KINH NGHIỆM CỦA LƯU ĐỘ CHÂU TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH CAN VÀ VỊ THỐNG
Phần một
TÁM PHÉP TRỊ BỆNH CAN CỦA LƯU ĐỘ CHÂU
Khái quát
Giáo sư Lưu Độ Châu là một trong những nhà nghiên cứu và vận dụng kinh phương tiêu biểu của Trung y hiện đại. Ông tinh thông học thuyết Thương Hàn Luận, đặc biệt giỏi sử dụng các nhóm phương Sài hồ, Linh quế và Tả tâm trong điều trị nội thương tạp bệnh.
Khi điều trị bệnh Can, nhất là viêm gan mạn tính, xơ hóa gan, xơ gan và các chứng Can khí, Can huyết, thấp nhiệt, huyết ứ, chính hư, ông quy nạp thành tám phép cơ bản:
Sơ, lợi, thanh, hoạt, ôn, hòa, tiêu, bổ.
Tám phép này không tách biệt hoàn toàn mà thường được phối hợp căn cứ vào từng giai đoạn bệnh. Bệnh Can mạn tính phần nhiều có bệnh cơ phức tạp, thấp nhiệt chưa hết, Can khí không sơ, huyết lạc ứ trệ và chính khí suy yếu cùng tồn tại. Vì vậy, điều trị không nên chỉ chấp vào một phép.
I. Sơ pháp
Sơ là sơ Can giải uất, làm cho Can khí được điều đạt và khí cơ được thông suốt.
Can có đặc tính thích điều đạt mà ghét uất trệ. Khi thấp nhiệt, dịch độc hoặc tình chí ảnh hưởng đến chức năng sơ tiết, Can khí không thông có thể gây đau tức hạ sườn, ngực bụng đầy, ăn uống kém, hay thở dài, tinh thần không thư thái.
Trong điều trị bệnh Can mạn tính, phép sơ Can cần được quán triệt từ đầu đến cuối. Tuy nhiên, mức độ và cách sử dụng phải căn cứ thể trạng và giai đoạn bệnh.
Vị thuốc thường dùng
Sài hồ, Hương phụ, Sinh mạch nha, Uất kim, Phật thủ, Thanh bì, Quất diệp.
Sài hồ là vị thuốc tiêu biểu của phép sơ Can. Khi điều trị nội thương, thường không cần dùng liều quá lớn. Người bệnh Can âm chưa tổn thương có thể dùng lượng vừa để sơ Can giải uất. Khi Can âm hư, lưỡi đỏ, ít rêu hoặc lưỡi đỏ sẫm, vẫn có thể dùng Sài hồ nhưng lượng nên nhỏ, đồng thời phối hợp Bạch thược, Sa sâm, Mạch môn hoặc Sinh địa để dưỡng âm nhu Can.
Phương thường dùng
Sài Hồ Sơ Can Tán.
Tứ Nghịch Tán.
Tiêu Dao Tán.
Sài Thược Lục Quân Tử Thang.
Ý nghĩa
Sơ Can không chỉ để giảm đau tức hạ sườn mà còn giúp Tỳ Vị vận hóa, khí huyết lưu thông và các phép thanh, lợi, hoạt, bổ phát huy tác dụng tốt hơn.
II. Lợi pháp
Lợi là thanh lợi thấp nhiệt, làm cho thấp nhiệt có đường bài xuất qua đại tiện hoặc tiểu tiện.
Trong quá trình bệnh Can, nhất là viêm gan mạn tính, thấp nhiệt thường kéo dài dai dẳng. Có trường hợp thấp nặng hơn nhiệt, nhiệt nặng hơn thấp, thấp nhiệt cùng thịnh hoặc chính hư kiêm thấp nhiệt.
Thấp nhiệt uẩn kết có thể gây mệt mỏi nặng nề, chán ăn, đầy bụng, miệng đắng hoặc dính, tiểu vàng, đại tiện không thông lợi, vàng da và rêu lưỡi vàng nhớt.
Lợi qua tiểu tiện
Vị thuốc thường dùng gồm Phục linh, Trạch tả, Trư linh, Hoạt thạch, Xa tiền tử, Bạch mao căn, Chi tử.
