Ma hạnh thạch cam, hoặc có thể dùng thang Quân khí bát tiên (Ma hoàng, Hạnh nhân, Thạch cao, Cát cánh, Hoàng cầm, Cam thảo, Tri mẫu, Bối mẫu) cũng được.; Hàn ở ngoài bao nhiệt suyễn chủ yếu dùng thang Tiểu thanh long gia Thạch cao, hoặc thang Ma Hạnh Thạch Cam gia giảm đều được. Đối với bệnh cơ thì nên giáng khí hoá đàm, giáng khí có thể dùng Tô tử, Lai bặc tử, Chỉ xác, Kim phí thảo; Trừ đàm có thể tuyển dụng thang Nhị trần, gia các loại như Nam tinh, Bạch giới tử. Phàm đó thường là thực chứng, nếu như phế khí hư, nên bổ bằng Sinh mạch; Thận hư gia Bạch thạch anh, Trinh nguyên ẩm (Cảnh Nhạc phương, thành phần gồm Đương quy, Thục địa, chích Cam thảo, các vị thuốc như Nga quản thạch, Đông trùng hạ thảo đều có thể châm chước nhập vào. Thuần là thực chứng thì không dùng thuốc thận, phế thận khí hư thì không lạm dụng Ma hoàng.
Tác dụng nạp khí định suyễn của Hắc tích đan khá rõ rệt, phàm chứng suyễn cấp, bất luận thuộc hư hoặc thực, đều có thể sử dụng, duy phải chú ý lượng dùng không thể nhiều (lượng dùng 1 lần không quá 2g, thường chỉ cần 0.5g là có hiệu quả) không nên dùng thường xuyên.
I/ Chú ý ích vệ cố biểu
Bệnh nhân hen suyễn chi khí quản, tìm hiểu bệnh sử của những bệnh nhân này có không ít bệnh nhân bị viêm mũi quá mẫn (dị ứng). Nguyên nhân tối cơ bản chính là “Vệ dương bất cố, phế khí uất bế” (卫阳不固,肺气郁闭) Phần dương bảo vệ không kiên cố, phế khí bị bế uất. Căn cứ vào điểm đặc trưng không thể tránh được là ngẫu nhiên tiếp xúc ngoại tà mà phát bệnh, như vậy vệ dương không kiên cố là nhân tố chủ yếu, phế khí uất bế là nhân tố thứ yếu. Luận theo quan hệ tiêu bản thì vệ dương không kiên cố là bản mà phế khí uất bế là tiêu.
Chỉ khi vệ dương không kiên cố sẽ dễ dẫn đến cảm mạo, và chỉ có phế khí uất bế sẽ dễ dẫn đến liên tục phát bệnh hen suyễn. Vệ dương không kiên cố là căn nguyên, phế khí uất bế là hậu quả (tiêu chứng). Vì thế ích khí cố biểu là điều quan trọng nhất. Dựa vào nhận thức này, đối với những bệnh nhân kèm theo bệnh viêm mũi hoặc dễ bị ngoại cảm phát hen suyễn thì nên đối chứng dùng thêm Ngọc bình phong tán, một mặt có thể nâng cao hiệu quả trị liệu, đồng thời có tác dụng giảm thiểu tái phát bệnh.
II/ Phần nhiều là hàn bao chứng nhiệt suyễn
Hàn bao nhiệt chứng là chứng hen suyễn thường gặp trên lâm sàng. Ngoại trừ mạch và chứng biểu hiện là hàn nhiệt cùng xuất hiện, chứng nhiệt suyễn phát ở long đông (隆冬) là những ngày rét đậm ở mùa đông, chứng hàn suyễn phát vào giữa mùa hạ “thịnh hạ” (盛夏), cả hai đều là hàn bao nhiệt suyễn mà có tính phát tác đặc thù vừa nêu.
Kinh nghiệm lâm sàng: Đối với chứng hen suyễn thuộc loại hàn bao nhiệt, ngoại trừ phần hàn nhiệt hỗ tương (như thang Tiểu thanh long gia Thạch cao hoặc Việt tỳ gia Bán hạ thang), có thể dùng phương pháp tả hạ. Trên lâm sàng dùng phương pháp tả hạ để điều trị bệnh này không chỉ giới hạn ở chứng hàn bao nhiệt, mà chỉ cần thẩm xét thuộc thực chứng thì đều có thể tả hạ.
Phương dược tả hạ: Dùng Khiên ngưu 60g, Đại hoàng 30g, hai vị cộng chung tán bột {Trung Tàng Kinh}, mỗi lần uống 6g, uống với mật hoà nước.
Ngoài ra còn có một phương trị hen suyễn tên là Định suyễn thang số II gồm Hắc Bạch sửu, Ma hoàng, Đại hoàng 3 vị lượng bằng nhau, tán thành bột dùng mật hoàn, mỗi lần uống từ 6~9g. Dùng trị chứng hen suyễn do phế nhiệt.
III/ Giảm co thắt
Hen suyễn ngoại trừ việc phải phân rõ hàn nhiệt hư thực, đối với nguyên nhân và cơ chế bệnh, ngoài việc tiến hành biện chứng luận trị, còn cần kết hợp với biện bệnh, đối chứng hạ dược (dùng thuốc theo bệnh chứng của bệnh nhân) để nâng cao hiệu quả điều trị. Trên lâm sàng có những vị thuốc có tác dụng giảm co thắt nư: Bạch cương tàm, Bạch phụ tử, Câu đằng, Địa long, Bạch thược, Toàn trùng, Tế tân…, châm chước dùng khoảng 2 vị, đã được xác định có hiệu quả hoãn giải co thắt.
Biện chứng hen suyễn có thể phân thành mấy loại hình?
I/ Chứng hàn suyễn nặng
Đặc trưng chủ yếu là suyễn ho, ghét lạnh, không có mồ hôi, vai đông cứng, hắt hơi nhiều, hoặc đau đầu nghẹt mũi, đàm trắng lỏng, lưỡi trắng, tứ chi lạnh, mạch phù khẩn, miệng không khát mà nhầy, hoặc khát thích uống nước nóng. Điều trị nên ôn phế tán hàn, phương thang dùng trước tiên là thang Tiểu thanh long, kế là uống thang Gia vị Định suyễn Bạch quả. Tiểu thanh long thang (Ma hoàng 10g, Thược dược 15g, chích Thảo 7.5g, Nhục quế 5g, Can khương 5g, Tế tân 2.5g, Bán hạ 7.5g, Ngũ vị tử 5g). Gia vị Định suyễn Bạch quả thang (Bạch quả (sao) 15g, Ma hoàng 10g, Khoản đông 15g, Bán hạ 10g, Tang bì nướng 15g, Tô tử 15g, Hạnh nhân 15g, Hoàng cầm 10g, Cam thảo 7.5g, Xuyên bối 5g).
I/ Chứng hàn bao hoả
Chứng trạng sợ gió ghét nóng, suyễn ho, đàm đặc dính màu vàng, mạch huyền hoạt sác, rêu lưỡi vàng, cạnh lưỡi hồng sáng, miệng khô.
Trị pháp : Thanh kim giáng hoả
Phương thang đầu tiên: Gia vị ngũ hổ thang (M hoàng 10g, Hạnh nhân 10g, Thạch cao 15g, Cam thảo 7.5g, Trà diệp 5g, Tang bì 15g, Mã đâu linh 7.5g). Kế tiếp uống thang Ma sài cam thấu (Ma hoàng, Sài hồ, Cam thảo mỗi vị 10g, Thấu cốt thảo 15g).
III/ Chứng Phế thực
Suyễn ho, cổ họng như bị lấp lại, khạc đàm khó khăn, ngực sườn đau trướng. Rêu lưỡi vàng nhầy, mạch huyền hoạt hoặc trầm sác.
Trị pháp: Thanh phế lý đàm
Phương thang đầu tiên dùng Gia vị thanh táo cứu phế thang (Thiên đông 15g, Mạch đông 15g, Cam thảo 7.5g, Tri mẫu 10g, Quất hồng 10g, Hoàng cầm 10g, Tang bì 15g, Hạnh nhân 15g, Chỉ xác 15g, Cát cánh 10g, Mao căn 20g, Lâu nhân 15g)
Phương thang kế tiếp: Hạnh nhân tán (Hạn nhân, Bối mẫu, Tử uyển, Đông hoa, Nguyên sâm), người trưởng thành uống mỗi lần 10g, trẻ em châm chước giảm lượng, chiêu bàng nước mật gừng.,
IV/ Chứng ứ tắc
Ngực ức bế tắc bực bội, sợ lạnh, tinh thần mỏi mệt, thở ngắn suyễn xúc, khạc đàm khó, chất lưỡi trắng, rêu lưỡi nhầy bẩn, mạch trì sáp.
Trị pháp: Khai hung lợi cách
Phương thang đầu tiên: Tô tử giáng khí thang (Tô tử 15g, Quất hồng, Bán hạ, Đương quy, Tiền hồ, Quế chi, Hậu phác đều 10g, Chích thảo 7.5g).
Phương thang kế tiếp: Quế chi gia Hậu phác Hạnh nhân (Hạnh nhân 5g, Quế chi 15g, Thược dược 15g, Chích thảo 10g, Sinh khương 5g, Hậu phác 15g, Đại táo 10g), sắc uống, sau khi uống thuốc một lát ăn một chén cháo để hỗ trợ lực thuốc.
Trong điều trị nên tuân thủ nguyên tắc điều trị bệnh suyễn: Khi bệnh phát tác thì điều trị ngọn, lúc bình thường thì điều trị căn bản. Khi bệnh phát tác định suyễn trị ho là chính, sau khi cắt cơn suyễn thì chú trọng điều lý tỳ vị, dùng dược phẩm tư bổ phế thận, hoá đàm điều khí để củng cố hiệu quả trị liệu.
Trên lâm sàng hay gặp nhất là chứng hàn nặng, kế đến là hàn bao hoả, nhiều nhất ở trẻ trong độ tuổi từ 1~10 tuổi. Một nửa số trẻ nếu không được chăm sóc cẩn thận, rất dễ cảm thụ hàn tà phát sinh hen suyễn.
Hai phương Hạnh nhân tán và Ma sài cam thấu thang là hai phương kinh nghiệm tự chế, Hạnh nhân tán có tác dụng tốt đối với ho suyễn phế thực chứng, thang Sài ma cam thấu có tác dụng tốt đối với chứng ho suyễn hàn bao hoả.
Các phương pháp điều trị hen suyễn thường sử dụng là gì?
Bất luận do nguyên nhân bên trong hoặc nguyên nhân bên ngoài gây ra chứng hen suyễn, thì bệnh cơ đều chính là tình trạng thăng giáng xuất nạp thất thường của khí cơ, khiến cho khí của phế không tuyên không giáng, không nạp gây ra. Vì thế đối với việc điều trị hen suyễn, then chốt là điều chỉnh khí cơ thuận lợi, mà điểm chính yếu của điều chỉnh khí cơ có thể bao quát gồm ba phép là : Tuyên (lan toả), giáng và nạp, vì phế khí tuyên (lan toả) là công dụng của phế khí, giáng xuống là thuận xuống, nạp là ích lợi (thụ nạp vào thận). Được phân ra và trình bày ở phần dưới.
I/ Phép Tuyên
Tức là phương pháp tuyên sướng phế khí. Phế khí lan toả thông sướng, phân bố khí ra mọi nơi là công dụng của phế khí. Phế khí chỉ khi tuyên đạt (lan toả ra mọi nơi), thuận sướng, mới có thể hấp nhập thanh khí, hô xuất trọc khí, để duy trì nhu cầu cần thiết của sự sống.
