Khái quát
Xơ hóa gan là tình trạng chất nền ngoại bào và mô liên kết trong gan tăng sinh quá mức, nổi bật là sự lắng đọng collagen. Đây là phản ứng sửa chữa của gan trước tổn thương kéo dài do viêm gan virus, rượu, gan nhiễm mỡ, độc chất, rối loạn miễn dịch hoặc những nguyên nhân khác.
Ở giai đoạn xơ hóa, cấu trúc tiểu thùy gan chưa bị phá vỡ hoàn toàn, chưa hình thành rõ các vách xơ bao quanh những nốt tái tạo và chưa xuất hiện giả tiểu thùy điển hình.
Xơ gan là giai đoạn tiến triển hơn, trong đó mô xơ chia cắt và làm biến dạng cấu trúc bình thường của gan, hình thành các nốt tái tạo, ảnh hưởng tuần hoàn trong gan và chức năng của tế bào gan.
Có thể nói xơ hóa gan là một quá trình bệnh lý, còn xơ gan là kết quả cấu trúc của quá trình ấy khi đã tiến triển đến mức tương đối nặng.
Xơ hóa gan có thể hồi phục không?
Xơ hóa gan không phải là quá trình hoàn toàn không thể thay đổi.
Trong cơ thể luôn đồng thời tồn tại hai quá trình:
Tổng hợp collagen và chất nền ngoại bào.
Phân giải, tái cấu trúc collagen và chất nền đã lắng đọng.
Khi tổn thương gan tiếp tục kéo dài, quá trình tổng hợp vượt quá khả năng phân giải, mô xơ ngày càng tăng. Khi nguyên nhân gây bệnh được kiểm soát, phản ứng viêm giảm và hoạt động của các tế bào tạo xơ suy yếu, một phần chất nền có thể được phân giải.
Xơ hóa mới hình thành thường có khả năng hồi phục cao hơn xơ hóa lâu ngày, đã tạo nhiều liên kết chéo và làm biến dạng cấu trúc gan.
Ngay cả trong một số trường hợp xơ gan, mức độ xơ và cấu trúc gan vẫn có thể được cải thiện nếu nguyên nhân được điều trị hiệu quả. Tuy nhiên, không nên hiểu rằng mọi trường hợp xơ gan đều có thể hoàn toàn trở lại bình thường.
Nhận thức của Trung y
Trong Trung y không có bệnh danh “xơ hóa gan” theo nghĩa mô bệnh học hiện đại. Căn cứ triệu chứng và tiến triển, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi các chứng:
Hiếp thống 脅痛.
Tích tụ 積聚.
Trưng hà 癥瘕.
Hoàng đản 黃疸.
Cổ trướng 鼓脹.
Hư lao 虛勞.
Ở giai đoạn sớm, người bệnh có thể chỉ đau tức hạ sườn, ngực bụng đầy, ăn kém và mệt mỏi. Khi bệnh tiến triển, gan lách có thể to, chất cứng, sắc mặt tối, xuất hiện sao mạch, bàn tay son, vàng da hoặc cổ trướng.
Bệnh cơ căn bản
Can khí uất trệ
Can chủ sơ tiết. Khi tà độc lưu lại ở gan hoặc bệnh gan kéo dài, Can khí không điều đạt, khí cơ vùng hạ sườn bị trở ngại.
Khí trệ khiến người bệnh đau tức hạ sườn, ngực bụng đầy, hay thở dài và ăn uống giảm.
Can uất còn ảnh hưởng Tỳ, làm vận hóa suy yếu và thấp trọc nội sinh.
Tỳ khí hư
Tỳ chủ vận hóa thủy cốc. Bệnh kéo dài, ăn uống kém hoặc dùng thuốc công phạt quá mức làm Tỳ khí suy.
Tỳ hư khiến người bệnh mệt mỏi, ăn ít, bụng đầy, phân lỏng, cơ thể nặng nề và dễ sinh đàm thấp.
Khí trệ huyết ứ
Khí hành thì huyết hành. Khi Can khí uất lâu ngày, huyết vận hành chậm, ứ trệ trong Can lạc.
Đây là bệnh cơ rất quan trọng trong xơ hóa gan. Người bệnh có thể đau hạ sườn cố định, gan lách to và cứng, sắc mặt sạm, môi tím, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết.