Lợi qua đại tiện
Khi thấp nhiệt và ứ nhiệt kết ở Trường phủ, có thể dùng Đại hoàng với lượng thích hợp để thông phủ, tiết nhiệt và hoạt huyết.
Đại hoàng không chỉ có công năng công hạ mà còn mang ý nghĩa “thôi trần trí tân”, tức đẩy bỏ tà cũ, giúp khí huyết và cơ năng mới được phục hồi.
Phương thường dùng
Nhân Trần Ngũ Linh Tán.
Nhân Trần Hao Thang.
Chi Tử Bá Bì Thang.
Lưu ý
Người bệnh Tỳ hư, phân lỏng, ăn kém hoặc thể trạng suy yếu không nên dùng thuốc lợi thấp, công hạ quá mức. Phải đồng thời bảo vệ Tỳ Vị và tân dịch.
III. Thanh pháp
Thanh là thanh nhiệt giải độc, dùng để xử lý thấp nhiệt độc tà, dịch độc và nhiệt độc uẩn kết trong Can Đởm.
Khi nhiệt độc rõ, người bệnh thường có vàng da, miệng đắng, khát, tiểu vàng đỏ, hạ sườn đau tức, lưỡi đỏ, rêu vàng và mạch huyền sác.
Vị thuốc thường dùng
Phượng vĩ thảo, Thùy bồn thảo, Hổ trượng, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán chi liên, Hoàng cầm, Chi tử, Nhân trần, Bại tương thảo.
Phương thường dùng
Nhân Trần Hao Thang.
Long Đởm Tả Can Thang.
Cam Lộ Tiêu Độc Đan.
Đan Chi Tiêu Dao Tán.
Ý nghĩa
Thanh nhiệt giải độc là một phép quan trọng nhưng không nên tuyệt đối hóa. Bệnh Can mạn tính thường không chỉ có nhiệt độc mà còn kèm Can uất, Tỳ hư, huyết ứ hoặc âm thương. Nếu chỉ dùng thuốc đắng lạnh kéo dài, Tỳ Vị dễ bị tổn thương, khiến ăn uống kém, tiêu chảy và chính khí suy giảm.
IV. Hoạt pháp
Hoạt là hoạt huyết hóa ứ, thông lạc và cải thiện tình trạng huyết hành không thông.
Bệnh Can kéo dài thường từ khí phận đi vào huyết phận. Khi xơ hóa gan hoặc xơ gan hình thành, bệnh đã đi sâu vào lạc mạch. Trung y có câu “bệnh lâu nhập lạc”, vì vậy cần phối hợp thuốc hoạt huyết và thông lạc.
Biểu hiện thường gặp
Đau hạ sườn cố định, đau như châm chích, gan lách to hoặc cứng, sắc mặt tối, môi tím, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Vị thuốc thường dùng
Đan sâm, Trạch lan, Thiến thảo, Tô mộc, Xích thược, Uất kim, Đào nhân, Hồng hoa.
Khi huyết ứ và lạc trở rõ, có thể cân nhắc các vị trùng loại như Thổ miết trùng. Tuy nhiên, nhóm thuốc này có tính công phá tương đối mạnh, chỉ nên dùng dưới sự hướng dẫn chuyên môn.
Phương thường dùng
Sài Hồ Hoạt Lạc Thang.
Huyết Phủ Trục Ứ Thang.
Cách Hạ Trục Ứ Thang.
Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang khi khí hư huyết ứ.
Lưu ý
Người giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu, xuất huyết tiêu hóa hoặc đang dùng thuốc chống đông không được tự sử dụng thuốc hoạt huyết phá ứ mạnh.
V. Ôn pháp
Ôn là ôn bổ dương khí, bao gồm ôn Tỳ dương, ôn Thận dương và ôn thông Can dương.
Ở giai đoạn sau của bệnh Can, nhiều người xuất hiện Tỳ dương hư, Thận dương hư hoặc Can nhiệt Tỳ hàn. Nếu chỉ chú trọng thanh nhiệt mà bỏ qua dương hư, bệnh dễ kéo dài và Tỳ Vị ngày càng suy.
Biểu hiện Tỳ dương hư
Mệt mỏi, ăn ít, bụng đầy, phân lỏng, sợ lạnh, chân tay lạnh, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm nhược.