Nếu trong phổi có tiềm ẩn đàm ẩm, lại thêm cảm thụ ngoại tà, hoặc ăn uống không cẩn thận, tinh thần bị tổn thương, khuấy động đàm tiềm phục khiến phế khí không tuyên, phát thành hen suyễn. Dùng trị pháp tuyên trọc để tuyên thông phế khí. Trên lâm sàng căn cứ nguyên nhân bệnh khác nhau, phép tuyên trọc cũng cụ thể phân thành: “Ôn tuyên pháp” (温宣法) phép tuyên thông ấm áp , “Thanh tuyên pháp” (清宣法) phép tuyên thông mát mẻ , “Khứ tuyên pháp” (祛宣法) phép tuyên thông trừ khứ. Tức là chứng hen do lạnh (lãnh hen) ôn tuyên để thông; Nhiệt hen dùng phép thanh tuyên để thông; Trọc hen thì dùng phép khứ tuyên để thông.
①Ôn tuyên pháp
Phương pháp Ôn tuyên là dùng phương dược cay ấm, để ôn tán hàn tà bó buộc phế, phân giải hỗ kết của hàn và đàm, từ đó phế khí được tuyên sướng, thu được công dụng chỉ suyễn và trị hen, đây là phương pháp điều trị chứng hen do lạnh, là chứng hen suyễn do cảm thụ phong hàn, hoặc do ăn thực phẩm sống lạnh mà dụ phát bệnh, hen suyễn cấp bách, ngực phiền muộn, thở gấp, thân thể lạnh, chân tay lạnh, mặt xanh, môi tím tái, đàm trắng dính, rêu lưỡi trắng nhầy, mạch huyền hoạt, trong họng có âm thanh của gà nước, trong phổi có tiếng khò khè. Dùng thang Xạ can ma hoàng hợp thang Tiểu thanh long gia giảm, thành phần gồm Xạ can, Ma hoàng, Tế tan, Pháp Hạ, Quế chi, Sinh khương, Ngũ vị, Cam thảo…. Ma, Tế, Khương, Quế đều là những vị thuốc tân ôn tán hàn tuyên phế, nhất là vị Tế tân tân ôn tẩu thoán, thông quan khiếu, là mũi nhọn khai thông khí đạo, đã mở quỷ môn, làm sạch biệt phủ, chính là chủ dược của tuyên phế bình suyễn. Sinh khương, Bán hạ chuyên hoá hàn đàm, Xạ can, Quế chi, hàn ấm đều có thể dùng, thuận lợi yết (cổ họng) thông trệ, dùng Ngũ vị làm tá dược để thu liễm phế khí và đề phòng tuyên tán quá độ mà tổn hại phế khí, Cam thảo điều hoà chư dược mà bản thân cũng có tác dụng bình suyễn. Như vậy thì hàn tán, đàm hoá và khí đạo thông sướng, hen suyễn tự ngừng.
②Thanh tuyên pháp
Là dùng phương dược có tính hàn lương (lạnh mát), để thanh nhiệt hoá đàm, tuyên thông phế khí, từ đó trở thành một loại trị pháp cho bệnh hen suyễn. Trị pháp này thích hợp với chứng hen suyễn nhiệt chứng do đàm và nhiệt giao kết gây nghẽn tắc đường thở gây nên. Loại hen suyễn nhiệt chứng có âm thanh hen suyễn cao, hơi thở mạnh, lồng ngực trướng khí thô, bành trướng lên như khí không thể dung nạp, so vai há miệng, ngồi thở khó có thể nằm, thở ra nhanh, hoặc kèm theo sốt, miệng khô nhiều mồ hôi, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch hoạt sác. Trong họng có tiếng như kéo cưa, trong phổi có tiếng khò khè, có cả ran khô và ướt (thường do cảm nhiễm kéo theo). Thường dùng thang Thanh tuyên bình suyễn tự hiệu đình tức là thang Ma hạnh thạch cam gia Đình lịch tử, Mã đâu linh đắng lạnh giáng khí, Tang bạch bì, Trúc lịch ngọt lạnh nhuận phế, hợp lại để sử dụng, khiến phế nhiệt được thanh tiết (mát và tiết nhiệt ra ngoài), đàm nhiệt được hoá giải, khứ trừ cả hai, khí đạo tự thông, chứng hen suyễn tự giải.
③Khứ tuyên pháp
Là trị pháp khứ trục phong tà. Hen suyễn do quá mẫn cảm, bệnh đến rất nhanh, mà hết cũng nhanh, phù hợp với đặc điểm của phong tà “Thiện hành số biến” (善行而数变) vị trí bất định, phát bệnh rất nhanh, biến ảo vô thường (xem chú giải ở cuối), vì thế việc xếp bệnh tà quá mẫn cảm thuộc về phong tà là tương đối thoả đáng, phép khứ tuyên bình suyễn, dùng cho chứng hen suyễn phong tà thiên thắng (thiên về phong tà), có các chứng trạng như đột nhiên phát tác, ngực khó chịu khó thở, ngứa họng, sặc ho, ít đàm hoặc không có đàm, rêu lưỡi sạch sẽ, mạch phù hoạt, thường dùng Khứ phong thang (Nghiệm phương tự chế): Phòng phong 10g, Kinh giới 10g, Bạch chỉ 6g, Tế tân 3g, Địa long 10g, Thuyền y 6g, Mộc hồ điệp 5g, Bạc hà 6g, Thương nhĩ tử 10g, Cam thảo 10g. Bệnh phong thắng thì nhẹ nhàng, hay khách (đến ở) thượng tiêu, vì thế nên dụng dược nhẹ nhàng, mà chất thuốc nên nhẹ như Kinh, Phòng, Tân, Thuyền y, Mộc hồ điệp…. Dược tính nhẹ nhàng, tuyên tiết thượng tiêu, có thể có được công dụng khứ phong trị hen, như câu nói : “Thượng tiêu như vũ, phi khinh bất cử” (上焦如羽,非轻不举) Thượng tiêu như lông chim, không nhẹ không lên được.
II/ Giáng pháp
Là phép thông giáng phế khí, phế chủ về túc giáng (nghiêm túc trong sạch) thanh túc hạ giáng là thuận, nghẽn tắc phun lên là nghịch, tình trạng nghẽn tắc của phế khí thường do đàm ẩm phục sẵn ở bên trong, lại cảm thụ ngoại tà khuấy động. Nên đàm và khí giao kết với nhau gây nghẽn tắc khí đạo, phát thành hen suyễn. Vì thế điều trị chứng hen suyễn thường dùng phép giáng khí. Trên lâm sàng dựa theo hội chứng phân thành hai phép sau:
① Phép lý khí giáng nghịch
Là phương thang gồm các vị thuốc có các tác dụng như trừ đàm, khoan hung (thoáng lồng ngực), hạ khí, dùng điều trị chứng hen suyễn do đàm khí giao nhau gây trở ngại khí đạo, xuất hiện các chứng trạng như phát tác cơn hen suyễn, thở mạnh, âm thanh cao, trong họng đàm khò khè như kéo cưa, ngực khó chịu hơi thở thô, nhiều đàm dãi, hoặc lợm giọng buồn nôn, rêu lưỡi dày nhầy, mạch hoạt hoặc huyền hoạt. Có thể dùng thang Tô tử giáng khí, hợp thang Tam tử dưỡng thân: Tô tử, Bạch giới tử, Lại bặc tử, Quất hồng, Bán hạ, Đương quy, Tiền hồ, Hậu phác, Sinh khương, Quế chi, Trầm hương, Cam thảo. Phương này có tam tử, Quất hồng, Bán hạ, Tiền hồ là những chủ dược trừ thực đàm, trong có Lai bặc tử, Quất hồng, Hậu phác, Trầm hương là những vị thuốc phụ trợ có tác dụng khoan hung hạ khí, Đương quy, Quế chi, Can khương, Cam thảo có khả năng thông lợi huyết mạch, vì phế triều bách mạch (trăm mạch đều tụ hội tại phế), nếu bách mạch thông lợi thì có lợi cho phế khí hạ giáng. Toàn phương có thể trừ đàm giáng khí, lại có thể thông lợi huyết mạch, khí đạo đã thông, hen suyễn tự an.
②Phủ để trừu tân pháp (釜底抽薪法)
Phương pháp rút củi đáy nồi
Phế và đại tràng có tương quan biểu lý, nếu phế khí không giáng, thì đại tiện khó thông, nếu đại tiện không thông thì phế khí khó giáng xuống, cả hai đều có thể dụ phát hoặc tăng nặng chứng hen suyễn. Thường hay gặp ở loại hình hen suyễn phế nhiệt đàm kết, hoặc đã phát hen suyễn mà kèm theo nhiệt kết ở đại tràng. Xuất hiện phát tác cơn hen suyễn, âm thanh hen suyễn vang và rõ, ngực phiền muộn, bụng trướng, đại tiện táo bón, nhiều ngày không thông, hoặc kèm theo trên trán nhiều mồ hôi, miệng khô khát, lưỡi có màu hồng sậm, rêu lưỡi vàng dầy, mạch hoạt sác. Có thể dùng thang Tuyên bạch thừa khí gia vị, để thanh phế giáng khí, hoá đàm thông hạ, thành phần gồm sinh Đại hoàng, sinh Thạch cao, Hạnh nhân, Qua lâu, Tang bạch bì, Chỉ thực, Hậu phác, Lai bặc tử. Táo bón nặng gia Mang tiêu. Nếu tình trạng bệnh cấp bách, không tiện uống thuốc thang, cũng có thể dùng riêng một vị Đại hoàng phấn từ 3~5g uống với nước, mỗi ngày 2~3 lần cũng có hiệu quả.
III/ Nạp pháp
Phế khí là sự kết hợp giữa hô và hấp (thở ra và hít vào) hỗ trợ lẫn nhau của lan toả và thu vào (tuyên nạp) đó là sự yên ổn. Nếu phế khí chỉ hô mà không hấp (chỉ thở ra mà không hít vào) hoặc chỉ hít vào mà không thở ra thì phế khí sẽ cạn kiệt. Nếu tuyên đa nạp thiểu (lan toả nhiều thu nạp ít), thì phế khí sẽ háo tán không còn căn bản mà sẽ hình thành chứng hư suyễn. Còn nếu nạp đa tuyên thiểu (thu nạp nhiều, lan toả ít), thì phế khí sẽ nghẽn tắc mà thành chứng suyễn. Chính là vì thăng giáng xuất nhập của phế khí có quan hệ mật thiết với việc hình thành nguyên nhân của bệnh hen suyễn. Phép nạp khí thường chỉ dùng cho chứng suyễn đơn thuần mà không bị hen, thường thấy trong thời kỳ ngắt quãng của bệnh hen suyễn mạn tính, không hen chỉ suyễn đơn thuần, hoạt động là thở hổn hển, thở cấp bách. Trên lâm sàng căn cứ theo hội chứng khác nhau, mà sử dụng hai liệu pháp khác nhau: Phép bổ thận nạp khí và Trấn nạp phù dương pháp.
