Viêm xoang mũi
Những tài liệu tham khảo:
Những bệnh nào thường có thể gây ra bởi viêm xoang mũi mủ nếu nó bị nhiễm trùng xuống dưới?
Viêm xoang mũi mủ nhiễm trùng xuống dưới thường có các tình huống sau:
(1) Nhiễm trùng họng: Chất nhầy mủ chảy vào họng có thể gây viêm họng tái phát, viêm amiđan, cũng như sung huyết, mẩn đỏ và tăng sản mô bạch huyết trên thành họng cùng bên.
(2) Nhiễm trùng đường hô hấp dưới: Vi khuẩn gây bệnh có thể lây lan trực tiếp hoặc xâm nhập vào đường hô hấp dưới thông qua lưu thông bạch huyết để gây nhiễm trùng; Như viêm khí quản ngoan cố (khó chữa), viêm phế quản và giãn phế quản ở trẻ em và người lớn; Người suy giảm miễn dịch cũng có thể dẫn đến viêm phổi. Nhiễm trùng lan xuống dưới có thể có hội chứng lông mao bất động, tức là các tế bào biểu mô có lông niêm mạc của khoang mũi, xoang mũi, khí quản và phế quản của bệnh nhân thiếu khả năng vận động và mất chức năng loại bỏ vi khuẩn, mà thường xuyên tái phát viêm mũi mủ, viêm xoang mũi, viêm tai giữa, khí quản và chi khí quản.
(3) Hen phế quản: Bệnh này là tổn thương dị ứng, dị nguyên có thể do vi khuẩn viêm xoang mũi tiết ra.
(4) Rối loạn chức năng tiêu hóa: Do dịch viêm và vi khuẩn từ viêm xoang mũi mủ nuốt vào dạ dày kích thích niêm mạc đường tiêu hóa. Nếu mủ độc được hấp thụ, các triệu chứng như chán ăn, tiêu chảy hoặc táo bón có thể xảy ra.
Viêm xoang
Viêm xoang (sinusitis) là bệnh lý tương đối phổ biến, viêm xoang hàm trên có tỷ lệ mắc cao nhất, tiếp đến là viêm xoang sàng, viêm xoang trán và viêm xoang bướm. Nếu tất cả các xoang đều có liên quan, nó được gọi là viêm xoang toàn tỵ (viêm các xoang mũi). Bệnh chủ yếu do nhiễm trùng mũi và đôi khi do nhiễm trùng răng hoặc nhiễm trùng máu. Ngoài chủng loại và độc lực của vi khuẩn gây bệnh, sức đề kháng toàn thân giảm, áp suất không khí thay đổi, tắc nghẽn thông khí và dẫn lưu xoang cũng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của viêm xoang.
Biến hoá bệnh lý
Trong viêm xoang cấp tính, niêm mạc sung huyết và phù nề, trong khi biểu mô niêm mạc vẫn được bảo tồn. Trong giai đoạn hoá mủ, biểu mô của niêm mạc xoang bị hoại tử và bong ra, và sự xâm nhập của bạch cầu trung tính vào lớp đệm là đáng kể hơn. Trong viêm xoang mạn tính, niêm mạc bị phá hủy một phần với chuyển sản vảy và hình thành mô hạt. Lớp đệm dày lên đáng kể, một số lượng lớn tế bào lympho và tế bào plasma bị thâm nhiễm, thậm chí có thể hình thành các nang bạch huyết nhỏ. Những thay đổi dạng polyp có thể xảy ra do phì đại niêm mạc và hình thành mô hạt.
Biến chứng
Tình trạng viêm có thể mở rộng và xâm lấn các mô lân cận, dẫn đến viêm tủy xương, viêm mô tế bào hốc mắt, viêm màng não, áp xe não, v.v. Viêm xoang mủ nặng cũng có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết.