Thấp nhiệt còn lưu
Viêm gan mạn tính, thấp trọc tích lâu hóa nhiệt hoặc tà độc chưa giải có thể làm thấp nhiệt lưu lại ở Can Đởm.
Biểu hiện thường là miệng đắng, bụng đầy, nước tiểu vàng, vàng da nhẹ, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt.
Chính khí suy hư
Bệnh kéo dài làm khí huyết, Can Thận âm hoặc Tỳ Thận dương dần suy.
Ở giai đoạn này, huyết ứ và thấp trọc vẫn tồn tại nhưng chính khí đã yếu. Vì vậy, điều trị không thể chỉ hoạt huyết hoặc công phá mà phải phối hợp bổ chính.
Đàm ứ và tích tụ
Tỳ hư sinh đàm, khí trệ sinh ứ. Đàm và ứ cùng kết trong Can lạc, lâu ngày hình thành tích tụ, gan lách to và cứng.
Đây là cơ sở để vận dụng pháp nhuyễn kiên tán kết trong điều trị.
Nguyên tắc điều trị
Điều trị nguyên nhân là căn bản
Muốn hạn chế xơ hóa, trước hết cần kiểm soát nguyên nhân làm gan tiếp tục tổn thương.
Các yếu tố cần được xử lý gồm viêm gan virus, rượu, rối loạn chuyển hóa, gan nhiễm mỡ, thuốc hoặc hóa chất gây độc gan, tắc mật và bệnh tự miễn.
Trung dược không thể thay thế điều trị kháng virus hoặc điều trị nguyên nhân đã được xác định.
Hoạt huyết hóa ứ
Huyết ứ là bệnh cơ nổi bật trong xơ hóa gan. Pháp hoạt huyết hóa ứ nhằm điều hòa huyết mạch, cải thiện sự lưu thông trong Can lạc và hỗ trợ làm mềm tích tụ.
Các vị thường được tham khảo gồm Đan sâm, Xích thược, Đương quy, Uất kim, Kê huyết đằng, Trạch lan, Đào nhân.
Người có giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu hoặc đang xuất huyết phải dùng thận trọng.
Ích khí kiện Tỳ
Tỳ khí vững thì thủy cốc được vận hóa, khí huyết có nguồn sinh và thuốc hoạt huyết cũng không làm tổn thương chính khí.
Các vị thường dùng gồm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Thái tử sâm, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược và Cam thảo.
Nhuyễn kiên tán kết
Khi gan lách to, chất cứng hoặc tích tụ rõ, có thể phối hợp Miết giáp, Mẫu lệ và các vị nhuyễn kiên phù hợp.
Nhuyễn kiên không đồng nghĩa với trực tiếp làm mô xơ biến mất. Pháp này được vận dụng căn cứ biểu hiện tích tụ và đàm ứ kết lại.
Thanh lợi thấp nhiệt
Nếu thấp nhiệt còn rõ, cần phối hợp Nhân trần, Chi tử, Hoàng cầm, Trạch tả, Phục linh hoặc Uất kim.
Không nên dùng thuốc đắng lạnh kéo dài khi người bệnh đã Tỳ hư, sợ lạnh, ăn kém và phân lỏng.
Tư dưỡng Can Thận
Bệnh lâu làm âm huyết hao tổn thì cần phối hợp Sinh địa, Mạch môn, Sa sâm, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử hoặc Hoàng tinh.
Thuốc dưỡng âm thường có tính nê trệ, nên dùng thận trọng khi thấp trọc và bụng đầy còn rõ.
Ôn bổ Tỳ Thận
Người bệnh sợ lạnh, tay chân lạnh, phân lỏng, phù và tiểu ít có thể thuộc Tỳ Thận dương hư.
Điều trị cần ôn dương hóa khí, nhưng Phụ tử và các thuốc ôn dương mạnh chỉ được dùng khi biện chứng rõ và có sự theo dõi chuyên môn.
Biện chứng luận trị
Can uất Tỳ hư
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn, ngực bụng đầy, hay thở dài, ăn ít, mệt mỏi, phân lỏng, sắc mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt hoặc hơi đỏ, thân lưỡi to có dấu răng, mạch huyền nhược.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, Tỳ mất kiện vận, khí cơ không thông, thấp trọc dần sinh.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, ích khí, kiêm hoạt huyết.