① Phép bổ thận nạp khí
Phép bổ thận nạp khí dùng trị chứng hư suyễn do phế thận lưỡng hư, có các chứng trạng như hơi thở ngắn và gấp, suyễn nhẹ và gấp, dễ xuất mồ hôi, hoạt động thì chứng trạng tệ hơn, thường kèm theo vựng đầu ù tai, eo lưng ê ẩm, chân đùi mỏi yếu, tiểu đêm nhiều, mạch xích nhược. Có thể dùng Nhân sâm Cáp giới tán gia giảm, thiên về phế khí hư, nhiều mồ hôi dễ bị cảm và ho, gia Ngọc bình phong tán, Ngũ vị, Tử uyển; Thiên về thận khí hư, dương hư sợ lạnh, eo đùi mỏi yếu, liệt dương, tiểu đêm nhiều, gia Hồ đào nhục, Tiên linh tỳ, Nhục thung dung, Nga quản thạch…Thiên về âm hư, ngũ tâm phiền nóng, đạo hãn, miệng khô mà không muốn uống, gầy gò, mạch tế sác, gia Thục địa, mạch đông, Ngũ vị tử, hoặc thay bằng thang Mạch vị địa hoàng
②Phép trấn nạp phù dương
Phép trấn nạp phù dương dùng cho chứng hen suyễn nhiều năm, chính khí đã hư tổn cực độ, nguyên khí háo tán, bệnh nhân suyễn súc cấp bách, hơi thở nông và ngắn, xuất mồ hôi chân tay lạnh, mặt sắc hồng phấn hoặc trắng xanh, hoảng hốt như sắp đứt hơi, mạch vi tế hoặc phù tán vô căn. Tuyển phục Nhân sâm Hắc tích đan hoặc Sâm phụ long mẫu thang.
Nghiên cứu hội chứng và điều trị bệnh hen suyễn chi khí quản là gì?
Hen suyễn là bệnh có nguồn gốc lâu năm, thường do cảm lạnh hoặc mệt mỏi mà gây nên. Đặc điểm của hội chứng và trị liệu: Hen suyễn bạo phát, biểu chứng nổi bật, trị liệu trước tiên phải phát tán khứ tà, chủ yếu dùng Hoa cái tán. Biểu tà đã giải, đường đã được mở thì đàm tự thuận lợi và khí tự hạ, túc giáng trở lại và hen suyễn tự ngừng. Nếu gặp lạnh mà phát hen suyễn thì chính là Tiểu thanh long chứng của Trọng Cảnh tiên sinh, Nội nhiệt ngoại hàn, còn gọi là “Hàn bao nhiệt” (寒包热), tuyển thang Việt tỳ gia Bán hạ, thang Ma hạnh thạch cam, hàn nặng hơn nhiệt có thể tuyển dụng thang Đại thanh long gia giảm, đàm tích, uẩn nhiệt, phế khí ủng trệ lên trên, xuất hiện ngứa họng, bị sặc từng trận, đàm vàng đặc, khạc thổ khó khăn, bực bội, tự hãn, mạch huyền hoạt sác, rêu lưỡi vàng, cạnh lưỡi và đầu lưỡi hồng, nên dùng Ma hoàng, Xạ can, sinh Thạch cao, Chỉ xác, Cát cánh, Bạch Hạnh nhân, Đình lịch, Cam thảo, Lai bặc tử…để tả phế hoá đàm, hạ khí thanh nhiệt.
Đàm hoả uẩn chưng (chưng hấp) bức bách phế kim ở trên, dương minh thông giáng thất thường, xuất hiện số lần bệnh phát tác nhiều và liền nhau, nhiều lần trong một ngày đêm, bệnh nhân chỉ có thể phủ phục mà không thể nằm ngửa, sặc đàm từng trận, thổ ra đàm vàng đặc hoặc như bọt, ngực sườn đầy trướng khó chịu, táo bón, mạch sác có lực, chất lưỡi hồng, miệng khô, nhanh chóng dùng Cổn đàm hoàn, thang Thừa khí theo xuống dưới để giải quyết, “hiệu như phu cổ” (效如桴鼓) hiệu quả tức thì (như dùi gõ vào trống là kêu ngay), đàm và hoả uất kết, dương khí bị ngăn trở, doanh vệ phân tranh, xuất hiện hen suyễn phát tác, ho tức ngực, kèm theo hàn nhiệt vãng lai, giống như sốt rét, hai bên sườn trướng đầy, nên dùng phép sơ tiết điều đạt cho mộc uất, dùng phép phát tiết cho hoả uất, có thể dùng Sài hồ, Xạ can, Chỉ thực, Cát cánh, Phục linh… Tả thổ một lượng lớn ngoan đàm khiến khí tự thuận và hen suyễn tự ngừng.
Trẻ em hen suyễn, phần nhiều là hàn bao nhiệt, thường thang Ma hoàng Xạ can, thang Đình lịch đại táo tả phế hoặc thang Hoàng cầm Bán hạ gia giảm, cẩn thận đừng dùng thang Tiểu thanh long.
Bệnh hen suyễn lúc bình thời ( không phát tác) nên chú ý điều trị căn bản, nên ôn trung kiện vận, để ngăn chặn nguồn sinh đàm, bổ phế ích khí, để tăng năng lực kháng bệnh, người viết chế ra phương thuốc hoàn như sau: Tử hà Xa 30g (hiện nay đã cấm sử dụng vị thuốc này), Lộ đảng sâm 30g, Bạch truật sao 60g, Bạch Phục linh 43g, Tô tử 30g, Khoản đông hoa 45g, toàn Đương quy 45g, Quế chi 21g, Bạch thược 30g, Trần bì 20g, pháp Bán hạ 30g, Kê nội kim sao 30g, tiêu Thần khúc 30g, Kim mao cẩu tích 30g, Lộc giác giao 30g. Các vị thuốc cộng chung tán thành bột, luyện thành hoàn, hoàn như hạt đậu xanh, uống sáng và chiều, mỗi lần 6g, uống với nước.
Dùng tia tử ngoại trị bệnh hen suyễn như thế nào?
Dùng tia tử ngoại chiếu xạ kinh lạc huyệt đạo, biện chứng luận trị với đối tượng cụ thể phân tích cụ thể, dùng tễ lượng và liệu trình phù hợp, có thể thu được hiệu quả mãn ý. Quan sát lâm sàng trị liệu chứng minh, bệnh nhi thu được hiệu quả trị liệu tốt hơn nhiều so với người trưởng thành, chứng hen suyễn có quá trình bệnh ngắn cũng thu được hiệu quả khá tốt, tần suất phục phát cũng tương đối khá thấp. Bệnh nhân dương hư thích hợp nhất với trị pháp này, huyệt đạo sau khi chiếu xạ, có cảm giác ấm áp sảng khoái, mức độ sợ lạnh giảm nhẹ, ăn uống được cải thiện, tăng trọng, số lần cảm mạo giảm. Phương pháp như sau:
I/ Thiết bị sử dụng: Đèn thạch anh thủy ngân dạng đứng 500W.
II/ Dùng các huyệt:
Phế dương hư——Đại chuy, Phế du, Cao manh, Chiên trung.
Phế thận dương hư——Dùng các huyệt trên gia Mệnh môn, Thận du.
Phế tỳ thận dương hư—–Các huyệt trên lại gia thêm Tỳ du, Túc tam lý.
III/ Tễ lượng và liệu trình
Nắm vững chính xác tễ lượng, chính là mấu chốt để thu được hiệu quả điều trị. Nếu tễ lượng quá ít, hiệu quả sẽ không nhiều, tễ lượng quá nhiều, không những không thu được hiệu quả, mà có khi còn làm cho chứng trạng tăng nặng.
Điều rất quan trọng là mỗi người cần xác định liều lượng sinh học, điều này không thể bỏ qua. Các huyệt trên lưng thường bắt đầu bằng 2 sinh cơ, sau đó mỗi lần thêm 1/2 đến 1 sinh khối cho đến khi có phản ứng nổi ban đỏ nhẹ.
Huyệt Mệnh môn thường có thể bắt đầu với 3 sinh khối, sau đó thêm 1 đến 2 liều sinh học mỗi lần. Chiếu xạ cách ngày một lần, một đợt điều trị 6-15 lần. Nếu cần thiết, nếu chứng vẫn thuộc về dương hư, có thể lặp lại một đợt điều trị. Tuy nhiên, khoảng cách giữa hai đợt điều trị không được quá gần nhau và không được ít hơn 3 tháng. Nếu sau một năm chiếu xạ đầu tiên cơn bệnh ngừng lại, và nếu đến mùa hè năm sau (tam phục thiên) mà hội chứng vẫn còn thuộc dương hư, thì có thể chiếu xạ lại để củng cố tác dụng chữa bệnh.
IV/ Những vấn đề nên chú ý:
①Trước khi chiếu xạ, nên nói rõ với bệnh nhân cảm giác thường gặp sau khi dùng loại trị pháp này, để tránh bệnh nhân căng thẳng.
② Khi chiếu xạ lần 2, thế nằm của bệnh nhân phải tương đồng với thế nằm của lần thứ nhất, Khăn lau huyệt (khăn hang) nên được đặt ở vị trí có sắc tố ban đầu và không được dịch chuyển, để tránh bị bỏng và ảnh hưởng đến hiệu quả chữa bệnh.
③Hãy chắc chắn che nơi không được chiếu sáng bằng vải.
④Trong quá trình điều trị, cần theo dõi chặt chẽ tình trạng và phản ứng, đồng thời thường xuyên chú ý đến những thay đổi trên da và lưỡi của vùng chiếu xạ của bệnh nhân, nếu màu da quá sẫm hoặc bong tróc, lưỡi có màu đỏ , hoặc phản ứng bất lợi xảy ra, cần tiến hành nghiên cứu và xử lý kịp thời.
Sử dụng liệu pháp “Giác hơi” để điều trị bệnh hen suyễn phế quản như thế nào?
Thích hợp với bệnh nhân dương hư khi bệnh phát tác nhẹ hoặc thời kỳ bệnh không phát tác (thời kỳ hoãn giải).
Dùng các huyệt : Đại chuy, Phế du, Cao manh, Định suyễn, Chiên trung, Túc tam lý. Mỗi lần có thể chọn từ một đến một số huyệt để giác hơi, mỗi ngày hoặc cách ngày giác hơi một lần, mỗi lần lại thay đổi vị trí giác hơi, 10 ~ 20 ngày là một liệu trình, giác hơi có các bước thao tác như sau:
I/ Chuẩn bị lọ giác hơi, kim tiêm, cồn, diêm, bông gòn, v.v.
II/ Chọn ống giác hơi phù hợp theo vị trí giác hơi. Ống giác lớn phù hợp với nơi có diện tích rộng, cơ bắp dày, bể nhỏ phù hợp với nơi có diện tích nhỏ, cơ bắp mỏng.
III/ Phương pháp đánh lửa: Phương pháp kéo lửa, thích hợp cho việc kéo bình giác hơi theo chiều ngang. Phương pháp đốt lửa phù hợp với giác dọc.
IV/ Thời gian giữ lọ giác phải được xác định theo điều kiện, vị trí và kích thước của lọ. Thông thường, lọ giác lớn được để trong 10 phút và lọ giác nhỏ được để trong 10 đến 15 phút.
V/ Khi nhấc lọ giác lên, dùng một tay ấn vào vùng da xung quanh miệng lọ, tay kia ấn vào lọ và hơi nghiêng sang một bên, giác hơi có thể rơi ra tự nhiên khi không khí đi vào lọ .
VI/ Sau khi lấy lọ giác ra, nếu da có màu tím đen, nổi mụn nước hoặc nứt da thì nên dùng gạc vô trùng bao lại hoặc bôi thuốc tím gentian để tránh nhiễm trùng.
Điều trị hen phế quản bằng điện cảm ứng và điện một chiều bấm huyệt như thế nào?
Phương này phù hợp với trường hợp hen nặng kịch phát cơn cấp kèm theo yếu tố ngoại cảm thực suyễn.
I/ Dùng huyệt:
Huyệt ở tai (nhĩ huyệt): Phế khu, Định suyễn, Thận thượng tuyến.