Viêm xoang mủ cấp tính
Viêm xoang mủ cấp tính là tình trạng viêm mủ cấp tính ở niêm mạc xoang, có thể ảnh hưởng đến xương trong trường hợp nặng. Do khoang xoang hàm trên lớn, sàn xoang thấp, lỗ xoang cao hơn nên dễ tích tụ mủ, nằm ở phía dưới các xoang, dễ bị nhiễm trùng viêm nhiễm ở những nơi khác, do đó, tỷ lệ mắc bệnh viêm xoang hàm cao nhất, tiếp đến là viêm xoang sàng, tiếp theo là viêm xoang trán là bệnh thường gặp kế tiếp, viêm xoang bướm ít gặp nhất.
Nguyên nhân bệnh
I/ Nguyên nhân bệnh cục bộ
1. Nhiễm trùng và bệnh xoang mũi: Thường thứ phát sau nhiễm trùng đường hô hấp hoặc viêm mũi cấp tính. Vách ngăn mũi cao và lệch, phì đại cuốn mũi giữa, polyp mũi, khối u trong mũi, dị vật hoặc chất nhét lâu ngày đều có thể cản trở sự dẫn lưu của xoang và gây bệnh. Lặn hoặc nhảy cầu không đúng phương pháp trong khi bơi có thể khiến nước thải đi vào xoang qua hốc mũi và gây bệnh.
2. Chấn thương: Các xoang phía trước, đặc biệt là xoang hàm trên và xoang trán rất dễ bị chấn thương phát sinh gãy, vi khuẩn có thể xâm nhập vào xoang qua da hoặc niêm mạc mũi. Nhiễm trùng cũng có thể do sự xâm nhập của các vật lạ như mảnh đạn và bụi.
3. Nhiễm trùng do răng: Chân răng của răng hàm thứ hai hàm trên và răng hàm thứ nhất và thứ hai nằm ở thành dưới của xoang hàm trên, khi bị nhiễm trùng chân răng có thể xuyên qua thành xoang hoặc làm hỏng thành dưới trong quá trình nhổ răng đều có thể gây nhiễm trùng xoang hàm, tình trạng này được gọi là viêm xoang hàm trên do răng (dentogenic maxillary xoang).
4. Thay đổi áp suất không khí: Trong quá trình bay, lặn và leo núi, áp suất không khí thay đổi đột ngột có thể gây ra áp suất âm trong khoang mũi và gây ra tổn thương, được gọi là viêm xoang do chấn thương khí áp.
II/ Căn nguyên toàn thân
Mệt mỏi quá mức, suy dinh dưỡng, thiếu vitamin, cơ địa dị ứng, rối loạn nội tiết, và các bệnh mạn tính như thiếu máu, lao phổi, đái tháo đường, viêm thận mạn tính, sức đề kháng của cơ thể suy yếu cũng là nguyên nhân dẫn đến viêm xoang, ngoài ra còn có thể là thứ phát sau các bệnh truyền nhiễm cấp tính như cảm cúm.
Vi khuẩn gây bệnh: Vi khuẩn gây bệnh phổ biến bao gồm phế viêm song cầu khuẩn, dung huyết tính liên cầu khuẩn, tụ cầu và các cầu khuẩn sinh mủ khác. Tiếp theo là trực khuẩn cúm, Đại tràng trực khuẩn (Escherichia coli), trực khuẩn biến hình (Proteus), v.v. Những bệnh do răng miệng gây ra phần lớn là nhiễm khuẩn kỵ khí, mủ thường có mùi hôi.