Phương thang
Sài Hồ Sơ Can Tán hợp Tứ Quân Tử Thang gia giảm.
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác, Bạch thược, Xuyên khung, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo.
Huyết ứ rõ có thể gia Đan sâm, Uất kim.
Thấp nhiều có thể gia Trần bì, Hậu phác, Trạch tả.
Khí trệ huyết ứ
Biểu hiện
Đau hạ sườn cố định, gan hoặc lách to, chất tương đối cứng, sắc mặt tối, môi tím, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Can khí uất lâu ngày, huyết ứ trở lạc, chất nền và tích tụ dần hình thành.
Phép trị
Hoạt huyết hóa ứ, hành khí thông lạc, nhuyễn kiên.
Phương thang
Cách Hạ Trục Ứ Thang hoặc Huyết Phủ Trục Ứ Thang gia giảm.
Đan sâm, Uất kim, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Chỉ xác, Miết giáp.
Chú ý
Không dùng thuốc phá ứ mạnh khi có xuất huyết tiêu hóa, giảm tiểu cầu hoặc rối loạn đông máu.
Thấp nhiệt kiêm huyết ứ
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn, miệng đắng, ăn kém, bụng đầy, tiểu vàng, có thể vàng da nhẹ; lưỡi đỏ tối, rêu vàng nhớt, mạch huyền hoạt hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt còn lưu, khí cơ bị trở, huyết hành không thông.
Phép trị
Thanh lợi thấp nhiệt, sơ Can, hoạt huyết.
Phương thang
Nhân Trần Hao Thang hoặc Nhân Trần Ngũ Linh Tán hợp Đan Sâm Ẩm gia giảm.
Nhân trần, Chi tử, Phục linh, Trạch tả, Uất kim, Đan sâm, Xích thược.
Đại hoàng chỉ dùng khi thấp nhiệt thực chứng và đại tiện bí rõ.
Khí hư huyết ứ
Biểu hiện
Mệt mỏi rõ, hơi thở ngắn, ăn ít, sắc mặt nhợt tối, đau hạ sườn âm ỉ hoặc cố định, gan lách to, lưỡi nhạt tím, mạch tế sáp.
Bệnh cơ
Khí hư không thúc đẩy huyết hành, huyết ứ lưu lại trong Can lạc.
Phép trị
Ích khí hoạt huyết, thông lạc.
Phương thang
Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang gia giảm.
Hoàng kỳ, Đương quy vĩ, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Địa long, Đan sâm.
Người có nguy cơ xuất huyết cần giảm các vị hoạt huyết mạnh.
Can Thận âm hư kiêm huyết ứ
Biểu hiện
Người gầy, miệng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng, mất ngủ, đau hạ sườn âm ỉ, sắc mặt sạm, lưỡi đỏ tối, ít rêu, mạch huyền tế sác.
Bệnh cơ
Can Thận âm hư, Can lạc mất nuôi dưỡng, huyết ứ chưa giải.
Phép trị
Tư dưỡng Can Thận, dưỡng huyết hoạt huyết.
Phương thang
Nhất Quán Tiễn hợp Đan Sâm Ẩm gia giảm.
Sinh địa, Sa sâm, Mạch môn, Câu kỷ tử, Đương quy, Bạch thược, Đan sâm, Uất kim.
Tỳ Thận dương hư
Biểu hiện
Mệt mỏi, sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn ít, bụng đầy, phân lỏng, phù, tiểu ít, lưỡi nhạt to, rêu trắng, mạch trầm nhược.
Bệnh cơ
Tỳ dương không vận hóa, Thận dương không khí hóa, thủy thấp đình tụ.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, hóa khí lợi thủy.
Phương thang
Chân Vũ Thang hoặc Phụ Tử Lý Trung Thang gia giảm.
Phụ tử chế, Bạch truật, Phục linh, Bạch thược, Sinh khương, Đảng sâm, Trạch tả.
Chú ý
Phụ tử có độc, không được tự sử dụng.
Cường can thang
Nguồn gốc lập phương
Cường can thang được xây dựng trên nhận thức rằng bệnh gan mạn và xơ hóa thường có nhiều bệnh cơ cùng tồn tại:
Thấp nhiệt chưa hết.
Huyết ứ trở lạc.
Can khí uất trệ.
Tỳ khí suy yếu.
Can Thận âm huyết bất túc.
