Khái luận
Trong Trung y cổ đại không có bệnh danh “xơ vữa động mạch” hoàn toàn tương ứng với cách gọi hiện nay. Căn cứ vị trí tổn thương và biểu hiện lâm sàng, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Huyễn vựng (眩晕), Đầu thống (头痛), Trung phong (中风), Mạch tý (脉痹), Huyết ứ (血瘀), Đàm trọc (痰浊), Tý chứng (痹证), Thoát thư (脱疽) và Thủy thũng (水肿).
Trung y cho rằng mạch là nơi khí huyết vận hành. Khi tạng phủ điều hòa, khí huyết đầy đủ, âm dương cân bằng thì mạch đạo được nuôi dưỡng và thông lợi. Nếu Tỳ mất kiện vận, thủy thấp không hóa, thấp tụ thành đàm; Can mất sơ tiết, khí trệ thì huyết ứ; tuổi cao hoặc bệnh lâu ngày làm Thận khí, tinh huyết và dương khí suy; đàm, ứ, hàn và thấp cùng kết trong mạch đạo, lâu ngày khiến mạch lạc không thông.
Trong bệnh này, đàm trọc và huyết ứ thường là hai yếu tố nổi bật. Đàm trọc làm mạch đạo nặng nề, bế tắc; huyết ứ làm huyết hành không thông. Khi đàm và ứ cùng kết, gọi là đàm ứ hỗ kết (痰瘀互结), bệnh thường kéo dài, khó giải và dễ ảnh hưởng đến nhiều vùng khác nhau như Tâm, não, Thận và chi thể.
Bệnh cơ
Bệnh cơ chủ yếu thuộc bản hư tiêu thực (本虚标实).
Bản hư thường gồm Tỳ khí hư, Thận khí hư, Thận dương hư, Can Thận âm hư, khí huyết bất túc hoặc khí âm lưỡng hư.
Tiêu thực thường gồm đàm trọc, huyết ứ, khí trệ, hàn ngưng, đàm nhiệt và thấp nhiệt làm mạch đạo bế trở.
Trong đó, Tỳ hư là nguồn sinh đàm; khí trệ là nguyên nhân làm huyết hành không lợi; Thận hư là nền tảng của tuổi cao và bệnh lâu ngày; huyết ứ là biểu hiện trực tiếp của mạch đạo không thông.
Nói tóm lại, bệnh thường bắt đầu từ tạng phủ suy yếu, ăn uống không điều độ, ít vận động và tình chí uất kết; lâu ngày hình thành đàm, ứ và hàn thấp, khiến mạch đạo dần mất sự thông lợi.
Nguyên nhân thường gặp
Ăn uống béo ngọt
Thường xuyên ăn nhiều thịt mỡ, đồ chiên rán, bánh ngọt, rượu và thức ăn đậm vị làm Tỳ Vị bị tổn thương. Tỳ mất kiện vận thì thấp trọc nội sinh; thấp tụ lâu ngày thành đàm, đàm trở mạch và kết với huyết ứ.
Ít vận động
Ngồi nhiều, vận động ít làm khí cơ trì trệ, huyết hành chậm. Người vốn có đàm thấp, nếu lại ít vận động thì đàm và ứ càng dễ kết trong mạch.
Tình chí uất kết
Lo nghĩ, giận dữ, căng thẳng và uất ức kéo dài làm Can khí không điều đạt. Khí trệ thì huyết ứ, khí huyết không thông nên dễ xuất hiện đau đầu, chóng mặt, tức ngực, mất ngủ hoặc tê mỏi chi thể.
Tuổi cao và bệnh lâu ngày
Tuổi cao làm Thận khí, tinh huyết và dương khí dần suy. Mạch đạo mất sự nuôi dưỡng và ôn thông, huyết hành kém, đàm và ứ dễ hình thành.
Tỳ Thận cùng hư
Tỳ hư thì thủy thấp không hóa; Thận hư thì khí hóa không lợi. Tỳ Thận cùng suy làm đàm thấp kéo dài, khó giải, đồng thời mạch đạo mất ôn dưỡng.
Biểu hiện theo vị trí
Khi bệnh ảnh hưởng đến Tâm mạch, người bệnh có thể đau tức ngực, hồi hộp, thở ngắn và mệt khi gắng sức.
Khi ảnh hưởng đến não mạch, có thể chóng mặt, đau đầu, giảm trí nhớ, tê yếu, nói khó hoặc đột ngột mất vận động một bên.