Thể huyệt (huyệt trên cơ thể) : Đại chuy, Thiên đột, Phế du, Chiên trung, Thần môn, Thái uyên, có khi gia Phong long Túc tam lý hoặc Hợp cốc.
II/ Lượng trị liệu:
Dòng điện cảm ứng và dòng điện một chiều được giới hạn ở lượng dòng điện mà bệnh nhân có thể chịu được và có cùng cảm giác dẫn truyền. Mỗi ngày 1 lần, mỗi huyệt 5-10 phút (tổng thời gian không quá 30 phút). Sau 20-25 lần bệnh thuyên giảm, đổi lại là cách ngày 1 lần. Những người không phát bệnh có thể củng cố hiệu quả trị liệu với mỗi tuần một lần và thực hiện nhiều lần.
III/ Thận trọng khi vận hành:
Các điện cực điểm được đặt trên các huyệt đạo, áp lực phải đồng đều và hướng phải thẳng đứng, đặc biệt là huyệt Thiên đột. Liều lượng nên kích thích mạnh nhưng phù hợp để bệnh nhân không cảm thấy đau nhói. Chú ý đến độ ấm của điểm điện cực (đặc biệt là vào mùa đông), lắng nghe và ghi lại phản ứng sau điều trị và tình huống cải thiện hen suyễn của bệnh nhân.
Chữa bệnh hen phế quản bằng châm cứu như thế nào?
Thiệu Trường Vinh báo cáo rằng để điều trị bệnh hen suyễn bằng châm cứu, thông thường dùng các huyệt là Đại chuy, Phế du, Thiên đột, Suyễn tức,v.v là những huyệt chính. Người ta cũng báo cáo rằng châm cứu tại các điểm Nội quan và Nghênh hương đã đạt được kết quả khả quan trong điều trị các cơn hen cấp tính. Đối với các cơn hen suyễn do ho nặng, châm cứu tại huyệt Ngư tế thường có tác dụng nhanh chóng làm ngừng ho và thở khò khè.
Chu Thuỵ Quần báo cáo: Vài phút sau khi đâm một nhát vào điểm Yuji (kích thích mạnh), cơn hen suyễn có thể thuyên giảm. Theo thống kê của bệnh viện Shuguang Thượng Hải, hiệu quả chữa bệnh tức thời của phương pháp này có thể đạt tới 70%, trong quá trình châm cứu, tiếng khò khè nghe được ở phổi giảm dần hoặc biến mất, nhưng rất dễ lặp lại và kéo dài trong thời gian ngắn. Thuỷ châm, laser, điện châm và các phương pháp khác cũng có hiệu quả nhất định trong điều trị hen suyễn, các huyệt thường dùng phần nhiều gồm Suyễn tức, Phế du, Đại chuy…Ngoài ra dùng dịch tiêm Hoàng kỳ 2ml, tiêm vào Túc tam lý, huyệt Thiên phụ mỗi tuần 1 lần cũng có thể thu được hiệu quả.
Ứng dụng ion thấu nhập huyệt vị để trị hen suyễn, điều trị nên căn cứ theo biện chứng, phân biệt tuyển chọn hàn tính, nhiệt tính khác nhau của thuốc, huyệt vị thường dùng như Bách lao, Cao manh, phế du, tổng tần suất hữu hiệu là 75%~90% . Kiểm trắc bệnh nhân sau khi điều trị, hoạt lượng của phổi và dung tích phổi tối đa trong giây đầu tiên đều có sự thay đổi rõ rệt.
Theo báo cáo của Vương Toàn Thụ: Kết hợp giữa châm thích và cấy chỉ cho hiệu quả cao hơn so với việc chỉ dùng đơn thuần châm thích hoặc cấy chỉ, điều trị 196 trường hợp, tổng tần suất hữu hiệu đạt 93.3%.
Báo cáo của Sài Tiêu: Dùng thuỷ châm trên các vị trí huyệt để điều trị 21 trường hợp hen suyễn ngoan cố, trị khỏi 13 trường hợp, hiệu quả rõ rệt 3 trường hợp, có hiệu quả 2 trường hợp, vô hiệu 2 trường hợp.
Báo cáo của Trần Đề: Vận dụng huyệt vị điều trị bằng thuỷ châm, dùng dịch tiêm hạch toan, hư chứng dùng dịch tiêm thai bồn, dùng biện chứng trung dược điều ntrij 50 trường hợp hen suyễn, tổng hữu hiệu dạt 94%
Những nghiên cứu tiến bộ biện chứng luận trị của bệnh hen suyễn là gì?
Biện chứng luận trị là phương pháp điều trị truyền thống được hầu hết các thày thuốc tuân theo, trên cơ sở phân biệt rõ rệt hư thực hàn nhiệt, dưới tiền đề (điều kiện đầu tiên) phân rõ tiêu bản hoãn cấp, đại đa số đều tuân thủ nguyên tắc “Phát tác thời trị tiêu vi tiên, bình thời phù chính vi chủ” (发作时治标为先,平时扶正为主) bệnh khởi phát, trị triệu chứng trước, và bồi bổ cơ thể lúc bình thường là trị pháp chủ yếu, nhưng trên phương diện trị pháp cũng có những ưu điểm riêng, có người chủ trương chủ yếu là khứ trừ bệnh tà, cũng có người chú trọng bổ hư (thân cường tật nhược), cũng có ý kiến cho rằng nên dựa theo phân loại hình tiêu bản hư thực, cũng có người phân theo thời kỳ bệnh phát tác hay hoãn giải, tuy nhiên điểm nặng nhẹ của mỗi bên đều có khác biệt, nhưng đều thu được hiệu quả tương đối vừa ý trên lâm sàng.
I/ Điều trị bệnh theo phân hình Tiêu Bản Hư Thực
①Trị tiêu túc phế, trị bản bổ thận Theo báo cáo của Lý Truyền Phương: Khi phác tác trị tiêu trị phế dùng phương cơ bản: Ma hoàng, Đình lịch tử, Tế tân, Xạ can, Ngũ vị tử, Ô mai, Anh túc xác, Hoàng kỳ…tuỳ chứng gia giảm; Thời kỳ bệnh hoãn giải, điều trị căn bản, bổ thận dùng Sâm cáp tán, Tỳ hư gia thang Lục quân tử, thận dương hư gia Kim quỹ thận khí hoàn, thận âm hư gia Lục vị địa hoàng hoàn…Tổng cộng điều trị 30 trường hợp, tổng tần suất hữu hiệu là 93.3%.
②Công bổ kiêm thi, cương nhu tương tế Lê Bỉnh Nam cho rằng: Bệnh hen suyển thuộc bản hư tiêu thực, điệu trị nên công bổ kiêm thi (công và bổ kèm nhau), cương nhu tương tế (cương nhu giúp đỡ nhau). Khi phát tác dùng Phương số 1 thành phần gồm: ( Ma hoàng, Quế chi, Mao đông thanh, Tô tử, Đình lịch tử, Nga quản thạch, Ngũ vị tử, Đảng sâm, Bạch truật, chích Cam thảo); Thời kỳ hoãn giải dùng phương số 2 thành phần gồm : (Thục địa hoàng, Đương quy, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, chích Cam thảo, Trần bì, Bán hạ, Ngũ vị tử), tuỳ chứng gia giảm.
II/ Điều trị theo thời kỳ bệnh phát tác và thời kỳ hoãn giải
① Chủ trương của Tiền Lâm, thời kỳ phát tác của bệnh hen suyễn phân thành 4 loại hình Phong nhiệt xâm phạm phế loại hình nhẹ dùng Tang cúc ẩm hợp với thang Tang hạnh, loại hình nặng dùng thang Ma Hạnh Thạch Cam hợp Tả bạch tán; Phong hàn đàm suyễn dùng thang Tiểu thanh long gia giảm; Loại hình tỳ hư đàm thấp dùng thang Linh quế truật cam hoặc thang Linh quế dĩ cam hợp thang Nhị trần gia giảm; Loại hình phế hư ho suyễn dùng thang Quế chi gia Hậu phác Hạnh tử. Thời kỳ hoãn giải dùng Kiện tỳ ích phế tán (Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Bán hạ, Hạnh nhân, chích Cam thảo, bào chế thành thuốc tán để uống).
② Theo báo cáo của Trương Bái Cầu, Lưu Quốc An Thời kỳ phát tác và hoãn giải của bệnh hen suyễn. Dựa theo biện chứng luận trị phân thành 3 loại hình, sử dụng các trị pháp khác nhau, Thời kỳ phát tác: 1/ Loại hình hàn đàm trở (nghẽn tắc) phế, dùng thang Tiểu thanh long gia giảm; 2/ Loại hình đàm nhiệt trở (nghẽn tắc) phế, dùng Tả bạch tán hợp thang Ma Hạnh thạch cam; 3/ Loại hình khí uất đàm nghẽn tắc phổi, điều trị bằng thang Tam tử dưỡng thân, hợp thang Nhị trần gia giảm.
Thời kỳ hoãn giải: 1/ Phế khí bất túc, điều trị dùng Sinh mạch tán hợp hợp thang Tô tử giáng khí gia giảm; 2/ Loại hình tỳ khí hư nhược, điều trị dùng thang Lục quân tử gia giảm. 3/ Loại hình thận không nạp khí, thiên về dương hư, để ôn bổ thận kèm theo nạp khí, dùng Thận khí hoàn hợp Sâm cáp tán; Thiên về thận âm hư, tư bổ thận âm để nạp khí, dùng Thất vị đô khí hoàn hợp Sâm cáp tán.
③ Mã Nhân Mỹ báo cáo Vương Chính Công điều trị bệnh này, thời kỳ phát tác dùng phương pháp tuyên phế thấu tà, thường dùng thang Tam ảo hợp Chỉ thấu tán. Nếu thiên về phong nhiệt gia Ngưu bàng tử, Tang bạch bì, Tiền hồ; Thiên về phong hàn, gia Kinh giới, Quế chi, Tô tử; Thiên về dàm nhiệt gia Thạch cao sống, Ngân hoa, Liên kiều, Hoàng cầm; Thiên về dàm thấp gia Bán hạ, Trần bì, Phục linh. Thời kỳ hoãn giải của bệnh dùng phép phù chính bồi bản, thanh thấu dư tà (Phù trợ chính khí, bồi bổ căn bản, trừ bệnh tà còn sót lại) Phương dược gồm : Chích Cam thảo, Nam Sa sâm, Bắc Sa sâm, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Cương tàm, Bách bộ, Ngưu bàng tử, Bạch tiền. Nếu thiên về phế khí hư thì gia Đảng sâm, Hoàng kỳ, Sơn dược; Thiên về phế âm hư gia Mạch môn, Bách hợp, Ngũ vị tử; Thiên về đàm thấp gia Bán hạ, Trần bì, Viễn chí; Nếu phế có phục nhiệt gia Lô căn, Cam thảo, trong điều trị 143 trường hợp, khống chế chứng trạng lâm sàng 16 trường hợp, giảm nhẹ chứng trạng 71 trường hợp.
III/ Thiên về khứ tà trị tiêu
①Túc (điều chỉnh) phế hoá đàm Hạ Thừa Nghĩa dùng thang Ma hạnh nhân vi điều trị 82 trường hợp hen suyễn, phương gồm: Ma hoàng, Hạnh nhân, Thạch vi, Cương tàm, Địa long. Thiên về nhiệt gia Thạch cao, Tang bì, Chiết bối mẫu, Thiên trúc hoàng; Thiên về hàn gia Bán hạ, Trần bì, Tô tử, Bạch giới tử; Kiêm biểu chứng gia Tang diệp, Cát cánh, Tiền hồ, Ngưu bàng. Kết quả: Tổng tần suất hữu hiệu là 86.6%.