Vì vậy, phương không chỉ hoạt huyết mà còn phối hợp ích khí, kiện Tỳ, dưỡng âm và thanh lợi thấp nhiệt.
Phương thang tham khảo
Đan sâm, Hoàng kỳ, Nhân trần, Bản lam căn, Đương quy, Bạch thược, Uất kim, Đảng sâm, Hoàng tinh, Sinh địa, Trạch tả, Sơn tra, Sơn dược, Cam thảo.
Ý nghĩa phối ngũ
Đan sâm, Uất kim, Đương quy và Bạch thược điều hòa khí huyết, hoạt huyết thông lạc.
Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật hoặc Sơn dược ích khí kiện Tỳ, nâng đỡ chính khí.
Nhân trần và Trạch tả thanh lợi thấp nhiệt, điều hòa thủy dịch.
Sinh địa và Hoàng tinh dưỡng âm huyết.
Sơn tra tiêu thực, hỗ trợ vận hóa và kiêm hoạt huyết.
Bản lam căn thiên về thanh nhiệt giải độc, chỉ phù hợp khi còn biểu hiện nhiệt độc; không nên dùng kéo dài ở người Tỳ Vị hư hàn.
Cường can nhu can thang
Khi huyết ứ và tích tụ rõ hơn, có thể từ Cường can thang gia Miết giáp và tăng cường Đan sâm, Hoàng kỳ để hình thành phương pháp ích khí hoạt huyết, nhuyễn kiên tán kết.
Phương thuốc thích hợp hơn với tình trạng:
Chính khí suy hư.
Gan lách to hoặc chất cứng.
Khí huyết vận hành không thông.
Thấp nhiệt hoặc đàm thấp còn tồn tại.
Không nên sử dụng cố định cho mọi trường hợp xơ hóa gan.
Vai trò của các nhóm thuốc
Nhóm hoạt huyết hóa ứ
Đan sâm, Xích thược, Đương quy, Uất kim và Đào nhân thường được nghiên cứu trong bệnh gan mạn.
Theo lý luận Trung y, nhóm này giúp thông Can lạc, điều hòa huyết hành và giảm tích tụ.
Tác dụng thực tế phụ thuộc nguyên nhân bệnh, mức độ xơ hóa, liều lượng, phối ngũ và thời gian sử dụng.
Nhóm ích khí kiện Tỳ
Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh và Sơn dược giúp nâng đỡ Tỳ khí, cải thiện ăn uống và thể trạng.
Pháp ích khí đặc biệt phù hợp khi người bệnh mệt mỏi, ăn kém, lưỡi nhạt và mạch yếu.
Nhóm nhuyễn kiên tán kết
Miết giáp, Mẫu lệ có thể dùng khi gan lách to, tích tụ và huyết ứ rõ.
Không nên hiểu “nhuyễn kiên” là trực tiếp hòa tan collagen hoặc bảo đảm làm gan mềm trở lại.
Nhóm dưỡng âm
Sinh địa, Hoàng tinh, Mạch môn, Sa sâm và Câu kỷ tử thích hợp khi âm dịch hao tổn.
Nhóm thanh lợi thấp nhiệt
Nhân trần, Chi tử, Hoàng cầm, Trạch tả được dùng khi có vàng da, miệng đắng, tiểu vàng và rêu lưỡi vàng nhớt.
Những điểm cần hiểu đúng
Chỉ dấu xơ hóa không thay thế toàn bộ đánh giá
Các xét nghiệm liên quan collagen và chất nền ngoại bào chỉ phản ánh một phần quá trình xơ hóa. Chúng có thể bị ảnh hưởng bởi viêm, chức năng thận và những bệnh khác.
Ngày nay, đánh giá xơ hóa còn dựa vào các phương pháp đo độ cứng gan và những chỉ số không xâm lấn khác. Kết quả phải được phân tích cùng nguyên nhân, xét nghiệm chức năng gan và hình ảnh học.
Sinh thiết gan không phải lúc nào cũng cần
Sinh thiết cung cấp thông tin mô học trực tiếp nhưng có tính xâm lấn và sai số lấy mẫu. Việc chỉ định phụ thuộc từng trường hợp.
Không nên nói xơ hóa gan chắc chắn sẽ thành xơ gan
Nếu nguyên nhân được kiểm soát sớm, xơ hóa có thể ổn định hoặc cải thiện.