Khi ảnh hưởng đến mạch chi dưới, có thể chân lạnh, tê, đau khi đi bộ, nghỉ thì giảm, vết thương lâu lành hoặc da chân tím.
Khi ảnh hưởng đến Thận mạch, có thể xuất hiện phù, tiểu ít, huyết áp khó ổn định hoặc chức năng Thận suy giảm.
Nguyên tắc điều trị
Điều trị cần phân biệt hư thực, hàn nhiệt, đàm ứ và vị trí bệnh.
Đàm trọc rõ thì kiện Tỳ hóa đàm, khứ trọc thông mạch.
Huyết ứ rõ thì hoạt huyết hóa ứ, thông lạc.
Khí trệ rõ thì sơ Can lý khí, giúp khí hành thì huyết hành.
Hàn ngưng thì ôn kinh tán hàn, thông mạch.
Tỳ hư thì kiện Tỳ ích khí, hóa thấp.
Can Thận âm hư thì tư bổ Can Thận, bình Can tiềm dương.
Thận dương hư thì ôn bổ Thận dương, thông mạch lợi thủy.
Khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm, kiêm hoạt huyết thông lạc.
Một. Đàm trọc trở mạch
Chứng trạng
Thân thể nặng nề, dễ béo, bụng to, ngực tức, đầu nặng, chóng mặt, buồn nôn, đàm nhiều, ăn uống kém, bụng đầy, đại tiện dính, rêu lưỡi trắng dày nhầy, mạch hoạt hoặc huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc lưu lại trong mạch đạo, làm khí huyết vận hành không thông. Đàm trở vùng ngực thì ngực tức; trở thanh khiếu thì đầu nặng, chóng mặt; trở chi thể thì nặng nề, tê mỏi.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa đàm, khứ trọc thông mạch.
Phương thang
Nhị trần thang hợp Qua lâu giới bạch bán hạ thang gia giảm (二陈汤合瓜蒌薤白半夏汤加减): Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓), Cam thảo (甘草), Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Chỉ xác (枳壳), Trạch tả (泽泻), Sơn tra (山楂), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Thân thể nặng, thấp nhiều gia Hà diệp (荷叶), Thương truật (苍术), Ý dĩ nhân (薏苡仁); ngực tức rõ gia Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁); chóng mặt, đầu nặng gia Thiên ma (天麻), Bạch truật (白术).
Ý nghĩa
Bán hạ, Trần bì, Phục linh và Cam thảo kiện Tỳ hóa đàm; Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Trạch tả khứ thấp; Sơn tra tiêu thực; Đan sâm và Uất kim hành khí hoạt huyết, giúp đàm và ứ cùng được giải.
Hai. Đàm ứ hỗ kết
Chứng trạng
Ngực tức, đau âm ỉ hoặc đau thắt, đầu nặng chóng mặt, thân thể nặng nề, môi hơi tím, sắc mặt tối, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, rêu dày nhầy, tĩnh mạch dưới lưỡi tím giãn, mạch huyền hoạt hoặc sáp.
Bệnh cơ
Đàm trọc và huyết ứ kết lại trong mạch đạo. Đàm làm mạch nặng nề, huyết ứ làm mạch không thông. Đàm và ứ cùng tồn tại khiến bệnh kéo dài, thường kèm đau tức, tê nặng hoặc vận động bất lợi.
Pháp trị
Hóa đàm khứ trọc, hoạt huyết hóa ứ, thông mạch.
Phương thang
Ôn đảm thang hợp Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (温胆汤合血府逐瘀汤加减): Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Đan sâm (丹参), Ngưu tất (牛膝), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Ngực đau rõ gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Huyền hồ sách (玄胡索); chóng mặt gia Thiên ma (天麻), Câu đằng (钩藤), Cát căn (葛根); chi dưới lạnh tê, đi lại đau gia Kê huyết đằng (鸡血藤), Địa long (地龙), Ngưu tất (牛膝).
Ý nghĩa
Ôn đảm thang hóa đàm, điều hòa Đởm Vị; Huyết phủ trục ứ thang hoạt huyết hóa ứ, điều đạt khí cơ; Đan sâm, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân và Hồng hoa thông mạch; Uất kim hành khí hóa ứ; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống, thích hợp khi chi dưới bị ảnh hưởng.