Vị thuốc thường dùng
Bạch truật, Can khương, Ích trí nhân, Đảng sâm, Phục linh, Sa nhân.
Ôn thông Can dương
Trong một số trường hợp, Lưu Độ Châu phối hợp lượng nhỏ Quế chi vào các phương thanh nhiệt để ôn thông dương khí của Can, giúp khí hóa vận hành và tránh thuốc hàn lương làm ngưng trệ.
Phương thường dùng
Lý Trung Thang.
Hữu Quy Hoàn.
Nhân Trần Truật Phụ Thang.
Lưu ý
Người còn thấp nhiệt rõ, vàng da tươi, miệng đắng, khát, lưỡi đỏ và rêu vàng nhớt không thích hợp dùng thuốc ôn bổ mạnh.
VI. Hòa pháp
Hòa là điều hòa âm dương, hàn nhiệt, khí huyết và hư thực.
Bệnh Can mạn tính thường có chính hư tà thực, thấp nhiệt chưa hết, âm huyết bị tổn thương, khí trệ và huyết ứ cùng xuất hiện. Khi bệnh cơ phức tạp, không thể chỉ dùng một phép công hoặc bổ, hàn hoặc nhiệt.
Mục tiêu của hòa pháp là làm cho âm dương cùng điều, khí huyết tương thuận, Tạng phủ phối hợp và cơ thể trở lại trạng thái hài hòa.
Phương thường dùng
Tiểu Sài Hồ Thang.
Sài Hồ Quế Chi Thang.
Bán Hạ Tả Tâm Thang.
Sinh Khương Tả Tâm Thang.
Cam Thảo Tả Tâm Thang.
Sài Bình Thang.
Ý nghĩa
Hòa không có nghĩa là dùng thuốc nhẹ hoặc điều trị không rõ trọng điểm. Hòa pháp vẫn phải căn cứ bệnh cơ chủ yếu, nhưng chú trọng phối hợp các mặt đối lập trong cùng một phương như hàn và nhiệt, công và bổ, thăng và giáng, khí và huyết.
VII. Tiêu pháp
Tiêu là tiêu trừ trưng hà tích tụ, nhuyễn kiên tán kết.
Phép này chủ yếu dùng khi bệnh Can đã có xơ hóa, xơ gan, gan lách to, vùng hạ sườn có khối cứng hoặc huyết ứ kết tụ lâu ngày.
Vị thuốc thường dùng
Miết giáp, Mẫu lệ, Thổ miết trùng, Đan sâm, Nga truật, Tam lăng, Uất kim.
Phương thường dùng
Miết Giáp Tiễn Hoàn gia giảm.
Cách Hạ Trục Ứ Thang.
Đại Hoàng Giá Trùng Hoàn trong trường hợp thích hợp.
Nguyên tắc vận dụng
Tiêu tích không đồng nghĩa với công phá mạnh. Người bệnh xơ gan thường chính khí suy, vì vậy phải phối hợp tiêu và bổ, hoạt huyết và ích khí, nhuyễn kiên và kiện Tỳ.
VIII. Bổ pháp
Bổ là phù chính, bổ ích khí huyết, âm dương, giúp cơ thể nâng cao sức chống bệnh.
Bệnh Can mạn tính thường kéo dài nhiều năm, chính khí dần suy. Nếu chỉ thanh nhiệt giải độc mà không phù chính, cơ thể khó phục hồi chức năng điều hòa và sức chống bệnh.
Bổ khí
Vị thuốc thường dùng gồm Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục linh, Đảng sâm, Thái tử sâm, Sa sâm.
Phương thường dùng
Tứ Quân Tử Thang.
Sâm Linh Bạch Truật Tán.
Bổ Trung Ích Khí Thang.
Bổ âm dưỡng huyết
Khi Can âm, Can huyết tổn thương, có thể dùng Bạch thược, Đương quy, Câu kỷ tử, Sơn thù du, Sinh địa, Sa sâm, Mạch môn.
Phương thường dùng
Nhất Quán Tiễn.
Lục Vị Địa Hoàng Hoàn.
Sinh Mạch Tán.
Bát Trân Thang.
Nguyên tắc
Chính khí hư thì cần bổ đúng lúc, nhưng bổ phải phù hợp với bệnh cơ. Khi thấp nhiệt còn rõ, nên chọn thuốc bổ khí mà không quá nê trệ, đồng thời phối hợp hóa thấp hoặc thanh lợi.