②Thanh (mát) phế hoá đàm Quản Nhật Quân điều trị 80 trường hợp bệnh hen suyễn, phương cơ bản gồm: Ma hoàng, Tạo giáp tử, Tang bạch bì, Cam thảo, Thạch cao, Hạnh nhân, Hoàng cầm, Đông qua tử, Đại cáp tán, tuỳ chứng gia giảm, tổng hữu hiệu suất là 93.75%.
③Giáng khí hoá đàm Tô Mai dùng Ma hạnh nhị tam thang điều trị 23 trường hợp bệnh nhân hen suyễn, phương dược gồm: Ma hoàng, Hạnh nhân, bán hạ, Tô tử, Lai bặc tử, Quất hồng, Phục linh, Bạch giới tử, Trà diệp, Kha tử, Cam thảo, tuỳ chứng gia giảm. Kết quả; Tổng tần suất hữu hiệu là 91.3%.
④Thông phủ giáng khí Lý Kính Đảng chủ trương bệnh hen suyễn bất kể mới cũ, hàn nhiệt, hư thực, điều trị đầu tiên là thông phủ, hiệu quả trị liệu là vượt mức bình thường. Thương hàn không có mồ hôi mà suyễn dùng thang Tam ảo thừa khí; Thương phong xuất mồ hôi mà suyễn dùng thang Quế chi thừa khí; Khí cấp (thở gấp) đàm dũng (phun ra) mà suyễn dùng thang Tam tử thừa khí; Hồi hộp tim đập mạnh bồn chồn dùng thang Đan sâm thừa khí; Dương hư xuất mồ hôi mà suyễn dùng thang Phụ tử thừa khí.
IV/ Thiên về phù chính bổ hư
①Bổ thận pháp: Thiệu Quế Trân điều trị hen suyễn chủ trương dùng phép bổ thận, cơ bản phương gồm: Thục địa hoàng, Đan bì, Trạch tả, Phục linh, Hoài sơn, Sơn thù, Ngũ vị tử, Bổ cốt chỉ, Hồ đào nhục là chính, kết hợp tuỳ chứng gia giảm, tổng cộng điều trị 31 trường hợp, kết quả: Tổng hiệu suất là 96,7%
②Phép ôn bổ mạch đốc Triệu Thăng chủ trương dùng phép ôn bổ mạch đốc để điều trị chứng hen suyễn, đồng thời kết hợp biện chứng gia giảm. Ôn mạch đốc dùng Lộc nhung, Tử hà xa (đã cấm), Cáp giới, Hải mã; Trị suyễn dùng Ma hoàng, Tô tử, Đình lịch tử, Địa long; Trị đàm gia chế Đảm tinh, chiết Bối mẫu, Quất hồng, Trúc nhự; Hoá ứ dùng Đào nhân, Xuyên khung, Hồng hoa; Bình xung (?) dùng Tử thạch anh, Đại giả thạch, Long cốt, Mẫu lệ.
③Phép bổ khí huyết Huệ Trung báo cáo: Dùng thang Tứ vật gia giảm trị bệnh hen suyễn (Đảng sâm, Đương quy, Bạch thược, Thục địa hoàng, Sinh địa hoàng, Ngũ vị tử, Cam thảo) kết hợp tuỳ chứng gia giảm, tổng cộng điều trị 52 trường hợp, kết quả: Tổng hữu hiệu suấ là 92.3%.
④Phép phù chính cố bản (phù trợ chính khí, củng cố căn bản) Phan Tồn Mai dùng phép phù chính cố bản điều trị 40 trường hợp bệnh hen suyễn, sử dụng phương cơ bản gồm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Hoàng cầm, Hoàng tinh, Tiên hạc thảo, Cam thảo. Kết hợp với tuỳ chứng gia giảm, đồng thời tiến hành kiểm tra đối với chu vi huyết bạch tế bào bì chất kích biến thể (GCR), huyết tương (cAMP), tỉ trị cAMP/cGMP của bệnh nhân trước và sau khi điều trị, kết quả thu được cải thiện rõ rệt.
V/ Biện chứng phân loại hình bình suyễn
Điền Linh Quần xăn cứ biện chứng phân thành các trị pháp bình suyễn khác nhau gồm : Tuyên phế, công hạ, khứ đàm, khoan hung, hoạt huyết, giải kính và bổ hư.
①Tuyên phế bình suyễn pháp
1/ Tán hàn bình suyễn Thích hợp với phong hàn ngoại thúc (bó), hàn và âm tương bác, khí vận chuyển không thuận lợi khiến hen suyễn phát tác liên tục, ho đàm trong lỏng, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch phù khẩn hoặc phù huyền, điều trị dùng thang Xạ can Ma hoàng. Nếu chủ yếu là đàm ẩm tích trữ, dùng thang Tiểu thanh long; Nếu chủ yếu là tán hàn, tuyển dụng thang Tam ảo, hàn nặng gia hen suyễn hoàn. Thường dùng các vị thuốc: Ma hoàng, Quế chi, Tế tân, Xạ can, Hạnh nhân, Hậu phác, Tiền hồ, Bán hạ, Toàn phú hoa.
2/ Thanh nhiệt bình suyễn Thích hợp với nhiệt tà ủng phế, đam nhiệt giao nhau gây trở ngại, khí đạo sáp trệ khiến suyễn súc và khí bị nghẽn tắc, trong họng khò khè, đàm vàng đặc dính, khát thích uống, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác hoặc hoạt sác, điều trị dùng thang Việt tỳ gia truật, thang Ma hạnh thạch cam, suyễn nặng dùng thang Định suyễn. Thường dùng các vị thuốc: Hoang cầm, Qua lâu, Đình lịch tử, Thạch vi, Địa long, Khổ sâm, Đan bì, Tang bì, Ngư tinh thảo.
②Phép công hạ bình suyễn Thích hợp với đại tiện bí kết, suyễn khí không giáng xuống, hen suyễn khí thô, đầy bụng, rêu lưỡi vàng, mạch trầm thực có lực, điều trị dùng thang Hậu phác Đại hoàng, hoặc dùng Đình lịch tử, Đại hoàng, Hạnh nhân, Tang bì; Có thể dùng Khống tiên đan (Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại đều 30g, dùng bột gạo làm hoàn, như hạt ngô đồng, mỗi lần uống 1g, uống buổi sáng khi bụng trống, trẻ em giảm lượng thích hợp).
③Phép khứ đàm bình suyễn Sử dụng thích hợp với loại hình tỳ hư sinh đàm, gây nghẽn tắc khí đạo, phế khí không đi xuống dẫn đến hen suyễn, thở ngắn, nhiều đàm muốn nôn ra, ức bế tắc không muốn ăn, rêu lưỡi dính nhầy, mạch hoạt, điều trị dùng thang Tô tử giáng khí, thang Nhị trần. Thường dùng dược như: Lai bặc tử, Tô tử, Bạch giới tử, Đình lịch tử, Bán hạ, Trần bì, Phục linh, chiết Bối mẫu.
④Phép khoan hung bình suyễn (mở rộng lồng ngực trị suyễn) Thích hợp với loại hình khí uất đàm kết, phế khí thất giáng, xuất hiện suyễn đau tức lưng ngực, khí tắc nghẽn trong ngực, thở ngắn, rêu lưỡi trắng nhầy, mạch huyền, dùng thang Qua lâu Giới bạch Bán hạ. Thường dùng dược như: Qua lâu, Giới bạch, Hậu phác, Giáng hương, Toàn phú hoa, Xương bồ, Trần bì, Thanh bì, Phật thủ.
⑤Phép hoạt huyết trị suyễn Dùng thích hợp cho loại hình hen suyễn do ứ huyết, đau ngực, đàm có máu, mặt xanh môi tím tái, lưỡi có điểm ứ huyết, mạch sáp (rít), Trong bình suyễn dùng thang tễ Hồn Mã làm tá dược (Hồng hoa, Mã tiên thảo, Krr huyết đằng, Đào nhân). Thường dùng dược như: Trạch tả, Xương bồ, Côn bố, Đan sâm, Trắc bách diệp, Đào nhân, Đan bì, Quế chi, Ngưu tất.
⑥ Phép giải kính trị suyễn (Giải trừ co rút để trị hen suyễn) Phương chủ yếu là thang Thược dược Cam thảo ( Thược dược, Cam thảo đều 30g), kết hợp với biện chứng gia giảm. Thường dụng dược như: Ma hoàng, Bình địa mộc, Hồ đồi diệp (胡颓叶), Xương bồ, Thạch vi, Đình lịch tử, Binh lang, Thuyền y, Địa long, Câu đằng, Ô mai.
⑦ Phép bổ hư trị hen suyễn
1/ Bổ phế Thích hợp với chứng hen suyễn thở ngắn, tự hãn, sợ gió, chất lưỡi hồng ít rêu, mạch tế sác, dùng thang Lục quân tử hợp Sinh mạch tán.
2/ Bổ tỳ Thích hợp với chứng hen suyễn thở ngắn, nhiều đàm, ngực khó chịu, ăn ít, gầy gò, rêu lưỡi trắng, mạch tế nhược, dùng thang Lục quân tử hợp thang Tam tử dưỡng thân.
3/ Bổ thận Thích hợp với chứng hen suyễn thở ngắn, thở ra nhiều, hít vào ít, hoạt động thì hen suyễn tệ hại. Nếu thuộc thận âm hư dùng phương Mạch vị địa hoàng hoàn, Lục vị hoàn, Sinh mạch tán; Thận dương hư dùng Kim quỹ thận khí hoàn, Hà xa đại tạo hoàn, Hắc tích đan.
Những kinh nghiệm phòng ngừa tái phát bệnh hen suyễn là gì?
(5) Trừ khứ “gốc rễ” (夙根)
“Đàm ứ phục phế” (痰瘀伏肺) đàm và ứ nằm phục sãn trong phổi là “gốc” của cơn hen tái phát, vì vậy, hóa đàm và loại bỏ huyết ứ để phá “gốc” thực sự là chìa khóa để ngăn chặn cơn hen tái phát. Nếu không loại bỏ được “gốc rễ” hen suyễn sẽ tái phát bất cứ lúc nào do các yếu cảm thụ ngoại tà, bởi vì đàm ngoan cố và đàm cũ trong đường thở trong thời kỳ hoãn giải vẫn chưa được loại bỏ hoàn toàn và những “khối đàm” này vẫn còn có thể gây tắc nghẽn. Khí quản trong một số điều kiện nhất định, gây ra huyết ứ, đến thời kỳ thuyên giảm mà môi người bệnh vẫn có màu sẫm, mạch dưới lưỡi kéo dài và dày lên, chất lưỡi tím sẫm, rêu lưỡi vàng nhầy, đủ để cho thấy đàm và huyết ứ vẫn tồn tạin. Theo nguyên tắc biện chứng luận trị, chúng ta có thể tiếp tục sử dụng đơn thuốc tự bào chế “Quyên háo thang” để loại bỏ gốc rễ của đàm và huyết ứ, để đạt được mục đích làm sạch đàm và huyết ứ, điều hòa khí và phòng ngừa hen suyễn tái phát. Bài thuốc gồm 15-20g Đình lịch tử, Kinh tử 15g, Thanh bì và Trần bì đều 15g, Binh lang 10g, Tiên mao 10g, 3 lát gừng, Đại hoàng sống 10g (hậu hạ). Nếu đàm dính khó khạc ra, thêm Mông thạch 20g, Hải cáp xác 20g, Toàn qua lâu 20g, Ứ chứng rõ rệt gia Hồng hoa 6~10g, Đào nhân 10g, Xuyên khung 10g, 6 viên nang Thuỷ điệt. Thuỷ điệt trị hen suyễn, căn cứ theo {Trung dược đại từ điển}: Thuỷ điệt thành phần chủ yếu có Thuỷ điệt tố, có thể ngăn cản tác dụng của thrombin đối với fibrinogen, ngăn cản quá trình đông máu. Đồng thời, nó cũng có thể tiết ra một chất giống như histamin, chất này có thể làm giãn nở các mao mạch. Cải thiện việc cung cấp máu cho mao mạch, giảm co thắt cơ trơn khí quản, giải phóng Qi, giảm các cơn hen suyễn và đóng vai trò “điều trị cả triệu chứng và căn nguyên” (Tiêu bản đồng trị). Để thuận tiện cho người bệnh, người ta bào chế ra viên nang thuỷ điệt, mỗi viên chứa 0,5 g bột thuỷ điệt, mỗi lần 2 đến 3 viên, ngày 2 lần.