Chú ý
Người đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu không nên tự phối hợp Hồng hoa, Đào nhân, Đan sâm, Xuyên khung, Tam thất, Nhũ hương hoặc Một dược.
Ba. Khí trệ huyết ứ
Chứng trạng
Ngực sườn đầy tức, hay thở dài, dễ cáu giận, đau tức ngực hoặc đau đầu, đau có vị trí tương đối cố định, sắc mặt tối, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp. Bệnh thường tăng khi căng thẳng hoặc giận dữ.
Bệnh cơ
Can khí uất kết, khí cơ không thông. Khí trệ làm huyết hành chậm, lâu ngày thành huyết ứ. Khí huyết cùng trở trong mạch đạo nên đau, tức và tê.
Pháp trị
Sơ Can lý khí, hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Sài hồ sơ Can tán hợp Đan sâm ẩm gia giảm (柴胡疏肝散合丹参饮加减): Sài hồ (柴胡), Hương phụ (香附), Chỉ xác (枳壳), Bạch thược (白芍), Xuyên khung (川芎), Trần bì (陈皮), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍).
Gia giảm
Ngực đau gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Huyền hồ sách (玄胡索); đau đầu chóng mặt gia Cúc hoa (菊花), Câu đằng (钩藤), Thiên ma (天麻); mất ngủ, lo âu gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤).
Ý nghĩa
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác và Trần bì sơ Can lý khí; Bạch thược hòa Can; Đan sâm, Xuyên khung và Xích thược hoạt huyết; Đàn hương, Sa nhân và Uất kim hành khí khoan trung.
Bốn. Hàn ngưng huyết ứ
Chứng trạng
Đau ngực, đau đầu hoặc đau chi gặp lạnh tăng, được ấm thì giảm; tay chân lạnh, sợ lạnh, sắc mặt trắng xanh hoặc tím nhạt, chân lạnh tê, đi lại đau tăng, lưỡi nhạt tím, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm khẩn.
Bệnh cơ
Hàn chủ ngưng trệ và co rút. Hàn tà hoặc dương hư làm mạch đạo co lại, khí huyết vận hành chậm và hình thành huyết ứ. Hàn ngưng ở Tâm mạch thì đau ngực; ở não mạch thì đau đầu; ở chi dưới thì lạnh đau, đi lại bất lợi.
Pháp trị
Ôn kinh tán hàn, hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Đương quy tứ nghịch thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm (当归四逆汤合丹参饮加减): Đương quy (当归), Quế chi (桂枝), Bạch thược (白芍), Tế tân (细辛) lượng nhỏ, Thông thảo (通草), Đại táo (大枣), Chích cam thảo (炙甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Xuyên khung (川芎).
Gia giảm
Hàn rõ có thể cân nhắc Phụ tử chế (制附子), Can khương (干姜), nhưng phải dùng rất thận trọng; đau chi dưới gia Ngưu tất (牛膝), Kê huyết đằng (鸡血藤), Địa long (地龙); đau ngực gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白).
Ý nghĩa
Đương quy dưỡng huyết hoạt huyết; Quế chi ôn kinh thông dương; Bạch thược hòa doanh; Tế tân tán hàn; Thông thảo thông lợi mạch lạc; Đan sâm và Xuyên khung hoạt huyết; Đàn hương và Sa nhân hành khí.
Chú ý
Phụ tử và Tế tân không được tự ý sử dụng. Nếu chân đột ngột lạnh tím, đau dữ dội hoặc mất mạch, cần cấp cứu kịp thời.
Năm. Tỳ hư đàm thấp
Chứng trạng
Mệt mỏi, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng hoặc dính, thân thể nặng nề, béo mềm, đàm nhiều, chóng mặt, lưỡi nhạt bệu, rêu trắng nhầy, mạch nhu hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư thì thủy thấp không hóa, thấp tụ thành đàm. Đàm thấp lâu ngày đi vào mạch, kết với huyết ứ, khiến mạch đạo không thông. Đây là nền tảng thường gặp ở người tiêu hóa yếu, ít vận động và thân thể nặng nề.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa đàm khứ thấp.
