Khái quát
Viêm thực quản trào ngược là tình trạng niêm mạc thực quản bị tổn thương do các chất chứa trong dạ dày hoặc tá tràng thường xuyên trào ngược lên trên. Thành phần gây tổn thương có thể gồm acid hydrochloric, pepsin, dịch mật, dịch tụy và những chất tiêu hóa khác.
Ở người bình thường, cơ thắt dưới thực quản tạo thành hàng rào ngăn dịch dạ dày đi ngược lên thực quản. Khi cơ thắt này suy yếu, giãn không thích hợp hoặc khả năng vận động của thực quản bị rối loạn, hiện tượng trào ngược dễ xuất hiện và kéo dài.
Trào ngược dạ dày – thực quản không phải lúc nào cũng gây viêm. Một lượng dịch nhỏ trào lên trong thời gian ngắn có thể nhanh chóng được nhu động thực quản đẩy trở xuống và được nước bọt trung hòa. Bệnh phát sinh khi hiện tượng trào ngược xảy ra thường xuyên, thời gian tiếp xúc kéo dài hoặc sức bảo vệ của niêm mạc thực quản bị suy giảm.
Nguyên nhân và cơ chế phát sinh
Suy yếu hàng rào chống trào ngược
Cơ thắt dưới thực quản là thành phần quan trọng nhất của hàng rào chống trào ngược. Khi áp lực cơ thắt giảm hoặc cơ thắt giãn không thích hợp, dịch trong dạ dày dễ đi ngược lên thực quản.
Những yếu tố có thể ảnh hưởng đến chức năng cơ thắt gồm hút thuốc, uống rượu, ăn quá no, sử dụng nhiều thức ăn béo, cà phê, chocolate, một số loại thuốc, phẫu thuật vùng thực quản – tâm vị và rối loạn vận động đường tiêu hóa.
Thoát vị khe thực quản cũng có thể làm thay đổi cấu trúc chống trào ngược tại chỗ nối thực quản – dạ dày.
Tăng áp lực trong ổ bụng
Béo phì, thai kỳ, cổ trướng, ho kéo dài, táo bón phải rặn nhiều hoặc khối u lớn trong ổ bụng có thể làm áp lực trong dạ dày và ổ bụng tăng lên, thúc đẩy dịch dạ dày trào ngược.
Dạ dày làm rỗng chậm
Khi thức ăn và dịch vị lưu lại trong dạ dày quá lâu, áp lực trong dạ dày tăng, khiến trào ngược dễ phát sinh. Tình trạng này có thể gặp ở người ăn quá nhiều, rối loạn vận động dạ dày, đái tháo đường lâu năm hoặc sau một số phẫu thuật đường tiêu hóa.
Rối loạn khả năng làm sạch của thực quản
Sau khi dịch acid trào lên, nhu động thực quản có nhiệm vụ đẩy dịch trở lại dạ dày. Phần acid còn sót lại được nước bọt pha loãng và trung hòa.
Nếu nhu động thực quản suy yếu, lượng nước bọt giảm hoặc tần suất nuốt giảm, thời gian niêm mạc tiếp xúc với acid sẽ kéo dài, làm tổn thương ngày càng nặng hơn.
Suy giảm hàng rào bảo vệ niêm mạc
Hàng rào bảo vệ thực quản gồm lớp chất nhầy, bicarbonat trên bề mặt, cấu trúc liên kết giữa các tế bào biểu mô và sự cung cấp máu cho niêm mạc.
Khi những yếu tố bảo vệ này bị tổn thương, niêm mạc thực quản trở nên nhạy cảm hơn với acid, pepsin, dịch mật và dịch tụy.
Các yếu tố thường làm bệnh nặng hơn
Những yếu tố dễ gây phát tác hoặc làm tăng triệu chứng gồm ăn quá no; ăn nhiều chất béo, đồ cay, thức ăn quá chua; uống rượu, cà phê hoặc nước uống có caffeine; hút thuốc; nằm ngay sau khi ăn; cúi người hoặc mang vật nặng sau bữa ăn; mặc quần áo quá chật; căng thẳng tinh thần kéo dài và tăng cân quá mức.