Không nên hiểu phù chính là có thể trực tiếp loại bỏ virus. Vai trò chủ yếu của phép bổ là hỗ trợ cơ thể hồi phục, điều hòa chức năng Tạng phủ và nâng cao sức chống bệnh.
Tổng luận về tám phép trị Can
Tám phép sơ, lợi, thanh, hoạt, ôn, hòa, tiêu, bổ phản ánh đầy đủ các mặt chủ yếu của bệnh Can mạn tính.
Sơ để điều đạt Can khí.
Lợi để dẫn thấp nhiệt ra ngoài.
Thanh để giải nhiệt độc.
Hoạt để thông huyết lạc.
Ôn để trợ dương hóa khí.
Hòa để điều chỉnh hàn nhiệt, hư thực.
Tiêu để nhuyễn kiên, hóa tích.
Bổ để phù chính, phục hồi khí huyết âm dương.
Trên lâm sàng, các phép phải được phối hợp linh hoạt. Có thể sơ Can kiêm thanh lợi, hoạt huyết kiêm nhuyễn kiên, kiện Tỳ kiêm hóa thấp, dưỡng âm kiêm sơ Can hoặc ôn dương kiêm lợi thủy.
Phần hai
MƯỜI HAI PHÉP TRỊ VỊ THỐNG CỦA LƯU ĐỘ CHÂU
Khái quát
Vị thống là đau vùng thượng vị, có thể gặp trong nhiều bệnh lý dạ dày và đường tiêu hóa trên. Theo Trung y, nguyên nhân thường liên quan đến hàn tà, thực tích, thấp trọc, thủy ẩm, Can khí phạm Vị, hàn nhiệt thác tạp, huyết ứ và Tỳ Vị hư yếu.
Nguyên tắc căn bản là “bất thông tắc thống” và “bất vinh tắc thống”.
“Bất thông tắc thống” chỉ khí trệ, huyết ứ, thực tích, đàm thấp, thủy ẩm hoặc hàn nhiệt làm khí cơ bế tắc, không thông thì đau.
“Bất vinh tắc thống” chỉ Tỳ Vị hư yếu, khí huyết hoặc âm dịch không đủ nuôi dưỡng Vị lạc, do đó phát đau âm ỉ kéo dài.
I. Ôn Vị tán hàn, hành khí chỉ thống
Phạm vi
Dùng khi hàn tà xâm nhập Trung tiêu hoặc ăn nhiều thực phẩm sống lạnh làm Vị khí ngưng trệ.
Biểu hiện
Vị quản đau dữ dội hoặc co rút, gặp lạnh đau tăng, gặp ấm giảm, thích ăn uống nóng, sợ lạnh, ợ hơi, rêu lưỡi trắng, mạch huyền khẩn hoặc huyền trì.
Phương thường dùng
Lương Khương Chỉ Thống Ẩm.
Cao lương khương, Sa nhân, Sài hồ, Tử tô, Ngô thù du, Chích cam thảo.
Trung tiêu hư hàn nặng, đau quặn, chân tay lạnh, mạch trầm vi có thể tham khảo Đại Kiến Trung Thang.
Ngoại cảm phong hàn, bên trong có hàn thấp và thực tích có thể dùng Ngũ Tích Tán gia giảm.
Ngoại cảm hàn thấp kiêm Vị quản đầy đau, buồn nôn có thể dùng Hoắc Hương Chính Khí Tán gia giảm.
II. Tiêu thực đạo trệ, thanh lợi thấp nhiệt
Phạm vi
Dùng khi thức ăn đình tích lâu ngày hóa thấp sinh nhiệt hoặc thấp nhiệt kết với thực tích ở Vị Trường.
Biểu hiện
Vị quản đầy trướng đau, cự án, ợ hơi mùi chua thối, nôn thức ăn chưa tiêu, sau nôn đau giảm, chán ăn, đại tiện bí hoặc tiêu chảy, tiểu vàng, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch trầm hữu lực.
Phương thường dùng
Chỉ Thực Đạo Trệ Hoàn hoặc Chỉ Thực Đạo Trệ Thang.
Bảo Hòa Hoàn.