Phương thang
Lục quân tử thang hợp Trạch tả thang gia giảm (六君子汤合泽泻汤加减): Đảng sâm (党参), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Chích cam thảo (炙甘草), Trần bì (陈皮), Bán hạ (半夏), Trạch tả (泽泻), Hà diệp (荷叶), Sơn tra (山楂), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Bụng đầy gia Mộc hương (木香), Sa nhân (砂仁); đàm nhiều gia Qua lâu (瓜蒌), Trúc nhự (竹茹); khí hư rõ gia Hoàng kỳ (黄芪), Sơn dược (山药).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh và Chích cam thảo kiện Tỳ ích khí; Trần bì và Bán hạ hóa đàm; Trạch tả khứ thấp; Hà diệp hóa trọc; Sơn tra tiêu thực; Đan sâm hoạt huyết thông mạch.
Sáu. Can Thận âm hư, hư dương thượng kháng
Chứng trạng
Chóng mặt, đau đầu, ù tai, mất ngủ, hồi hộp, miệng khô, mắt khô, lưng gối đau mỏi, lòng bàn tay bàn chân nóng, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế sác.
Bệnh cơ
Can Thận âm hư, thủy không dưỡng mộc, hư dương thượng kháng, thanh khiếu bị quấy nhiễu nên chóng mặt, đau đầu và ù tai. Âm hư làm mạch đạo mất nhu dưỡng; huyết hành không thuận, lâu ngày có thể sinh ứ.
Pháp trị
Tư bổ Can Thận, bình Can tiềm dương, hoạt huyết thông lạc.
Phương thang
Kỷ cúc địa hoàng hoàn hợp Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm (杞菊地黄丸合天麻钩藤饮加减): Thục địa hoàng (熟地黄), Sơn thù du (山茱萸), Sơn dược (山药), Phục linh (茯苓), Trạch tả (泽泻), Mẫu đơn bì (牡丹皮), Cẩu kỷ tử (枸杞子), Cúc hoa (菊花), Thiên ma (天麻), Câu đằng (钩藤), Thạch quyết minh (石决明), Ngưu tất (牛膝), Đỗ trọng (杜仲), Tang ký sinh (桑寄生), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤); mặt đỏ, đầu trướng gia Hạ khô thảo (夏枯草), Hoàng cầm (黄芩); đau đầu nhiều gia Mạn kinh tử (蔓荆子).
Ý nghĩa
Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược và Cẩu kỷ tử tư bổ Can Thận; Thiên ma, Câu đằng và Thạch quyết minh bình Can tiềm dương; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống; Đỗ trọng và Tang ký sinh bổ Can Thận; Đan sâm hoạt huyết thông lạc.
Bảy. Thận dương hư, mạch đạo mất ôn dưỡng
Chứng trạng
Sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng gối mỏi lạnh, mệt mỏi, tiểu đêm nhiều, phù nhẹ, chân lạnh tê, đi lại nặng nề hoặc đau khi đi xa, lưỡi nhạt bệu, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm tế.
Bệnh cơ
Thận dương là gốc của dương khí. Thận dương hư thì mạch đạo mất sự ôn thông, huyết hành chậm, hàn và ứ dễ kết. Khí hóa thủy dịch không lợi nên phù, tiểu đêm; mạch chi dưới không được ôn dưỡng nên lạnh tê và đau.
Pháp trị
Ôn bổ Thận dương, ích khí thông mạch, lợi thủy hóa ứ.
Phương thang
Tế sinh thận khí hoàn gia giảm (济生肾气丸加减): Thục địa hoàng (熟地黄), Sơn thù du (山茱萸), Sơn dược (山药), Phục linh (茯苓), Trạch tả (泽泻), Mẫu đơn bì (牡丹皮), Phụ tử chế (制附子), Quế chi (桂枝) hoặc Nhục quế (肉桂), Ngưu tất (牛膝), Xa tiền tử (车前子), Đan sâm (丹参), Kê huyết đằng (鸡血藤).
Gia giảm
Chân lạnh đau gia Đương quy (当归), Xuyên khung (川芎), Quế chi (桂枝); phù rõ gia Trư linh (猪苓), Đại phúc bì (大腹皮); mệt nhiều gia Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参).
Ý nghĩa
Thục địa, Sơn thù du và Sơn dược bổ Thận; Phục linh và Trạch tả lợi thủy; Phụ tử chế, Quế chi hoặc Nhục quế ôn Thận dương; Ngưu tất dẫn thuốc xuống dưới; Đan sâm và Kê huyết đằng hoạt huyết thông lạc.
Chú ý
Phụ tử và Nhục quế cần dùng rất thận trọng, nhất là ở người có tim đập nhanh, huyết áp không ổn định hoặc biểu hiện nhiệt.