Không phải cứ dùng thuốc hoạt huyết càng sớm càng tốt
Thuốc hoạt huyết chỉ nên dùng khi phù hợp với biện chứng và tình trạng đông máu. Người viêm gan cấp kèm xuất huyết hoặc suy gan nặng phải đặc biệt thận trọng.
Không dựa vào một bài thuốc để đánh giá hiệu quả chống xơ
Xơ hóa là kết quả của nhiều nguyên nhân. Hiệu quả điều trị cần được đánh giá bằng tiến triển bệnh, xét nghiệm, độ cứng gan, hình ảnh và biến chứng, không chỉ căn cứ triệu chứng hoặc một chỉ dấu đơn lẻ.
Không tự phối hợp quá nhiều Trung dược
Người bệnh gan có khả năng chuyển hóa thuốc suy giảm. Phương thuốc quá nhiều vị hoặc dùng kéo dài có thể làm tăng nguy cơ tổn thương gan do dược liệu.
Phòng ngừa xơ hóa gan
Điều trị nguyên nhân
Tuân thủ điều trị viêm gan B, viêm gan C hoặc bệnh tự miễn khi đã được chẩn đoán.
Ngừng rượu bia.
Kiểm soát cân nặng, đường huyết, lipid máu và gan nhiễm mỡ.
Tránh thuốc và thực phẩm bổ sung không rõ thành phần.
Không ăn thực phẩm mốc hoặc nhiễm độc.
Duy trì dinh dưỡng
Ăn đủ năng lượng và chất đạm phù hợp.
Tăng rau, trái cây và ngũ cốc nguyên hạt căn cứ khả năng tiêu hóa.
Hạn chế thức ăn quá nhiều đường, mỡ và muối.
Không kiêng khem quá mức làm cơ thể suy nhược.
Vận động
Vận động đều đặn giúp cải thiện chuyển hóa, duy trì khối cơ và hỗ trợ kiểm soát gan nhiễm mỡ.
Mức vận động phải phù hợp với thể lực và giai đoạn bệnh.
Theo dõi
Xét nghiệm chức năng gan và nguyên nhân bệnh.
Công thức máu, tiểu cầu và đông máu.
Siêu âm hoặc phương pháp đánh giá độ cứng gan khi có chỉ định.
Tầm soát ung thư gan ở nhóm nguy cơ cao theo hướng dẫn chuyên khoa.
Dấu hiệu cần được đánh giá sớm
Vàng da tăng.
Bụng trướng hoặc phù chân.
Nôn ra máu, đại tiện phân đen.
Sụt cân nhanh.
Đau hạ sườn tăng dần.
Gan hoặc lách to nhanh.
Ngủ gà, lú lẫn.
Tiểu ít.
Sốt hoặc đau bụng.
Kết luận
Xơ hóa gan là quá trình mô liên kết và collagen tăng sinh trong gan do tổn thương kéo dài. So với xơ gan, cấu trúc gan trong xơ hóa chưa bị biến dạng hoàn toàn và khả năng hồi phục thường cao hơn.
Theo Trung y, bệnh chủ yếu liên quan đến Can uất, Tỳ hư, huyết ứ, đàm thấp và thấp nhiệt; bệnh kéo dài có thể làm Can Thận âm hư hoặc Tỳ Thận dương hư.
Pháp điều trị thường lấy hoạt huyết hóa ứ làm trọng tâm, phối hợp ích khí kiện Tỳ, thanh lợi thấp nhiệt, dưỡng âm hoặc nhuyễn kiên tán kết căn cứ từng thể bệnh.
Cường can thang và các phương ích khí hoạt huyết, nhuyễn kiên có giá trị tham khảo trong điều trị phối hợp. Tuy nhiên, hiệu quả chống xơ hóa chỉ có thể đạt được khi nguyên nhân gây tổn thương gan được kiểm soát và phương thuốc được lựa chọn phù hợp với tình trạng cụ thể.
Nói tóm lại, điều trị xơ hóa gan không chỉ nhằm giảm một chỉ số collagen hoặc làm mềm gan, mà phải đồng thời kiểm soát nguyên nhân, giảm viêm, bảo vệ chức năng gan, điều hòa khí huyết và ngăn bệnh tiến triển thành xơ gan mất bù.
Trường Xuân biên soạn