Bảo Hòa Hoàn thường dùng khi trẻ nhỏ ăn uống quá nhiều, Tỳ Vị không vận hóa, xuất hiện bụng đầy, chán ăn, ợ chua, buồn nôn, đại tiện bất thường và rêu lưỡi đục nhớt.
Trong trường hợp này, không nên tiếp tục ép trẻ ăn nhiều hoặc dùng thuốc bổ, vì càng làm thực tích nặng thêm.
III. Táo thấp vận Tỳ, hành khí hòa Vị
Phạm vi
Dùng khi thấp trệ Tỳ Vị làm vận hóa suy giảm và khí cơ bị ngăn trở.
Biểu hiện
Vị quản đầy trướng đau, ăn kém, miệng nhạt, buồn nôn, ợ hơi, thân thể nặng nề, lười vận động, phân lỏng, rêu lưỡi trắng dày nhớt, mạch hoãn.
Phương thường dùng
Bình Vị Tán.
Thương truật, Hậu phác, Trần bì, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo.
Khi thấp trệ kiêm thực tích và hóa nhiệt, có thể phối hợp Đại Hoàng Hoàng Liên Tả Tâm Thang.
Khi thấp trệ kiêm khí cơ Thiếu dương không lợi, miệng đắng, hạ sườn trướng và mạch huyền, có thể dùng Sài Bình Thang, tức Tiểu Sài Hồ Thang hợp Bình Vị Tán.
IV. Hành thủy tiêu bĩ
Phạm vi
Dùng khi thủy ẩm đình ở Vị, làm khí cơ vùng tâm hạ bế tắc.
Biểu hiện
Tâm hạ bĩ mãn hoặc đau, buồn nôn, ợ hơi, ăn uống kém, hồi hộp, chóng mặt, tiểu tiện không lợi, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm huyền.
Phương thường dùng
Tiểu Bán Hạ Gia Phục Linh Thang.
Bán hạ, Sinh khương, Phục linh.
Phục Linh Cam Thảo Thang, còn gọi là Linh Quế Khương Cam Thang, dùng khi thủy ẩm đình ở tâm hạ, hồi hộp, đau hoặc cảm giác rung động dưới tâm, rêu lưỡi trơn ướt.
Phép trị trọng điểm là ôn hóa thủy ẩm, giáng nghịch chỉ nôn và dẫn thủy đi xuống.
V. Sơ Can hòa Vị
Phạm vi
Dùng khi Can khí phạm Vị, làm Vị mất hòa giáng.
Biểu hiện
Vị quản đầy đau, hạ sườn trướng, ợ hơi, nôn chua, cồn cào, buồn nôn, rìa lưỡi đỏ, rêu trắng nhớt, mạch huyền hoạt.
Phương thường dùng
Du Liên Nhị Trần Thang.
Ngô thù du, Hoàng liên, Xuyên luyện tử, Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Sinh khương, Hương phụ.
Trong phương, Hoàng liên phối Ngô thù du mang ý nghĩa của Tả Kim Hoàn, có tác dụng thanh Can hỏa, giáng nghịch hòa Vị. Xuyên luyện tử và Hương phụ sơ Can lý khí; Bán hạ, Trần bì, Phục linh và Sinh khương hòa Vị hóa đàm.
Can khí hoành nghịch, Vị khí bế tắc, nôn chua và tâm hạ đầy có thể tham khảo Chế Can An Vị Thang.
VI. Sơ Can thanh nhiệt
Phạm vi
Dùng khi Can uất lâu ngày hóa hỏa, Can hỏa phạm Vị.
Biểu hiện
Vị quản đau cấp, nóng rát, cồn cào, ợ chua, miệng khô đắng, thích uống lạnh, phiền táo dễ giận, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền hoạt.
Phương thường dùng
Đan Chi Tiêu Dao Tán hợp Tả Kim Hoàn.
Nếu Thiếu dương nhiệt chưa giải lại kết ở Dương minh, xuất hiện tâm hạ cấp, ấn đau, hạ sườn đầy, đại tiện bí, lưỡi đỏ, rêu vàng dày và mạch huyền hữu lực, có thể dùng Đại Sài Hồ Thang.