II/ Dự phòng bệnh ngoại cảm
Trong giai đoạn bệnh hen suyễn thuyên giảm, nhiều bệnh nhân vẫn có biểu hiện sợ lạnh, lạnh sống lưng, rất dễ bị cảm lạnh và các hội chứng dương khí không đầy đủ. Những điều này có liên quan với phế dương suy yếu, tấu lý (thớ thịt) lỏng lẻo không kín đáo, khí bảo vệ không kiên cố, để nâng cao năng lực đề kháng ngoại tà của cơ thể, đạt được mục đích ngăn chặn bệnh. Người viết đặt ra phương “Ôn dương hộ vệ thang”, dùng trong thời kỳ hoãn giải của bệnh nhân phế vệ dương hư điển hình. Phương này gồm các thành phần như Hoàng kỳ 20~30g, chế Phụ phiến 10g, Lộ lộ thông 20g, Phòng phong 15g, Quế chi 10g, Bạch thược 10g, chích Thảo 6g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 6 quả, Tiên mao 15g. Trong phương vị Hoàng kỳ ích khí cố biểu, Phụ tử ôn bổ thận dương, với vệ dương có gốc rễ ở thận dương. Thang Quế chi điều hoà doanh vệ (trong ngoài), (công bổ kiêm thi) bồi bổ cơ thể kiêm khứ trừ ngoại tà (Tiêu bản đồng tri) điều trị cả triệu chứng và căn nguyên, có thể phát tán phong hàn, lại có thể củng cố bảo hộ tỳ vị, phù trợ chính khí củng cố căn bản. Lộ lộ thông, Phòng phong, có ý tại tác dụng khứ phong để thoát mẫn cảm (dị ứng) và chế ngự phong đề kháng dị ứng. Toàn phương có tác dụng ôn dương hộ vệ khí, điều hoà doanh vệ (trong ngoài), tăng cường hiệu quả đề kháng ngoại tà của cơ thể, để thực biểu an nội (biểu vững chắc để bên trong cơ thể được bình an), phù trợ chính khí củng cố căn bản để khống chế bệnh hen suyễn phục phát.
III/ Củng cố căn bản bồi bổ hư tổn
Người xưa nói: “Dược bổ bất như thực bổ” (药补不如食补) uống thuốc bổ không bằng ăn bổ, đem dược liệu và thực phẩm kết hợp với nhau, vận dụng để dự phòng hen suyễn, có thể nâng cao tác dụng củng cố căn bản. Kinh nghiệm là:
Củng cố căn bản chủ yếu là kiện tỳ bổ thận, tạng tỳ mạnh mẽ thì bốn mùa không thụ tà lại có thể ngăn ngừa nguy cơ sinh đàm. Thường dùng các vị thuốc như: Hoàng kỳ 20 ~30g, Thái tử sâm 20g, Phòng phong 10g, Sơn dược 20g, Dĩ nhân 20g, Phục linh 20g, pháp Bán hạ 10g, Trần bì 10g, chích Cam thảo 6g. Nếu thiên về thận dương hư thì nên ôn bổ thận dương. Thường dùng: chế Phụ phiến 10g (sắc trước ½ giờ), Nhục quế 3g (hoà nước uống), Thục địa 15g, Sơn thù du 15g, Hoài sơn 20g, Lộc giao 10g, Kỷ tử 15g, Ba kích thên 10g, Tiên linh tỳ 10g, Tiên mao 10g, Thố ti 15g, mạch đông 20g, Ngũ vị tử 6g, Quy giao 10g, Hoàng kỳ 20g, Trầm hương 5g, Hoàng tinh 15g.
Phương pháp thực liệu chủ yếu là trứng cố bản. Phép chế: Chuẩn bị một hũ đất hoặc hũ sứ, thay vì sử dụng nước tiểu trẻ em khoẻ mạnh như dân gian thường làm trước đây, ngày nay người ta dùng nửa cân Ngũ vị tử (bệnh nhân là trẻ em giảm một nửa), chọn 10 quả trứng gà còn mới, đầu tiên cho Ngũ vị tử vào nước đun sôi trong ½ giờ, đợi đến khi nước thuốc đã nguội thì cho 10 quả trứng ngâm vào trong nước thuốc, thời gian ngâm là 7 ngày, sau đó mỗi ngày vào buổi sáng sớm lấy một quả trứng uống với nước đường hoặc rượu nóng, thích hợp với những bệnh nhân hen suyễn viêm chi khí quản mạn tính và chứng chi khí quản hen suyễn, dùng trứng này trong những ngày bệnh chưa phát thì càng tốt.
Đơn thuốc này dùng trong giai đoạn bệnh hen thuyên giảm để phòng tái phát. Trong trường hợp lên cơn hen suyễn khi ăn trứng, có thể đồng thời điều trị bằng hội chứng biệt hóa và dùng thuốc, đồng thời không được ngừng ăn trứng cố bản. Không dùng nếu bạn bị dị ứng với trứng.
Trứng cố bản là phương pháp kết hợp thuốc với thực phẩm. “Bản thảo cương mục” viết: “Noãn bạch, kỳ sắc thanh, kỳ tính vi hàn; Noãn hoàng, kỳ sắc hỗn, kỳ tính ôn; Noãn tắc kiêm hoàng bạch nhi dụng chi, kỳ tính bình. Tinh bất túc giả, bổ chi dĩ khí, cố noãn năng bổ khí…..Hình bất túc giả, bổ chi dĩ vị, cỗ noãn hoàng năng bổ huyết…..noãn tắc kiêm lý khí huyết.” (卵白,其色清,其性微寒;卵黄,其色混,其性温;卵则兼黄白而用之,其性平。精不足者,补之以气,故卵能补气……形不足者,补之以味,故卵黄能补血……卵则兼理气血。) Lòng trắng trứng gà màu trong, tính hơi lạnh; ; Lòng đỏ trứng, màu hỗn tạp, tính ấm; Dùng trứng dùng cả tròng trắng và tròng đỏ nên tính bình. Tinh không đủ thì bổ khí, vì thế trứng có thể bổ khí…… Người hình thể không đầy đủ có thể bồi bổ bằng vị, vì thế lòng đỏ trứng có thể bổ máu….Như vậy trứng có thể kiêm bổ khí huyết.
IV/ Tuyên lợi phế khiếu
Đa số bệnh nhân có kèm theo bệnh về xoang mũi. Đây không chỉ là nguyên nhân dụ phát bệnh hen suyễn hàng đầu, đồng thời cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả trị liệu không thể bỏ qua. Trên lâm sàng nên chú ý điều trị các bệnh tật ở xoang mũi, thường có khả năng nâng cao hiệu quả dự phòng tái phát của bệnh. Trị pháp tuyên thông mũi chủ yếu dùng cho bệnh nhân (hen suyễn) đồng thời có bệnh ở xoang mũi. Như viêm mũi dị ứng, điều trị nên khứ phong thông khiếu, thường dùng các vị thuốc như Thương nhĩ tử 15g, Tân di hoa 10g, Phòng phong 15g, Lộ lộ thông 20 ~30g, Thuyền y 6~10g, Tật lê 10g, Bạch chỉ 10g, Tế tân 3g, Nếu tỵ giáp (xương lá mía) dày và có hiện tượng ứ huyết rõ rệt, gia thêm các vị thuốc hoạt huyết nhuyễn kiên như Hồng hoa, Xuyên khung đều 10g; Nếu hội chứng phế nhiệt và đàm nhiệt điển hình, thường dùng Ma hoàng, Hạnh nhân đều 10g, Thạch cao 30g, Cam thảo 6g, Thương nhĩ 15g, Tân di hoa 10g, Hoàng cầm 10g, Ngư tinh thảo 20g, Bồ công anh 20g.
Trong biện chứng luận trị bệnh hen suyễn kết hợp với chuyên phương như thế nào?
Chuyên bệnh chuyên phương (Bệnh đặc biệt, phương thuốc chuyên dùng)
Điều trị bệnh hen suyễn chi khí quản nên kết hợp biện chứng với biện bệnh. Trên lâm sàng thường dùng chuyên phương trị suyễn độc xưng thang nhất tiệt suyễn, không cần biện hàn nhiệt hư thực và hen suyễn có đang phát tác hay là không, đều có thể dùng phương này để điều trị. Phương này dùng điều trị chứng hen suyễn chi khí quản, và viêm chi khí quản mạn tính, phế khí thũng…, dẫn đến ho nhiều đàm, khí nghịch suyến súc đều thu được hiệu quả rõ rệt. Thành phần của phương gồm: Phật nhĩ thảo, Bích đào can, Lão hạc thảo đều 15g, Toàn phú hoa, Toàn qua lâu, Khương Bán hạ, Phòng phong đều 10g, Ngũ vị tử 6g, Khai kim tiêu 15g. Trong phương Phật nhĩ thảo (có tên Thử mạch khúc thảo) xuất tự {Bản thảo thập di}, công dụng chuyên hoá đàm trị ho bình suyễn, trị mọi loại ho suyễn, không kể lâu mau, ngày hay đêm. Lão quán thảo, thấy trong {Bản thao cương mục thập di}, khứ phong hoạt huyết, thanh nhiệt giải độc, được liệt vào loại thuốc khứ phong thấp mạnh gân xương, dân gian thường dùng đơn độc vị này làm thuốc trị hen suyễn. Lão quán thảo có tác dụng khứ đàm, làm giãn phế quản, dược tính có tác dụng ức chế cầu khuẩn chùm nho màu vàng, phế cầu, liên cầu và virus cúm nên có thể khống chế nhiễm trùng đường hô hấp ở giai đoạn phát tác của bệnh hen phế quản. Bích đào can đắng ấm có tính thu liễm, trị chứng mồ hôi lúc ngủ (đạo hãn), khạc huyết, {Ẩm phiến tân tham} có ghi “Trừ lao thấu” , dân gian có kinh nghiệm dùng vị thuốc này tri hen suyễn, nghiên cứu dược lý cho thấy vị thuốc này có tác dụng điều tiết công năng thần kinh thực vật và vi huyết quản. Ba vị thuốc kể trên có tác dụng trừ đàm trị ho suyễn, làm chủ dược (quân dược) trong phương. Toàn phú hoa tiêu đàm bình suyễn, giáng nghịch hạ khí. Toàn qua lâu lần đầu tiên được ghi trong {Bản kinh}, ở trên thanh nhiệt cho phế vị mà hoá đàm tán kết, ở dưỡi nhuận táo đại tràng để nhuận hoạt tràng thông phủ, lại có tác dụng kháng khuẩn rộng, Bán hạ táo thấp hoá đàm, giáng nghịch hạ khí, khi có kèm tà khí thì không dám sử dụng, e rằng “Toan dĩ liễm phế, sắc hắc nhập thận, hạt tựa thận mà bổ thận”. Sử dụng bới hư thực đồng trị, tiêu bản kiêm cố (trị cả chứng trạng và căn nguyên bệnh), trị chứng ho suyễn cũ mới hư thực.