Bệnh học: Giai đoạn đầu là giai đoạn catarrhal cấp tính, với thiếu máu thoáng qua ở niêm mạc, sau đó là giãn mạch, tăng tính thấm, đỏ và sưng niêm mạc, sưng biểu mô, chuyển động lông mao chậm, thâm nhiễm bạch cầu đa nhân và tế bào lympho ở lớp dưới biểu mô và huyết thanh. hoặc tiết chất nhầy, sau đó chuyển sang giai đoạn có mủ, niêm mạc xoang phù nề và giãn nở mạch máu ngày càng trầm trọng, thâm nhiễm tế bào viêm ngày càng rõ ràng, dịch tiết trở nên nhầy nhụa, thời gian càng lâu, tình trạng tắc nghẽn càng nặng, mao mạch có thể bị vỡ và chảy máu do phù nề chèn ép, khiến lượng máu cung cấp không đủ, các tế bào biểu mô có lông có thể bị hoại tử và rụng đi, dịch tiết ra có mủ màu vàng. Viêm xương thành xoang, viêm tủy xương và các biến chứng khác có thể xảy ra trong một số ít trường hợp và thường phổ biến hơn ở trẻ nhỏ. Biểu hiện lâm sàng
I/ Triệu chứng toàn thân:
Trong quá trình viêm mũi cấp tính, các triệu chứng ở bên bệnh bị ảnh hưởng thường trầm trọng hơn, chẳng hạn như ớn lạnh, sốt, khó chịu toàn thân, tinh thần uể oải, chán ăn, v.v. Các triệu chứng toàn thân của viêm xoang hàm cấp tính do răng nghiêm trọng hơn. Trẻ sốt cao hơn và có thể xuất hiện các triệu chứng như co giật, nôn mửa, tiêu chảy.
II/ Chứng trạng cục bộ
1. Nghẹt mũi: Do niêm mạc mũi bị sung huyết, sưng tấy và tích tụ dịch tiết, có thể xảy ra tình trạng tắc mũi dai dẳng và rối loạn khứu giác tạm thời ở bên bị ảnh hưởng.
2. Chảy mủ nhiều: Có nhiều dịch nhầy hoặc mủ từ mũi chảy ra do hỉ mũi, lúc đầu dịch có thể chứa một ít máu, ở bệnh nhân xoang hàm do răng, dịch mủ có mùi hôi.
3. Đau cục bộ và nhức đầu: Viêm xoang cấp tính thường ngoài đau mũi do viêm còn gây đau đầu dữ dội, nguyên nhân là do niêm mạc hốc xoang sưng tấy và ứ đọng dịch tiết, hoặc lực kéo của áp lực âm sau khi dịch tiết ra ngoài, kích thích các đầu dây thần kinh tam thoa gây ra, các xoang ở nhóm phía trước gần với bề mặt hộp sọ, đau đầu chủ yếu ở vùng trán và bên bị ảnh hưởng; các xoang ở nhóm sau nằm sâu trong hộp sọ, đau đầu chủ yếu ở đỉnh đầu, thái dương hoặc vùng chẩm phía sau.
Y học cổ truyền chủ yếu dùng trị pháp Tán phong thanh nhiệt, phương hương thông khiếu là chính, giải độc khứ ứ là phụ, thường dùng Thương nhĩ tử tán (Thương nhĩ, Tân di, Bạch chỉ, Bạc hà) gia vị.
Biện chứng luận trị theo YHCT: Viêm xoang cấp tính trong YHCT gọi là “Cấp tỵ uyên” (急鼻渊). Có 3 loại hội chứng thường gặp:
① Phong nhiệt ở phế kinh: Khởi phát cấp tính, nghẹt mũi, giảm khứu giác, nước mũi vàng trắng và dính, niêm mạc mũi sưng đỏ, cuốn mũi sưng, lỗ mũi có ít mủ, trán đau, gò má ấn đau; Kèm theo sốt và ớn lạnh, khó chịu trong họng; Chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch phù sác.
Trị pháp: Thanh nhiệt sơ phong, tuyên phế thông khiếu
Xử phương Thương nhĩ tử tán hợp Ngân kiều tán gia giảm: Thương nhĩ tử 10g, Bạch chỉ 30g, Tân di 15g, Bạc hà 15g, Xuyên khung 10g, Liên kiều 12g, Kinh giới 10g, Ngưu bàng 15g, Trúc diệp 10g, Kim ngân 15g, Hoàng cầm 10g, Cát cánh 10g, Cam thảo 19g.
② Tỳ vị thấp nhiệt: Triệu chứng gồm chảy nước mũi vàng đục, nghẹt mũi dai dẳng, niêm mạc mũi sưng đỏ, kèm theo sốt, đau đầu dữ dội, cơ thể mệt mỏi, chán ăn, tiểu tiện vàng phân khô, lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Trị pháp: Thanh nhiệt lợi thấp, khứ trọc thông khiếu.