Biểu hiện lâm sàng
Ợ nóng
Ợ nóng là cảm giác nóng rát phía sau xương ức, đôi khi lan lên vùng cổ và họng. Triệu chứng thường xuất hiện sau bữa ăn, khi cúi người, nằm ngửa hoặc về ban đêm.
Ợ nóng có thể nặng hơn sau khi ăn nhiều chất béo, đồ chua, cay, uống rượu hoặc cà phê.
Trào ngược acid
Người bệnh cảm thấy dịch chua hoặc đắng từ dạ dày trào lên họng hoặc miệng. Một số trường hợp có cảm giác sặc, buồn nôn hoặc thức giấc giữa đêm vì dịch trào lên.
Dịch có vị chua thường liên quan đến acid dạ dày. Dịch có vị đắng có thể liên quan đến dịch mật hoặc dịch tá tràng trào ngược.
Đau hoặc nóng rát sau xương ức
Cơn đau có thể xuất hiện ở sau xương ức hoặc vùng thượng vị, đôi khi lan ra lưng, ngực, cổ hoặc vai.
Đau do thực quản có thể giống với đau thắt ngực. Vì vậy, khi đau ngực dữ dội, đau mới xuất hiện, kèm khó thở, vã mồ hôi, chóng mặt hoặc lan ra cánh tay, cần được kiểm tra tim mạch khẩn cấp, không nên tự cho rằng chỉ do trào ngược.
Khó nuốt
Ở giai đoạn đầu, viêm và co thắt thực quản có thể gây khó nuốt từng đợt.
Khi bệnh kéo dài, mô xơ sẹo có thể làm lòng thực quản hẹp lại, khiến khó nuốt xuất hiện thường xuyên. Ban đầu người bệnh thường khó nuốt thức ăn đặc; trường hợp nặng có thể khó nuốt cả thức ăn mềm và nước.
Nuốt đau
Niêm mạc bị trợt hoặc loét có thể gây đau khi thức ăn đi qua. Nuốt đau kéo dài cần được nội soi để loại trừ loét sâu, nhiễm trùng hoặc khối u thực quản.
Triệu chứng ngoài thực quản
Dịch trào ngược lên cao có thể gây ho kéo dài, khàn tiếng, viêm họng tái phát, cảm giác có vật vướng ở họng, nhiều đờm, hôi miệng, hen hoặc ho về đêm.
Một số người không có ợ nóng rõ rệt mà chỉ biểu hiện bằng ho, khàn tiếng hoặc khó chịu vùng họng.
Xuất huyết và thiếu máu
Niêm mạc trợt hoặc loét có thể chảy máu âm thầm, gây thiếu máu kéo dài. Trường hợp nặng có thể nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen.
Những biến đổi của niêm mạc thực quản
Giai đoạn tổn thương nhẹ
Niêm mạc có thể sung huyết, phù nề hoặc chưa thấy bất thường rõ qua nội soi. Dưới kính hiển vi, lớp tế bào đáy tăng sinh, các nhú của lớp đệm kéo dài và mao mạch nông giãn rộng.
Đây là phản ứng sửa chữa của niêm mạc trước sự kích thích kéo dài của dịch trào ngược.
Giai đoạn trợt
Biểu mô bề mặt bị hoại tử và bong tróc, hình thành những vùng trợt chạy dọc theo thực quản. Bề mặt tổn thương có thể được phủ bởi fibrin và các tế bào viêm.
Giai đoạn loét
Tổn thương ăn sâu qua niêm mạc và có thể lan xuống lớp dưới niêm mạc. Quá trình sửa chữa tạo mô hạt rồi hình thành sẹo.
Giai đoạn hẹp
Mô sẹo co rút làm lòng thực quản thu hẹp, gây khó nuốt kéo dài và thức ăn dễ mắc lại.
Thực quản Barrett
Ở một số người bị trào ngược kéo dài, biểu mô lát bình thường của đoạn dưới thực quản được thay thế bằng biểu mô trụ, gọi là thực quản Barrett.