Bệnh nhân hen suyễn nên thực hiện điều chỉnh chế độ ăn như thế nào?
Có nhiều loại chế độ ăn kiêng, và các chất dinh dưỡng chứa trong đó cũng khác nhau, chỉ có sự kết hợp hợp lý giữa các loại thực phẩm mới có thể giúp cơ thể con người thu được các chất dinh dưỡng khác nhau, đáp ứng nhu cầu hoạt động sinh lý của cơ thể. Vì vậy, một chế độ ăn uống toàn diện, đầy đủ chất dinh dưỡng là điều kiện cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển, sức khỏe và tuổi thọ của con người.
Thực phẩm có năm vị: chua, đắng, ngọt, cay và mặn, và mỗi loại có tác dụng khác nhau đối với cơ thể con người. Ngũ vị hòa hợp thì tốt cho sức khỏe, ngũ vị thiên lệch nhiều, không hòa hợp thì sinh bệnh. Ăn vừa phải là ăn uống có tiết chế, có hai nghĩa, một là chỉ lượng ăn vào, hai là chỉ thời gian ăn. Cái gọi là chế độ ăn uống có điều độ, tức là ăn uống điều độ, đủ chất, hình thành thói quen ăn uống tốt sẽ có lợi cho sức khỏe.
Sự thay đổi của khí hậu bốn mùa trong tự nhiên có tác động rất lớn đến cơ thể con người, vì vậy từ xa xưa, trong chế độ dưỡng sinh cổ truyền của nước ta đã có câu “Tứ thời điều nhiếp” (四时调摄) là điều chỉnh cơ thể theo bốn mùa. Trong số đó, chế độ ăn uống cũng là một khía cạnh.
Vào mùa xuân, vạn vật đâm chồi nảy lộc, dương khí bốc lên, dương khí trong cơ thể con người cũng theo đó mà thăng lên, lúc này để dưỡng dương khí, chúng ta cũng phải chú ý đến chế độ ăn uống. Ví dụ: hành tây, rau mùi, nước tương, táo tàu, hoàng kỳ, vv rất phù hợp.
Mùa hè, vạn vật sinh sôi tốt tươi, dương khí mạnh, âm khí yếu, lúc này nên ăn ít cay ngọt, đồ khô, để không quá tổn hại đến âm, nên ăn nhiều đồ ngọt, chua, mặn. các sản phẩm mát nhuận như đậu xanh, rau xanh, mận đen, dưa hấu, v.v.
Mùa thu là mùa hoa quả chín, thời tiết mát mẻ hơn, khí hậu hanh khô, trong chế độ ăn nên chú ý ít dùng các thực phẩm khô, nóng như hạt tiêu, hành sống…, nên ăn vừng, nếp. gạo, gạo nếp, mật ong, tì bà, mía, dứa, thực phẩm mềm và ẩm như các sản phẩm từ sữa. Người cao tuổi có thể áp dụng phương pháp ăn cháo vào buổi sáng để lợi dạ dày, sinh tân dịch.
Mùa đông là mùa vạn vật tiềm tàng (ẩn nấp), khí hậu lạnh giá, nên bảo vệ âm để tiềm dương, nên ăn các loại ngũ cốc, cừu, rùa, ba ba, nấm, chú ý ăn nóng để bảo vệ dương khí.
Đối với những người thể chất yếu và người già, mùa đông là thời điểm tốt nhất để bổ sung chế độ ăn uống.
Trong ẩm thực dưỡng sinh, ngoài việc chú ý điều chỉnh theo đặc điểm của khẩu phần ăn, đặc điểm cơ thể con người, sự thay đổi của bốn mùa, còn phải chú ý đến sự khác biệt về tuổi tác, thể trạng, tính cách, thói quen, v.v., không thể khái quát hóa.
Đông y dự phòng bệnh hen phế quản như thế nào?
Tào Minh Cao đã tìm thấy trong thực hành lâm sàng lâu dài rằng bệnh nhân lớn tuổi và nam giới mắc bệnh hen suyễn chủ yếu theo biện chứng luận trị là thuộc dương hư, trong khi bệnh nhân vị thành niên và nữ chủ yếu là âm hư.
Để phòng ngừa căn bệnh này, Bối Nhuận Phủ và cộng sự cho rằng: trẻ em thường uống Tử hà xa phấn (đã cấm dùng) và Hà xa đại tạo hoàn thuốc (thay thế bằng Lục vị địa hoàng hoàn), người trung niên và người già nên luân phiên uống Hữu quy hoàn và Tả quy hoàn, cũng có thể sử dụng Lục vị hoàn, Phụ quế bát vị hoàn. Đối với những bệnh nhân phát bệnh lâu ngày, mùa hạ dùng Linh quế truật cam thang, uống liền 1 tháng có thể giảm phát tác.
Vương Linh Đài cho rằng: Ích khí kiện tỳ như Hoàng kỳ, Nhân sâm, Linh chi, Phục linh, Bạch truật đến các vị thuốc có tác dụng kháng dị ứng như Phòng phong, Cam thảo đều có tác dụng dự phòng hen suyễn phát tác, ngoài ra các liệu pháp như dán thuốc, châm cứu và các phương pháp truyền thống khác của Đông y đều có thể dùng để phụ trợ.
Các vị thuốc trị ho suyễn thường dùng cho trẻ em:
1/ Địa long
Tính vị công dụng: Tính lạnh, vị mặn. Hạ sốt trị suyễn, trị co giật.
Chủ trị &phép dùng: Dùng trị phế nhiệt ho suyễn, sốt cao vật vã. Lượng dùng từ 4~8g.
2/ Hạnh nhân
Tính vị công dụng: Ngọt đắng ấm, tiểu độc (độc nhẹ). Trị ho suyễn, nhuận tràng thông đại tiện
Chủ trị &phép dùng: Dùng tri thương pgong khái thấu (ho gió) khí suyễn nhiều đàm, tân dịch hư tổn táo bón. Lượng dùng từ 4~6g.
3/ Tang bạch bì
Tính vị công dụng: Ngọt lạnh. Thanh phế tả thuỷ, trị ho suyễn.
Chủ trị &phép dùng: Phế nhiệt ho suyễn, thuỷ thũng, tiểu tiện không thuận lợi. Lượng dùng 6~15g
4/ Mã đâu linh
Tính vị công dụng: Cay đắng lạnh. Thanh phế giáng khí, trị ho suyễn.
Chủ trị &phép dùng: Phế nhiệt ho suyễn Lượng dùng 3~6g.
5/ Tì bà diệp
Tính vị công dụng: Đắng trung bình. Thanh phế giáng khí, trị ho, hoà vị.
Chủ trị &phép dùng:Ho suyễn do phế nhiệt khí nghịch. Lượng dùng 9~15g
6/ Khoản đông hoa
Tính vị công dụng: Ấm cay đắng. Trị ho hoá đàm, túc phế hạ khí
Chủ trị &phép dùng: Lượng dùng
Tính vị công dụng:
Chủ trị &phép dùng: Ho suyễn phế lạnh. Lượng dùng 6~10g
7/ Tử uyển
Tính vị công dụng: Cay đắng ấm. Trị ho hoá đàm, vị cay nhưng không khô
Chủ trị &phép dùng: Trị ho bất kể hàn nhiệt hoặc bệnh lâu mau đều có thể ứng dụng. Lượng dùng 6~12g.
8/ Bách bộ
Tính vị công dụng: Ngọt đắng trung bình. Nhuận phế trị ho, diệt rận sát trùng.
Chủ trị &phép dùng: Nhuận phế trị ho, thường dùng trị chứng đốn khái (ho có tiến rít của gà gáy), ho lao . Lượng dùng 9~15g
9/ Tô tử
Tính vị công dụng: Ấm cay, Túc phế giáng khí, trị ho suyễn.
Chủ trị &phép dùng: Giáng phế khí, trị ho . Lượng dùng 6~9g.
Phương tễ trị suyễn thường dùng cho trẻ em :
1/ Tam ảo phương
Thành phần và phép dùng: cứu Ma hoàng 3~6g, Hạnh nhân 6~9g, Cam thảo sống 3~4g, Sinh khương 3~ lát, sắc uống.
Công dụng:Tuyên phế tán hàn, trị ho suyễn
Chủ trị: Cảm mạo phong hàn, phế khí không tuyên giáng(lan toả& giáng xuống) gây ho suyễn, nhiều đàm, ngực khó chịu, đau đầu nghẹt mũi.
2/ Định suyễn thang
Thành phần và phép dùng: Bạch quả 4~6g, cứu Ma hoàng 3~4g, Hạnh nhân 6~9g, Cam thảo 3~4g, Tô tử 6~9g, Tang bạch bì 6~12g, Hoàng cầm 6~9g, Bán hạ 6~9g, Khoản đông hoa 6~9g, sắc uống
Công dụng: Tuyên phế bình suyễn, thanh nhiệt hoá đàm.
Chủ trị: Đàm nhiệt hen suyễn, ho thở gấp, đàm vàng và nhiều, trong họng có âm thanh suyễn.
3/ Thang Tiểu thanh long
Thành phần và phép dùng: cứu Ma hoàng 3~4g, Quế chi 3~5g, Thược dược 6~9g, Can khương 3~6g, Bán hạ 6~9g, Tế tân 1~3g, Ngũ vị tử 4~8g, Cam thảo 3~4g, sắc uống.
Công dụng: Ôn phế hoá ẩm, trị ho suyễn.
Chủ trị: Ngoại hàn nội ẩm, ho khí suyễn, nhiều đàm trong lỏng, trường hợp ho suyễn bệnh nhân không thể nằm, lưng có cảm giác lạnh, hoặc chi thể và mặt phù thũng, không khát, rêu lưỡi trắng mỏng và nhuận (ướt).
4/ Tô tử giáng khí thang
Thành phần và phép dùng: Tô tử 4~6g, Bán hạ 6~9g, Cam thảo 3~4g, Nhục quế 1.5~3g, Đương quy 6~9g, Tiền hồ 6~9g, Hậu phác 3 ~6g, sắc uống, khi sắc gia 2 lát gừng tươi, đai yaso 3 quả.
Công dụng: Giáng khí trị suyễn, ôn hoá đàm ẩm
Chủ trị: Ho đàm dãi, hen suyễn thở ngắn, ngực khó chịu nhiều đàm; rêu lưỡi trắng nhờn.
5/ Đình lịch đại táo tả phế thang
Thành phần và phép dùng:Dình lịch tử 6~8g, Đại táo 5 ~10 quả, sắc uống
Công dụng: Tả phế trị suyễn, khứ đàm, hành thuỷ.
Chủ trị: Quá nhiều đàm dãi, ho suyễn đầy ngực, hoặc mặt mắt phù thũng, tiểu tiện ít.
6/ Ma hạnh thạch cam thang
Thành phần và phép dùng:cứu Ma hoàng 3~6g, Hạnh nhân 4~6g Thạch cao 9~18g, Cam thảo 3~5g, sắc uống
Công dụng: Thanh nhiệt tuyên phế, điều đàm giáng nghịch.