Tám. Khí âm lưỡng hư, mạch lạc thất dưỡng
Chứng trạng
Mệt mỏi, thở ngắn, hồi hộp, miệng khô, ra mồ hôi, mất ngủ, chóng mặt nhẹ, đau tức ngực âm ỉ hoặc tê mỏi chi, lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế sác hoặc hư sác.
Bệnh cơ
Khí hư không đủ sức vận huyết; âm hư làm mạch lạc mất nhu dưỡng. Khí âm đều suy khiến huyết hành không thuận, người bệnh dễ hồi hộp, mệt mỏi, tê mỏi và đau âm ỉ.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, hoạt huyết thông lạc.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Đan sâm ẩm gia giảm (生脉散合丹参饮加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Sinh địa hoàng (生地黄), Xích thược (赤芍), Hoàng kỳ (黄芪), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Âm hư rõ gia Thạch hộc (石斛), Ngọc trúc (玉竹), Huyền sâm (玄参); mệt nhiều gia Sơn dược (山药), Bạch truật (白术); huyết ứ rõ gia Xuyên khung (川芎), Uất kim (郁金).
Ý nghĩa
Đảng sâm và Hoàng kỳ ích khí; Mạch môn đông và Sinh địa dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí sinh tân; Đan sâm và Xích thược hoạt huyết; Đàn hương và Sa nhân hành khí; Toan táo nhân dưỡng Tâm an thần.
Vì sao không nên chỉ chú trọng hoạt huyết
Xơ vữa động mạch thường có huyết ứ, nhưng huyết ứ không phải là toàn bộ bệnh cơ. Nếu Tỳ hư mà chỉ dùng thuốc phá ứ, đàm thấp vẫn tiếp tục sinh. Nếu Thận dương hư mà chỉ hoạt huyết, mạch đạo vẫn thiếu ôn dưỡng. Nếu khí âm cùng suy mà công phá quá mức, chính khí và tân dịch càng tổn thương.
Vì vậy, hoạt huyết phải phối hợp kiện Tỳ hóa đàm, ích khí, dưỡng âm, ôn dương hoặc sơ Can tùy chứng. Thông mạch nhưng không làm tổn thương chính khí mới phù hợp tinh thần biện chứng luận trị.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu có thể hỗ trợ điều khí hoạt huyết, hóa đàm thông lạc, giảm chóng mặt, tê mỏi và đau tức ngực nhẹ khi tình trạng đã ổn định.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-17 Cách du (膈俞), Tỳ-10 Huyết hải (血海), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Vị-40 Phong long (丰隆), Can-3 Thái xung (太冲), Thận-3 Thái khê (太溪), Đởm-34 Dương lăng tuyền (阳陵泉).
Ngực tức có thể phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Bàng quang-15 Tâm du, Bàng quang-17 Cách du; đàm trọc phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-9 Âm lăng tuyền; huyết ứ, tê mỏi phối Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tỳ-6 Tam âm giao; chóng mặt do Can dương phối Can-3 Thái xung, Đởm-20 Phong trì, Thận-3 Thái khê; chi dưới đau khi đi bộ phối Vị-36 Túc tam lý, Đởm-34 Dương lăng tuyền, Tỳ-10 Huyết hải, Tỳ-6 Tam âm giao, Bàng quang-57 Thừa sơn và A thị huyệt.
Không châm cứu để trì hoãn việc xử trí khi đau ngực cấp, đột ngột yếu liệt, nói khó, chân lạnh tím hoặc mất mạch.
Bấm huyệt
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Vị-36 Túc tam lý, Vị-40 Phong long, Tỳ-6 Tam âm giao, Can-3 Thái xung và Tỳ-10 Huyết hải. Không xoa bóp mạnh chi dưới khi chân đột ngột lạnh, tím, sưng đau hoặc nghi tắc mạch.
Cứu ngải
Cứu ngải chỉ phù hợp với thể hàn ngưng hoặc dương hư. Có thể cân nhắc Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn, Bàng quang-23 Thận du và Tâm bào-6 Nội quan.
Không cứu khi sốt, miệng khô, lưỡi đỏ, huyết áp chưa ổn định, đau ngực cấp, đột ngột yếu liệt hoặc chi thể sưng nóng đỏ.
Ăn uống điều dưỡng
Ăn uống nên thanh đạm nhưng đủ chất, giảm thức ăn béo ngọt, chiên rán, nội tạng, rượu và đồ quá mặn. Nên tăng rau củ nấu chín, ngũ cốc, đậu, cá và thức ăn dễ tiêu.