Đại Sài Hồ Thang vừa hòa giải Thiếu dương, vừa thông tiết lý thực Dương minh, thích hợp với chứng Can Vị bất hòa kiêm thực nhiệt.
VII. Hoạt huyết hành khí chỉ thống
Phạm vi
Dùng khi vị thống kéo dài, bệnh nhập lạc, khí trệ huyết ứ.
Biểu hiện
Vị quản đau cố định, đau như kim châm hoặc dao cắt, cự án, ban đêm đau tăng, có thể đại tiện phân đen, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ huyết, mạch sáp.
Phương thường dùng
Ô Cập Thang.
Hải phiêu tiêu, Bạch cập, Đương quy, Xích thược, Bồ hoàng, Ngũ linh chi, Bạch truật, Hương phụ.
Thất tình uất kết, khí trệ huyết kết, tâm hạ đau và đầy bế có thể dùng Phân Tâm Khí Ẩm gia giảm.
Chú ý
Đau thượng vị dữ dội, nôn máu hoặc đi phân đen cần được khám cấp cứu. Không tự dùng thuốc hoạt huyết hoặc chỉ huyết khi chưa xác định nguyên nhân.
VIII. Sơ Can lý Tỳ, điều hòa khí huyết
Phạm vi
Dùng khi Can Tỳ bất hòa, khí huyết và dinh vệ mất điều.
Biểu hiện
Vị quản đau, hạ sườn hoặc tâm hạ có cảm giác kết trệ, bụng đầy, ăn kém, tinh thần căng thẳng, cơ thể đau mỏi hoặc có biểu hiện nửa biểu nửa lý.
Phương thường dùng
Sài Hồ Quế Chi Thang.
Phương do Tiểu Sài Hồ Thang hợp Quế Chi Thang, vừa hòa giải Thiếu dương, vừa điều hòa dinh vệ, bên trong hòa Can Tỳ và Tỳ Vị.
Trong nội thương, đây là phương có giá trị khi Can Đởm, Tỳ Vị, khí huyết và dinh vệ cùng mất điều hòa.
IX. Hàn nhiệt đồng điều, hòa Vị tiêu bĩ
Phạm vi
Dùng khi Tỳ Vị thăng giáng thất thường, hàn nhiệt thác tạp kết ở tâm hạ.
Biểu hiện chung
Tâm hạ bĩ mãn, có thể kèm đau, nôn hoặc buồn nôn ở trên, bụng sôi và hạ lợi ở dưới. Lưỡi có thể rêu vàng trắng xen lẫn, mạch huyền hoặc nhu.
Phương thường dùng
Bán Hạ Tả Tâm Thang.
Cam Thảo Tả Tâm Thang.
Sinh Khương Tả Tâm Thang.
Bán Hạ Tả Tâm Thang là phương đại biểu cho phép tân khai khổ giáng. Hoàng cầm, Hoàng liên vị đắng để giáng và thanh nhiệt; Can khương, Bán hạ vị cay để khai bĩ, tán hàn; Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo bổ hư hòa Trung.
Sinh Khương Tả Tâm Thang thiên về thủy ẩm và Vị khí nghịch, biểu hiện ợ hơi mùi thức ăn, tâm hạ bĩ cứng, ruột sôi và hạ lợi.
Cam Thảo Tả Tâm Thang thiên về Trung khí hư, bĩ mãn và hạ lợi kéo dài.
X. Tư dưỡng Vị âm
Phạm vi
Dùng khi Vị âm bất túc, Vị mất nhuận giáng.
Biểu hiện
Vị quản đau hoặc nóng rát, ăn ít, sau ăn đau tăng, miệng họng khô, đại tiện khô, lưỡi đỏ ít rêu hoặc không rêu, mạch tế sác.
Phương thường dùng
Ích Vị Thang.
Sa sâm, Mạch môn, Sinh địa, Ngọc trúc, Băng đường.
Phương dùng vị cam lương để sinh tân dưỡng Vị. Khi phối thuốc tư âm, có thể thêm lượng nhỏ Mai côi hoa hoặc Bạch mai hoa để sơ Can hòa Vị, tránh thuốc dưỡng âm quá nê trệ.
XI. Ích Vị hòa Can
Phạm vi
Dùng khi Can âm hoặc Vị âm bất túc, làm Can Vị mất điều hòa.