Xử phương: Cam lộ tiêu độc đan gia vị: Hoạt thạch 20g, Nhân trần 12g, Hoàng cầm 12g, Thạch xương bồ 15g, Mộc thông 12g, Liên kiều 15g, Bạc hà 10g, Cao bản 12g, Bạch chỉ 15g, Ngư tinh thảo 20g, Qua lâu nhân 15g, Chiết bối mẫu 15g, Cam thảo 10g.
③Can đảm nhiệt thịnh (quá nóng): Nước mũi vàng đục dính đặc, trường hợp nặng thì hôi tanh lẫn máu, nghẹt mũi, khứu giác giảm, đau đầu kịch liệt, niêm mạc trong mũi hồng đỏ rõ rệt, trong mũi có mủ, kèm theo miệng đắng họng khô, ù tai, điếc tai, vật vã ít ngủ, phân khô, nước tiểu vàng đỏ; Chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác.
Trị pháp: Thanh can lợi đảm, tả nhiệt thông khiếu.
Xử phương: Long đảm tả can thang gia vị: Long đảm thảo 20g, Hoàng cầm 15g, Trạch tả 12g, Chi tử 10g, Xa tiền thảo 15g, Mộc thông 10g, Sinh địa 15g, Sài hồ 10g, Thương nhĩ 12g, Bại tương thảo 15g, Hạ khô thảo 20g, Xuyên khung 10g, Đại hoàng 10g, Cam thảo 10g. Có thể dùng dịch tiêm thanh nhiệt giải độc, dịch tiêm Ngư tinh thảo gia một chút Bạc hà băng. đồng thời sử dụng mặt nạ để hít vụ hóa siêu âm, thích hợp cho viêm xoang cấp tính của các hội chứng khác nhau.
Viêm xoang mạn tính thuộc phạm trù”Mạn tỵ uyên” (慢鼻渊) , “Tỵ uyên” (鼻渊) trong y học cổ truyền Trung Quốc, còn được gọi là “Rò não” (脑漏) và “Não thấm” (脑渗). Y học cổ truyền có tác dụng chữa bệnh tốt đối với căn bệnh này. Căn cứ vào triệu chứng tại chỗ và toàn thân của bệnh nhân, các loại hội chứng thường gặp như sau:
(1) Phế kinh uất nhiệt: Triệu chứng gồm nghẹt mũi lâu ngày, chảy nước mũi vàng đục và đặc, khứu giác giảm thoái hoặc biến mất, niêm mạc lỗ mũi đỏ sẫm sưng tấy, mũi chảy nước vàng đục, kèm theo chóng mặt mệt mỏi, lưỡi hơi đỏ, rêu lưỡi hơi vàng, mạch tế sác.
Trị pháp: Tuyên phế thanh nhiệt, hoạt huyết giải độc.
Xử phương: Hoàng cầm thanh phế ẩm gia giảm: Hoàng cầm 12g, Liên kiều 15g, Thiên hoa phấn 15g, Phòng phong 10g, Bạc hà 10g, Sinh địa hoàng 15g, Hồng hoa 10g, Xuyên khung 10g, Cát cánh 10g Tân di 15g Bồ công anh 15g Cam thảo 10g.
(2) Khí huyết ứ trệ: Có các chứng trạng như nước mũi trắng dính hoặc vàng đặc như mủ, nghẹt mũi giảm khứu giác, niêm mạc mũi đỏ sẫm và dày; Chất lưỡi đỏ sẫm, mạch tế sác.
Trị pháp: Hành trệ hoạt huyết, khứ ứ trừ uyên (nước mũi đục).