Chủ trị: Ho hơi thở cấp bách, đàm đục vàng đặc, mũi phập phồng tim phiền muộn.
Đông y điều trị bệnh hen suyễn có những ưu khuyết điểm gì?
Y học cổ truyền Trung Quốc có lịch sử hàng ngàn năm trong việc điều trị bệnh hen suyễn, với kinh nghiệm phong phú, phương pháp độc đáo và lý thuyết tự hình thành hệ thống.
I/ Điều trị hen suyễn bằng Đông y chú ý nghiên cứ biện chứng luận trị. Phân biệt rõ căn nguyên và cơ chế của bệnh suyễn, chú ý sự khác biệt tinh tế của bên trong bệnh suyễn, căn cứ vào sự biến hóa của tạng phủ, âm dương, khí huyết, hàn, nhiệt, hư thực mà quyết định phương án điều trị. Căn cứ theo hội chứng để lập phương điều trị.
II/ Điều trị triệu chứng và căn nguyên của bệnh, điều trị triệt để, điều trị bệnh phát tác cấp tính, lấy phế làm trung tâm, cải thiện chứng trạng, thời kỳ hoãn giải thì chú ý điều trị căn bản, lấy phế tỳ thận là trung tâm để tiến hành điều chỉnh để phù trợ chính khí củng cố căn bản, bổ túc chính khí để đạt được mục đích giảm thiểu sự phát tác của bệnh.
III/ Điều trị khi chưa phát bệnh: Dự phòng bệnh là chính, sử dụng lý luận “Đông bệnh hạ trị” bệnh phát về mùa đông (lạnh), điều trị dự phòng từ mùa hạ ( là ý tứ :Mùa hạ dưỡng dương) phòng bệnh từ khi chưa phát bệnh.
IV/ Chữa bệnh hen suyễn bằng Đông y có nhiều cách, thuốc sắc, châm cứu, khí công, giác hơi, cắt, dán… đều có tác dụng riêng và bổ sung cho nhau.
V/ Ít tác dụng phụ. Áp dụng lâu dài phương pháp điều trị bằng y học cổ truyền, chỉ cần biện chứng chuẩn xác, sẽ ít xảy ra kết quả bất lợi.
Tuy nhiên, điều trị hen suyễn theo y học cổ truyền cũng có những thiếu sót sau:
I/ Có quá nhiều loại thuốc Đông y, khiến khó điều chế và người bệnh khó nắm vững.
II/ Phương thức dùng thuốc đã lạc hậu, không nên thường xuyên pha chế thuốc sắc uống, sẽ làm chậm trễ việc cần dùng gấp của bệnh nhân.
III/ Yêu cầu kỹ thuật đối với việc điều trị bệnh hen suyễn của y học cổ truyền tương đối cao, phần lớn thầy thuốc khó có thể nắm bắt toàn diện được.
Cách dùng thuốc Đông y điều trị bệnh hen suyễn trong thời kỳ hoãn giải như thế nào?
Cơn suyễn tái phát, chính khí có xu hướng dễ bị hư tổn, khi cơn suyễn thuyên giảm, cần điều hòa các chức năng của phổi, tỳ, thận để bồi bổ cơ thể, tăng cường khả năng chống lại ngoại tà của bệnh nhân, tiêu trừ căn nguyên sinh ra đàm thấp đàm ẩm trong cơ thể.
Phế chủ khí toàn thân, phế hư không thể chủ khí, biểu hiện là dương bên ngoài không thể bồi bổ tấu lý (thớ thịt), ngoại tà dễ dàng xâm nhập, mỗi khi hen suyễn do khí hậu mà phát tác. Tố chất thường sợ lạnh, tự nhiên đổ mồ hôi, trước khi phát bệnh thì hắt hơi, ngạt mũi, đối với sổ mũi , điều trị nên bổ phổi, tăng cường sức đề kháng. Dùng Bạch truật 6g, Hoàng kỳ 8g, Phòng phong 3g tán thành bột, uống hoặc uống 10ml Ngọc bình phong tán dạng lỏng, ngày 2-3 lần.
Tỳ vị và dạ dày là cơ sở hình thành khí chất (căn bản của hậu thiên) và là nguồn gốc sinh đàm, trẻ em tỳ hư ăn uống không đúng cách, tỳ vận hoá bất thường, thủy ẩm, đàm ẩm tích tụ, đàm tích ở phổi gây ho. Cho nên trẻ em thường ăn uống không tiết độ mà dụ phát bệnh, phép điều trị là kiện tỳ hóa đàm.Dùng các vị thuốc như Trần bì, Bán hạ đều 8g, Đảng sâm, Bạch truật, Vân linh đều 10g, Cam thảo 4g, sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Thận là căn bản tiên thiên, là gốc của lục phủ ngũ tạng, thận hư không thể thu nạp khí nên trẻ thở ngắn khi nghỉ ngơi, khi vận động chứng trạng tăng nặng, hoặc xương mềm bẩm sinh, không cứng cáp mạnh khoẻ, còn chứng sa sút trí tuệ, si ngốc, cổ mềm yếu, gầy yếu, răng không đều, tóc thưa và xỉn màu, v.v., nên điều trị bằng cách bồi bổ Nguyên khí, bồi bổ gốc, bổ thận nạp khí. Người dương hư, sắc mặt xanh xao, chân tay lạnh, lưng gối mềm nhũn, tiểu nhiều, tiểu nhiều về ban đêm, lưỡi nhợt rêu lưỡi trắng, nên điều trị bằng phương ô bổ thận dương, dùng Kim quỹ thận khí hoàn, mỗi lần 1 hoàn ngay 2 lần.
Bệnh nhân âm hư, gò má đỏ, lưỡi khô, thân thể gầy yếu, lưng gối đau mỏi, táo bón, tiểu tiện ngắn, ngũ tâm phiền nóng, lưỡi đỏ ít dịch, mạch tế sác. Để dưỡng âm ích thận nên dùng Lục vị địa hoàng hoàn, 1 viên/lần, ngày 2 lần.
Chú thích
*Túc giáng là chỉ về công năng túc giáng của tạng phế, túc giáng là đối nghịch lại với tuyên phát (lan toả và thăng lên) của phế, là phế có tác dụng thanh túc hạ xuống, tức là phế khí (khí của tạng phế) trên phương diện có chiều hướng hướng xuống dưới và hướng vào trong, biểu hiện là hấp nhập thanh khí, thông điều thuỷ đạo, hướng xuống dưới vận chuyển bố tán tân dịch, tức là túc giáng, tác dụng phương hướng chủ yếu là hướng xuống dưới và hướng vào trong.
Tuyên phát là chỉ về tạng phế giúp cơ thể thay cũ đổi mới nên cần phân bố vật chất dinh dưỡng ra toàn thân, đồng thời bảo vệ duy trì khí đạo thông suốt. Thông qua công năng tuyên phát của phế khí phân bố ra toàn thân, đồng thời tạng tỳ truyến đến phế thuỷ cốc tinh vi cũng được vận chuyển đến toàn cơ thể, vận chuyển phân bố vệ khí (khí bảo vệ), đến phần da lông ở ngoài, ôn dưỡng cơ bắp, da thịt, điều tiết thớ thịt. Vì thế Dụ gia Ngôn viết trong {Y học thực tại dịch} “Phàm tạng phủ kinh lạc chi khí, giai phế khí sở tuyên.” (凡脏腑经络之气,皆肺气所宣。) Khí của tạng phủ kinh lạc đều nhờ phế khí (tuyên) lan toả.
Tuyên phát và túc giáng là hai loại hình thức vận động của phế khí, chính là vận động thăng giáng xuất nhập thể hiện cụ thể tại phế, bất cứ công năng nào của phế cũng đều nhờ vào hai loại vận động trên để thực hiện, nếu vận động tuyên giáng của phế khí không điều hoà, có thể dẫn đến những loại biến hoá bệnh lý của hệ thống phế. Vì thế, phế khí tuyên giáng chính là cơ sở sinh, bệnh lý của tạng phế.
“Phế chủ túc giáng” (肺主肃降) chính là phế khí lan toả trong sạch (tuyên thanh) lan toả xuống dưới (tuyên giáng). “Túc” (肃) có ý nghĩa trong sạch nghiêm túc, các thế hệ y gia sau này mở rộng ý của nó là thanh lọc, phế thuộc hành kim. Thanh túc là thuộc tính hàng đầu của kim, nên có thuyết: “Kim khí thanh túc” (金气清肃).
* “Phế triều bách mạch” (肺朝百脉) xuất tự Tố vấn, ý nghĩa của câu Phế triều bách mạch gồm 2 phương diện, thứ nhất là công năng của tạng phế, thông qua các nhánh kinh lạc, các vị trí huyệt của cơ thể mà phát sinh tác dụng, công năng tốt hay xấu của tạng phế sẽ được biểu hiện thông qua các kinh lạc và huyệt vị; Thứ hai, các nhánh kinh lạc, các vị trí huyệt của cơ thể, mà công năng tốt hay xấu, cuối cùng cũng biểu hiện tại phế.
Phong thiện hành số biến chính là chỉ về phong tà gây bệnh có các đặc điểm như vị trí bệnh du di bất định, phát bệnh nhanh, biến ảo không bình thường. {Hoàng đế nội kinh Tố vấn Phong luận} viết: “Phong khí tàng vu bì phu chi gian, nội bất đắc thông, ngoại bất đắc tiết, phong giả thiện hành số biến, tấu lý khai tắc sái nhiên hàn, bế tắc nhiệt nhi muộn, kỳ hàn dã tắc suy thực ẩm, kỳ nhiệt dã tắc tiêu cơ nhục, cố sử nhân khoái lật nhi bất năng thực, danh viết hàn nhiệt” (风气藏于皮肤之间,内不得通,外不得泄。 风者善行而数变,腠理开则洒然寒,闭则热而闷;其寒也则衰食饮,其热也则消肌肉,故使人快栗而不能食,名曰寒热.) Phong tà ở giữa da thịt, không thông vào trong, không tiết ra ngoài, phong thiện hành số biến, thớ thịt mở thì lạnh, đóng thì nóng và phiền muộn; Lạnh thì kém ăn, nóng thì tiêu cơ bắp, nên khiến người bệnh nhanh chóng rét run mà không thể ăn, gọi là hàn nhiệt.
Nguyên nhân làm cho tạng can mất điều đạt (thoải mái không gò bó), công năng sơ tiết của tạng can thất thường (Sơ tiết là tác dụng điều tiết của tạng can đối với tình chí và công năng hoạt động của một số nội tạng) làm cho khí cơ uất trệ, thường do nguyên nhân tình chí bất toại (không vừa lòng) gây ra. Tạng can thuộc mộc, tính của mộc không thích gò bó, chủ sơ tiết, nếu tạng can mất thoải mái thư sướng, mất chức năng sơ tiết. sẽ khiến khí cơ không thông sướng và không có lực thăng phát, từ đó phát sinh chứng can khí uất kết
Tính chất căn bản là hư (thiếu), tính chất của tiêu (ngọn) là thực. Có 4 tình huống sau: ①Có bệnh cũ là hư chứng, sau bị bệnh mới là thực chứng; ②Thể chất bệnh nhân hư yếu lại cảm thụ thực tà; ③Vì nguyên nhân thể chất hư yếu mà khí huyết uất kết, khí hoá kém. Như khí hư dẫn đến huyết ứ, hoặc tỳ hư sinh ra đàm ẩm (dãi), thuỷ thũng, ẩm thực tích trệ…Bản chất của bệnh thuộc hư mà biểu hiện giả tượng thực chứng, “Chân hư giả thực” (真虚假实)。
Trường Xuân dịch