Đây là biến đổi cần được theo dõi bằng nội soi và sinh thiết vì có liên quan đến nguy cơ loạn sản và ung thư biểu mô tuyến thực quản.
Chẩn đoán
Chẩn đoán thường căn cứ vào triệu chứng, bệnh sử, đáp ứng điều trị và các thăm dò cần thiết.
Nội soi thực quản – dạ dày
Nội soi giúp phát hiện sung huyết, trợt, loét, xuất huyết, hẹp hoặc thực quản Barrett. Khi cần, bác sĩ có thể sinh thiết để đánh giá tổn thương và loại trừ ung thư.
Theo dõi pH hoặc pH – trở kháng thực quản
Phương pháp này ghi nhận số lần và thời gian dịch trào ngược lên thực quản, đồng thời xem xét mối liên quan giữa hiện tượng trào ngược với triệu chứng.
Đo pH – trở kháng có thể nhận biết cả trào ngược acid và trào ngược không acid.
Đo áp lực thực quản
Đo áp lực giúp đánh giá chức năng cơ thắt dưới thực quản và nhu động thân thực quản. Phương pháp này thường được sử dụng khi nghi ngờ rối loạn vận động hoặc trước khi cân nhắc phẫu thuật chống trào ngược.
Chụp thực quản có thuốc cản quang
Chụp cản quang có thể hỗ trợ phát hiện hẹp thực quản, thoát vị khe thực quản hoặc một số bất thường về hình thái và vận động. Tuy nhiên, phương pháp này không thay thế nội soi khi cần đánh giá trực tiếp niêm mạc.
Điều trị theo y học hiện đại
Điều chỉnh ăn uống và sinh hoạt
Người bệnh nên ăn vừa đủ, chia thành những bữa nhỏ nếu thường đầy bụng hoặc trào ngược sau ăn.
Không nên nằm ngay sau bữa ăn. Khoảng cách giữa bữa tối và lúc nằm ngủ nên đủ để dạ dày có thời gian làm rỗng.
Người thường trào ngược ban đêm có thể kê cao phần đầu giường. Chỉ dùng nhiều gối kê dưới đầu thường không đem lại hiệu quả tương tự và có thể làm cơ thể gập lại, tăng áp lực lên vùng bụng.
Nên giảm cân khi thừa cân hoặc béo phì; ngừng hút thuốc; hạn chế rượu; tránh quần áo và thắt lưng quá chật.
Không nhất thiết phải kiêng tất cả các loại thực phẩm thường được nhắc đến. Cần quan sát để xác định những món thực sự làm triệu chứng của từng người nặng hơn rồi điều chỉnh phù hợp.
Thuốc ức chế acid
Thuốc ức chế bơm proton thường được sử dụng để giảm tiết acid, tạo điều kiện cho niêm mạc thực quản phục hồi. Việc lựa chọn thuốc, liều lượng và thời gian dùng cần căn cứ vào mức độ bệnh và chỉ định của bác sĩ.
Một số trường hợp có thể sử dụng thuốc đối kháng thụ thể histamine H2 hoặc thuốc trung hòa acid để kiểm soát triệu chứng.
Thuốc bảo vệ niêm mạc
Một số thuốc tạo lớp bảo vệ trên bề mặt niêm mạc hoặc hạn chế sự tiếp xúc giữa dịch trào ngược với thực quản có thể được sử dụng trong những trường hợp thích hợp.
Thuốc điều hòa vận động
Thuốc tăng vận động dạ dày – thực quản chỉ nên dùng khi có chỉ định rõ ràng. Một số thuốc được nhắc đến trong tài liệu cũ hiện không còn được sử dụng rộng rãi vì nguy cơ tác dụng không mong muốn.
Điều trị hẹp thực quản
Hẹp do sẹo có thể cần được nong qua nội soi. Nếu hẹp tái phát hoặc quá phức tạp, bác sĩ sẽ cân nhắc những biện pháp can thiệp khác.