Xử phương: Thông khiếu hoạt huyết thang hợp Thương nhĩ tử tán gia giảm: Đương quy 15g Sinh địa hoàng 12g Đào nhân 12g Xuyên khung 12g Hồng hoa 10g Xích thược 15g Sài hồ 12g Thương nhĩ 12g Ti qua lạc 15g Bạch chỉ 12g Tân di 10g Cam thảo 6g. Mủ tích tụ trong xoang mũi, gia Tạo giác thích 12g Xatieefn tử 15g Sinh ý rĩ 15g; Niêm mạc tăng dày, bệnh lâu ngày không khỏi, gia Tam lăng, Nga truật đều 12g, Địa long 15g.
(3) Tỵ viêm thấp nhiệt: Chảy nước mũi có mủ vàng dính, lượng nhiều mùi tanh, nghẹt mũi nặng, nhức đầu và nặng đầu, nhất là về chiều, niêm mạc mũi đỏ ửng và dày, bên trong có mủ, kèm theo chán ăn buồn nôn, phân dính, nước tiểu vàng đục, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch nhu sác.
Trị pháp: Thanh nhiệt hoá thấp, quyên tí trừ uyên.
Xử phương: Quyên tí thông khiếu thang gia giảm: Hoàng cầm 12g, Hoàng liên 12g, sinh Ý rĩ 20g, Thông thảo 12g, Hoắc hương 12g, Ti qua lạc 15g, Thạch xương bồ 12g, Tân di 15g, Tạo thích 12g, Toàn trùng 12g, Cam thảo 6g.
(4) Phế tỳ khí hư: Tái phát hoặc bệnh liên miên không khỏi, nhiều nước mũi màu trắng dính hoặc vàng dính, ngạt mũi, chóng mặt nhức đầu, gặp gió hoặc khi mệt mỏi thì các chứng trạng tăng nặng, kèm theo mệt mỏi, thở gấp, biếng nói, sắc mặt không tươi, ăn ít, bụng trướng, chất lưỡi nhạt rêu lưỡi trắng, mạch tế nhược.
Trị pháp: Bổ ích tỳ phế, hoá thấp trừ uyên.
Xử phương: Thang Bổ trung ích khí hợp Sâm linh bạch truật tán gia giảm. Đảng sâm 15g, Bạch truật 12g, Đương quy 15g, Trần bì 10g, Hoàng kỳ 15g, Phòng phong 12g, Phục linh 15g, Ý rĩ 20g, Sơn dược 15g, Cát cánh 12g, Thạch xương bồ 12g, Cam thảo 5g.
(5) Loại hình hàn đàm ngưng trệ: Sổ mũi, đau đầu, chườm ấm nóng thì giảm nhẹ; Chất lưỡi nhạt rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế.
Trị pháp: Ôn dương thông mạch, hoá đàm thấu khiếu.
Xử phương: Thục địa 15g, Lộc giác giao 10g, Nhục quế 6g, Ma hoàng 10g, Bạch giới tử 12g, Thương nhĩ tử 30g, Tân di tử 15g, Thạch xương bồ 15g, Bạch chỉ 15g, Cam thảo 6g.
Kết hợp điều trị bên ngoài cho viêm xoang mạn tính cũng có thể thúc đẩy sự phục hồi sức khoẻ. Bạn có thể sử dụng các chế phẩm y học cổ truyền của để nhét hoặc nhỏ mũi; hoặc sử dụng thuốc sắc của để hút mũi và xông hơi siêu âm. Đối với liệu pháp châm cứu cơ thể, các huyệt như Nghênh hương hoặc Tỵ thông, Hợp cốc, Liệt khuyết, Xích trạch, Đại chuy, Ấn đường, Toán trúc, Phong trì, Thái dương, thực chứng dùng phép tả, hư chứng dùng phép bổ. Liệu pháp nhĩ châm dùng Tỵ, Phế, Thần môn, Ngạch, Tỳ, Vị, Nội phân tiết, Bì chất hạ, châm hoặc áp huyệt. Đối với chứng hư hàn còn có thể sử dụng liệu pháp ngải cứu, như tuyển chọn Nghênh hương, Thượng tinh, Tín môn, Ấn đường, Phế du, Tỳ du cũng có tác dụng hồi phục nhất định.
Ly Nghị Nguyễn
9/13/2023