Can âm hư thiên thịnh
Vị quản bĩ trướng hoặc đau, ngực sườn đầy, ợ hơi, ăn uống kém, miệng họng khô rõ khi mới thức dậy, lưỡi đỏ sẫm ít rêu, mạch huyền tế.
Phương thường dùng
Nhu Can Tư Vị Thang.
Sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc, Sinh địa, Bạch thược, Xuyên luyện tử, Phật thủ, Quất diệp, Đan bì.
Vị âm hư thiên thịnh
Vị quản nóng rát đau, miệng khô, uống nước không nhiều, chán ăn, ngực Vị đầy trướng, ợ hơi, lưỡi đỏ sẫm ít rêu, mạch huyền tế.
Phương thường dùng
Ích Vị Hòa Can Thang.
Sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc, Sinh địa, Bạch thược, Tỳ bà diệp, Xuyên luyện tử, Uất kim, Hà đế, Đan bì.
Đặc điểm của phép này là dưỡng âm mà không quá nê trệ, sơ Can mà không làm hao âm, giáng nghịch mà không công tả.
XII. Ôn trung kiện Tỳ
Phạm vi
Dùng khi Vị bệnh lâu ngày, Trung dương suy yếu, hàn từ trong sinh ra.
Biểu hiện
Vị quản đau âm ỉ kéo dài, gặp lạnh đau tăng, thích ấm, thích xoa ấn, mệt mỏi, ăn ít, miệng nhạt, nhiều nước dãi, phân lỏng, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế.
Phương thường dùng
Hoàng Kỳ Kiến Trung Thang.
Di đường, Quế chi, Bạch thược, Sinh khương, Đại táo, Hoàng kỳ, Chích cam thảo.
Tỳ Vị khí hư kiêm đàm thấp, ăn kém, tiêu hóa kém, buồn nôn có thể dùng Hương Sa Lục Quân Tử Thang.
Can Vị hư hàn, nôn, nấc, đau đầu, ợ chua có thể dùng Ngô Thù Du Thang.
Tổng luận về mười hai phép trị Vị thống
Mười hai phép trị Vị thống của Lưu Độ Châu bao quát các bệnh cơ chủ yếu:
Hàn ngưng thì ôn tán.
Thực tích thì tiêu đạo.
Thấp trệ thì táo thấp vận Tỳ.
Thủy ẩm thì hành thủy giáng nghịch.
Can khí phạm Vị thì sơ Can hòa Vị.
Can uất hóa hỏa thì sơ Can thanh nhiệt.
Huyết ứ thì hoạt huyết thông lạc.
Can Tỳ bất hòa thì điều hòa khí huyết.
Hàn nhiệt thác tạp thì tân khai khổ giáng.
Vị âm hư thì tư dưỡng Vị âm.
Can Vị âm hư thì ích Vị hòa Can.
Trung tiêu hư hàn thì ôn trung kiện Tỳ.
Nói tóm lại, điều trị vị thống phải phân biệt rõ hàn nhiệt, hư thực, khí huyết, đàm thấp, thủy ẩm và mối quan hệ giữa Can với Tỳ Vị. Không thể chỉ thấy đau mà dùng thuốc giảm đau, cũng không thể chỉ thấy viêm mà dùng thuốc thanh nhiệt.
Phép trị thích hợp phải căn cứ toàn bộ biểu hiện của người bệnh, đặc biệt là tính chất đau, yếu tố làm tăng hoặc giảm đau, tình trạng ăn uống, đại tiện, rêu lưỡi và mạch tượng.
Chú ý
Các bài thuốc và liều lượng trong kinh nghiệm của Lưu Độ Châu thuộc phạm vi học thuật chuyên môn, không nên dùng làm hướng dẫn tự điều trị.
Những vị như Phụ tử, Ngô thù du, Đại hoàng, Manh trùng, Thổ miết trùng, Tam lăng, Nga truật và các thuốc hoạt huyết công phá cần được sử dụng thận trọng.
Đau thượng vị dữ dội, đau lan ra lưng hoặc ngực, nôn ra máu, đại tiện phân đen, nuốt nghẹn, sụt cân, thiếu máu, sốt hoặc bụng cứng cần được khám sớm để loại trừ bệnh lý nghiêm trọng.
Trường Xuân biên soạn