Phẫu thuật hoặc can thiệp chống trào ngược
Phẫu thuật có thể được xem xét khi bệnh nặng, không đáp ứng đầy đủ với điều trị nội khoa, có thoát vị khe thực quản lớn hoặc người bệnh không muốn dùng thuốc kéo dài sau khi đã được đánh giá kỹ.
Nhận thức của Trung y
Viêm thực quản trào ngược không có một bệnh danh hoàn toàn tương ứng trong cổ thư. Căn cứ vào những biểu hiện như ợ chua, nôn ra nước chua, Vị khí thượng nghịch, nóng rát vùng ngực hoành, khó nuốt và thức ăn trào trở lại, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi các chứng thôn toan, thổ toan, ẩu thổ, phản vị và ế cách.
Vị trí bệnh chủ yếu ở thực quản và Vị, đồng thời có quan hệ mật thiết với Can và Tỳ.
Vị chủ thu nạp và lấy giáng làm thuận. Khi Vị mất hòa giáng, khí đi ngược lên trên thì xuất hiện ợ hơi, trào ngược, buồn nôn và nôn.
Can chủ sơ tiết. Tình chí uất kết làm Can khí không thông, hoành nghịch phạm Vị, khiến Vị khí không giáng mà thượng nghịch.
Tỳ chủ vận hóa. Khi Tỳ hư, thủy thấp không hóa, đàm trọc sinh ra và ngăn trở trung tiêu, làm khí cơ không thông và Vị khí đi ngược.
Bệnh kéo dài có thể khiến khí trệ sinh huyết ứ, nhiệt làm tổn thương tân dịch hoặc Tỳ Vị ngày càng hư yếu. Vì vậy, trên lâm sàng thường gặp hư thực kiêm tạp.
Nguyên nhân và bệnh cơ theo Trung y
Ăn uống không điều độ
Ăn quá nhiều, ăn uống thất thường hoặc dùng nhiều thức ăn cay nóng, dầu mỡ, sống lạnh có thể làm Tỳ Vị tổn thương.
Thức ăn đình trệ, thấp tụ sinh đàm, trung tiêu bị ngăn trở, khiến Vị mất hòa giáng và khí nghịch lên trên.
Dùng nhiều đồ cay nóng và rượu lâu ngày còn có thể tích nhiệt ở Vị, làm tân dịch hao tổn và niêm mạc thực quản mất sự nhu dưỡng.
Tình chí không thư thái
Uất giận làm Can mất sơ tiết, Can khí phạm Vị, khiến khí cơ vùng ngực và Vị quản bế trệ.
Lo nghĩ kéo dài làm tổn thương Tỳ, khiến vận hóa suy giảm, tân dịch không được phân bố mà ngưng tụ thành đàm.
Đàm và khí kết lại ở vùng ngực hoành có thể gây cảm giác vướng tắc, bĩ mãn và nuốt không thuận lợi.
Tỳ Vị hư yếu
Bẩm phú không đầy đủ, bệnh kéo dài, lao lực quá mức hoặc ăn uống thất thường lâu ngày có thể làm Tỳ Vị suy yếu.
Tỳ hư không vận hóa được thủy cốc, đàm thấp đình trệ. Vị khí suy yếu, không giáng xuống được nên thức ăn và dịch vị đi ngược lên trên.
Tân dịch hao tổn
Nhiệt tà kéo dài, nôn mửa nhiều lần hoặc ăn uống giảm sút lâu ngày có thể làm Vị âm hao tổn.
Thực quản và Vị mất sự nhu dưỡng, xuất hiện miệng khô, họng ráo, đau nóng rát, đại tiện khô và nuốt không thuận lợi.
Khí trệ huyết ứ
Can khí uất trệ lâu ngày làm huyết hành không thông. Huyết ứ ngăn trở vùng ngực hoành và thực quản, gây đau cố định, đau về đêm, khó nuốt hoặc xuất huyết.
Nói tóm lại, bệnh cơ chủ yếu là Vị mất hòa giáng. Can khí phạm Vị, đàm thấp ngăn trở, uất nhiệt, huyết ứ, Tỳ Vị hư hàn và Vị âm bất túc là những biến hóa thường gặp.
Nguyên tắc biện trị
Giai đoạn đầu thường thiên về thực, điều trị chú trọng sơ Can lý khí, thanh nhiệt, hóa đàm, hòa Vị và giáng nghịch.
Bệnh kéo dài có thể từ thực chuyển sang hư hoặc hư thực kiêm tạp. Khi đó cần căn cứ vào chính hư và tà thực để phối hợp kiện Tỳ, ôn trung, dưỡng âm, hoạt huyết hoặc hóa đàm.
Biện chứng cần dựa vào triệu chứng, chất lưỡi, rêu lưỡi, mạch tượng và thể trạng, không nên chỉ căn cứ vào một biểu hiện như trào ngược acid để dùng một phương cố định.
Biện chứng luận trị
Thể Can Vị uất nhiệt
Triệu chứng
Nóng rát và đau sau xương ức, ợ hơi, trào ngược acid, Vị quản và ngực sườn trướng đầy, dễ nóng giận, miệng khô, miệng đắng; chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền hoặc huyền sác.
Bệnh cơ
Can khí uất kết, hoành nghịch phạm Vị. Khí uất lâu ngày hóa nhiệt, khiến Vị khí không giáng mà đi ngược lên trên.
Phép trị
Sơ Can hòa Vị, thanh nhiệt giải uất, giáng nghịch.
Phương thang
Hóa can tiễn hợp Tả kim hoàn gia giảm.
Phương dược
Trần bì, Thanh bì, Đan bì, Chi tử, Hoàng liên, Ngô thù du, Chỉ thực, Chiết bối mẫu, Bạch thược, Qua lâu, Cam thảo.
Gia giảm
Ợ hơi, trào ngược nhiều có thể phối Đại giả thạch để tăng tác dụng giáng nghịch.
Đau vùng ngực sườn rõ có thể thêm Uất kim, Diên hồ sách để lý khí giảm đau.
Tâm phiền, đàm nhiệt có thể thêm Trúc nhự.
Thể khí trệ huyết ứ
Triệu chứng
Đau sau xương ức tương đối rõ, vị trí đau cố định, tăng về đêm hoặc sau khi tức giận; ngực đầy, khó nuốt, miệng khô nhưng không muốn uống; đôi khi nôn ra máu sẫm. Chất lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Khí trệ lâu ngày khiến huyết hành không thông. Huyết ứ ngăn trở mạch lạc và vùng ngực hoành, làm Vị khí không thể thuận giáng.
Phép trị
Hành khí, hoạt huyết hóa ứ, thông lạc giảm đau.
Phương thang
Thang Huyết phủ trục ứ gia giảm.
Phương dược
Sài hồ, Chỉ xác, Bạch thược, Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Xuyên ngưu tất, Cát cánh, Trần bì, Cam thảo.
Gia giảm
Khí huyết hư có thể thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ và những vị dưỡng huyết.
Miệng họng khô, tân dịch hao tổn có thể thêm Sa sâm, Mạch môn.
Nếu xuất huyết, cần thận trọng với các vị phá huyết mạnh và phải được thầy thuốc trực tiếp điều chỉnh.
Thể đàm khí giao trở
Triệu chứng
Đau tức hoặc đau âm ỉ sau xương ức, ngực và Vị quản bĩ mãn, đàm nhiều, buồn nôn hoặc nôn ra đàm dãi, sau khi nôn cảm thấy dễ chịu hơn, chán thức ăn dầu mỡ, nuốt không thuận lợi; rêu lưỡi trắng nhớt, mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp tụ sinh đàm; Can khí uất trệ. Đàm và khí kết lại, ngăn trở trung tiêu và vùng ngực hoành.
Phép trị
Lý khí, hóa đàm, khoan hung, hòa Vị.
Phương thang
Thang Bán hạ hậu phác gia giảm.
Phương dược
Bán hạ, Phục linh, Tô ngạnh, Hậu phác, Qua lâu, Hương phụ, Hạnh nhân, Ý dĩ nhân, Bạch truật, Cam thảo.
Gia giảm
Đàm thấp nhiều, cơ thể nặng nề có thể thêm Trạch tả.
Khó nuốt rõ cần phân biệt với hẹp hoặc khối u thực quản, không nên chỉ tiếp tục dùng thuốc mà trì hoãn nội soi.
Thể Tỳ Vị thấp nhiệt
Triệu chứng
Nóng rát sau xương ức, Vị quản bĩ mãn, buồn nôn, ăn uống kém, chán đồ dầu mỡ, miệng khô nhớt nhưng không muốn uống; chất lưỡi đỏ, rêu vàng dày nhớt, mạch nhu sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Ăn uống không điều độ khiến thấp nhiệt tích lại ở trung tiêu, làm Tỳ mất vận hóa và Vị mất hòa giáng.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, điều hòa Tỳ Vị, giáng nghịch.
Phương thang
Thang Cát căn cầm liên hợp Bình vị tán gia giảm.
Phương dược
Cát căn, Hoàng cầm, Hoàng liên, Trần bì, Thương truật, Hậu phác, Nhân trần, Tô diệp, Ý dĩ nhân.
Thể Tỳ Vị hư hàn
Triệu chứng
Nôn ra thức ăn không tiêu, Vị quản đau âm ỉ, thích ấm và thích xoa, ăn uống giảm, chân tay lạnh, tinh thần mệt mỏi, sắc mặt kém tươi; chất lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch trầm hoãn vô lực.
Bệnh cơ
Trung dương suy yếu, Tỳ không vận hóa, Vị mất hòa giáng. Hàn thấp và đàm ẩm đình lại ở trung tiêu khiến thức ăn đi ngược lên trên.
Phép trị
Ôn trung kiện Tỳ, hòa Vị giáng nghịch.
Phương thang
Thang Phản vị gia giảm.
Phương dược
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Bán hạ, Trần bì, Sa nhân, Mộc hương, Ngô thù du, Toàn phúc hoa, Đại giả thạch, Cam thảo.
Thể Vị âm bất túc
Triệu chứng
Nóng rát sau xương ức, nôn mửa tái diễn, miệng khô, họng ráo, cảm giác đói nhưng không muốn ăn, đại tiện khô; chất lưỡi đỏ, ít tân dịch hoặc không rêu, mạch tế.
Bệnh cơ
Nhiệt hoặc bệnh kéo dài làm hao tổn Vị âm. Vị mất sự nhu dưỡng và không thể hòa giáng.
Phép trị
Tư dưỡng Vị âm, sinh tân, hòa Vị giáng nghịch.
Phương thang
Thang Mạch môn gia giảm.
Phương dược
Nhân sâm hoặc Thái tử sâm, Mạch môn, Thạch hộc, Thiên hoa phấn, Ngọc trúc, Trúc nhự, Bán hạ, Cam thảo.
Thể đàm thấp ứ trở
Triệu chứng
Nuốt không thuận lợi, ngực hoành nóng rát và đau, Vị quản bĩ mãn, buồn nôn, nôn đàm dãi, cơ thể nặng nề, mệt mỏi, có thể kèm hồi hộp hoặc chóng mặt; rêu lưỡi trắng nhớt, mạch hoạt.
Bệnh cơ
Đàm thấp lâu ngày kết lại, khí cơ không thông, đồng thời có thể kiêm huyết ứ ngăn trở thực quản.
Phép trị
Hóa đàm, khai uất, lý khí, giáng nghịch.
Phương thang
Khải cách tán gia giảm.
Phương dược
Đan sâm, Sa nhân, Uất kim, Chiết bối mẫu, Phục linh, Phật thủ, Ngõa lăng tử nung, Tô ngạnh, Bán hạ, Cam thảo.
Thể Vị mất hòa giáng
Triệu chứng
Vị quản bĩ mãn, buồn nôn, nôn mửa, ợ hơi, trào ngược, vùng ngực sườn nóng rát hoặc đau, ăn uống kém, đại tiện không thông thuận; rêu lưỡi trắng hoặc hơi nhớt, mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ
Vị khí không giáng, đàm ẩm và khí nghịch đi lên.
Phép trị
Hòa Vị, giáng nghịch, hóa đàm.
Phương thang
Thang Toàn phúc đại giả thạch gia giảm.
Phương dược
Toàn phúc hoa, Đại giả thạch, Đảng sâm, Phục linh, Bạch truật, Bán hạ, Đại táo, Cam thảo.
Một số phương thuốc tham khảo
Thang Tam thảo
Phương dược
Tam diệp quỷ châm thảo 60 g, Bồ công anh 30 g, Bại tương thảo 15 g, Xuyên luyện tử 10 g, Diên hồ sách 10 g, Bạch thược 20 g, Cam thảo 3 g.
Công dụng
Thanh nhiệt giải độc, lý khí hòa Vị, giảm đau.
Phương được ghi nhận dùng tham khảo trong viêm thực quản và viêm dạ dày. Liều lượng tương đối lớn, cần được thầy thuốc trực tiếp đánh giá trước khi sử dụng.
Hồ bột củ sen phối Vân Nam bạch dược
Tài liệu cũ ghi dùng bột củ sen nấu thành hồ, phối hợp Vân Nam bạch dược nhằm giúp thuốc tiếp xúc với niêm mạc thực quản.
Phương pháp này không nên tự thực hiện, đặc biệt ở người đang dùng thuốc chống đông, có bệnh gan, chuẩn bị phẫu thuật, đang mang thai hoặc chưa xác định rõ nguyên nhân xuất huyết. Vân Nam bạch dược là chế phẩm có thành phần và chỉ định riêng, cần được sử dụng theo hướng dẫn chuyên môn.
Ăn uống và chăm sóc theo Trung y
Ăn uống nên điều độ, lượng vừa phải, tránh để Vị quá đầy. Thức ăn nên mềm, ấm vừa, dễ tiêu hóa và phù hợp với thể trạng.
Người có Can Vị uất nhiệt nên hạn chế rượu, thức ăn cay nóng, chiên nướng và ăn quá khuya.
Người có đàm thấp nên giảm thức ăn quá béo, ngọt, nhiều dầu mỡ và những món dễ gây đầy trướng.
Người Tỳ Vị hư hàn nên tránh dùng quá nhiều thức ăn sống lạnh; có thể chọn cháo, súp và món nấu chín mềm.
Người Vị âm bất túc nên tránh thức ăn quá cay, khô và nóng; dùng món mềm, có nước nhưng không nên ăn quá nhiều một lần.
Tinh thần uất kết có thể làm khí cơ không thông và khiến triệu chứng tăng lên. Việc giữ sinh hoạt điều hòa, ngủ đủ, ăn chậm và tránh vừa ăn vừa căng thẳng có ý nghĩa hỗ trợ nhất định.
Chú ý
Viêm thực quản trào ngược kéo dài có thể gây loét, xuất huyết, hẹp thực quản và thực quản Barrett.
Người bệnh cần được nội soi sớm khi có khó nuốt, nuốt đau, thức ăn mắc lại, gầy sút không rõ nguyên nhân, thiếu máu, nôn ra máu, đại tiện phân đen, nôn kéo dài hoặc đau ngực bất thường.
Các phương thuốc Trung y chỉ có giá trị tham khảo. Cần biện chứng cụ thể và phối hợp với kết quả nội soi cùng chẩn đoán của y học hiện đại.
Không nên tự dùng kéo dài những vị có tính đắng lạnh, phá khí, hoạt huyết hoặc giáng nghịch mạnh. Người đang dùng thuốc chống đông, thuốc tim mạch, thuốc điều trị ung thư, phụ nữ mang thai, người suy gan thận hoặc chuẩn bị phẫu thuật cần thông báo đầy đủ cho thầy thuốc trước khi dùng thuốc Trung y.
Trường Xuân biên soạn