Thể đàm trọc có thể dùng cháo Ý dĩ nhân Sơn tra: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Sơn tra (山楂), gạo tẻ. Người Tỳ Vị hư hàn hoặc đau dạ dày nên dùng Sơn tra ít.
Thể khí hư có thể dùng cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Thể khí âm hư có thể dùng cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Thể hàn ngưng có thể dùng cháo Sinh khương Thông bạch: Sinh khương (生姜), Thông bạch (葱白), gạo tẻ. Người lưỡi đỏ, miệng khô hoặc hư hỏa không nên dùng nhiều.
Mộc nhĩ đen có thể dùng như thực phẩm với lượng vừa phải, nhưng không nên xem là thuốc hoạt huyết hoặc ăn quá nhiều khi đang dùng thuốc chống đông.
Chú ý về thuốc hoạt huyết
Tam thất (三七), Đan sâm (丹参), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Uất kim (郁金), Nhũ hương (乳香) và Một dược (没药) đều có thể ảnh hưởng đến huyết hành.
Không nên tự phối hợp các vị này khi đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu. Cũng không nên xem Tam thất hay Đan sâm là thuốc bổ mạch dùng hằng ngày.
Điều dưỡng sinh hoạt
Người bệnh nên bỏ thuốc lá, hạn chế rượu, giữ cân nặng phù hợp, ngủ đủ và vận động đều đặn theo khả năng. Có thể đi bộ, tập dưỡng sinh hoặc thái cực quyền nhẹ khi tình trạng ổn định.
Không vận động mạnh khi đang đau ngực, chóng mặt, khó thở, tê yếu hoặc đau chân nhiều. Trời lạnh cần giữ ấm, đặc biệt với người hàn ngưng hoặc Thận dương hư.
Tinh thần nên giữ hòa hoãn. Lo nghĩ và giận dữ kéo dài làm Can khí uất, khí huyết khó lưu thông.
Những điều không nên làm
Không tự dùng thuốc Trung y thay cho việc theo dõi và điều trị bệnh mạch.
Không dùng rượu thuốc để “thông mạch”.
Không tự phối hợp nhiều vị hoạt huyết khi đang dùng thuốc chống đông.
Không nhịn ăn hoặc giảm cân cực đoan.
Không ăn quá nhiều thịt mỡ, nội tạng, đồ chiên rán, bánh ngọt và thức ăn chế biến sẵn.
Không xem nhẹ đau ngực, chóng mặt, tê yếu một bên cơ thể hoặc đau chân khi đi bộ.
Không xoa bóp mạnh chân khi nghi có tắc mạch.
Không tự dùng Phụ tử, Tế tân, Xuyên ô hoặc Thảo ô.
Chú ý
Bài viết chỉ trình bày nhận thức và phương pháp biện chứng của Trung y. Khi xuất hiện đau ngực dữ dội, khó thở, vã mồ hôi, đột ngột méo miệng, yếu liệt tay chân, nói khó, nhìn mờ, chân lạnh tím, mất mạch hoặc đau bụng dữ dội bất thường, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời. Không dùng thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Kết luận
Bệnh xơ vữa động mạch trong Trung y có thể được xem xét trong phạm vi Hung tý, Tâm thống, Huyễn vựng, Đầu thống, Trung phong, Mạch tý, Huyết ứ, Đàm trọc, Tý chứng và Thoát thư.
Bệnh cơ chủ yếu thuộc bản hư tiêu thực. Phần gốc thường là Tỳ, Thận, khí huyết và âm dương suy yếu; phần ngọn thường là đàm trọc, huyết ứ, khí trệ và hàn ngưng làm mạch đạo không thông.
Điều trị cần căn cứ từng thể bệnh. Đàm trọc thì kiện Tỳ hóa đàm; đàm ứ cùng kết thì hóa đàm hoạt huyết; khí trệ thì sơ Can lý khí; hàn ngưng thì ôn kinh thông mạch; Tỳ hư thì kiện Tỳ ích khí; Can Thận âm hư thì tư âm bình Can; Thận dương hư thì ôn dương thông mạch; khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm.
Toàn bộ quá trình điều trị phải chú ý vừa thông mạch vừa bảo vệ chính khí, không công phá quá mức, không lạm dụng hoạt huyết và không tự sử dụng các vị thuốc có độc tính.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp