Viêm tai giữa tiết dịch
Tư liệu tham khảo:
Đặc điểm, nguyên nhân và bệnh lý của bệnh viêm tai giữa tiết dịch là gì?
Viêm tai giữa tiết dịch là một bệnh viêm không mủ ở tai giữa, đặc trưng bởi tràn dịch màng nhĩ và giảm thính lực. Bản chất của tràn dịch tai giữa có thể là rò rỉ huyết thanh hoặc dịch tiết, hoặc có thể là chất nhầy. Bệnh này có thể chia thành hai loại: cấp tính và mãn tính, viêm tai giữa tiết dịch mãn tính có thể do không điều trị viêm tai giữa tiết dịch cấp tính kịp thời và thích hợp hoặc do viêm tai giữa tiết dịch cấp tính lặp đi lặp lại, bệnh kéo dài chuyển hoá mà thành bệnh này. Bệnh này phổ biến hơn vào mùa đông và mùa xuân. Bệnh có thể xảy ra ở cả trẻ em và người lớn và là một trong những nguyên nhân gây điếc hàng đầu ở trẻ em. Hiện nay người ta tin rằng các nguyên nhân chính của căn bệnh này là: (1) Áp lực và tắc nghẽn lỗ mở hầu của ống Eustachian, chẳng hạn như phì đại vòm họng, viêm mũi phì đại, khối u vòm họng hoặc tăng sản mô bạch huyết, bít mũi họng quá lâu, v.v. Chúng có thể trực tiếp làm tắc nghẽn lỗ hầu của ống Eustachian và ảnh hưởng đến việc mở hầu họng của ống Eustachian. (2) Sau khi xạ trị ở đầu và cổ, sưng niêm mạc vòm họng và ống Eustachian, cũng như rối loạn dẫn lưu tĩnh mạch và bạch huyết cục bộ, dẫn đến hẹp khoang quản, cũng có thể dẫn đến viêm tai giữa tiết dịch. (3) Các cơ điều khiển việc đóng mở ống Eustachian ở trẻ em như cơ tensor veli palatini co bóp yếu, ảnh hưởng đến chức năng mở ống Eustachian; ngoài ra, sụn ống Eustachian ở trẻ em có độ đàn hồi kém, khi khoang nhĩ chịu áp lực âm, sụn ống Eustachian sẽ bị tổn thương, thành ống của đoạn này dễ bị xẹp. Đây là một trong những cơ sở giải phẫu và sinh lý cho tỷ lệ mắc bệnh viêm tai giữa tiết dịch cao ở trẻ em. (4) Viêm tai giữa tiết dịch thường thứ phát sau nhiễm trùng đường hô hấp trên nên có thể coi bệnh này có thể liên quan đến nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc virus. (5) Dị ứng có thể gây phù nề niêm mạc ống Eustachian, dẫn đến tắc nghẽn ống Eustachian, dẫn đến áp lực âm trong tai giữa, gây tiết dịch hoặc tăng tiết. (6) Việc sử dụng kháng sinh không đúng cách trong bệnh viêm tai giữa cấp tính, chẳng hạn như không đủ liều lượng, không đủ liệu trình hoặc vi khuẩn kháng thuốc, v.v., có thể làm chậm quá trình lành vết viêm. Ngoài ra, chỉ dựa vào kháng sinh mà bỏ qua việc cắt bỏ màng nhĩ cũng là nguyên nhân gây viêm tai giữa tiết dịch.
Bệnh lý của viêm tai giữa tiết dịch chủ yếu là khi ống Eustachian hoạt động kém, không khí bên ngoài không thể vào tai giữa, khí ban đầu trong tai giữa bị hấp thu dần, tạo thành áp suất âm trong khoang. Lúc này, niêm mạc tai giữa sưng lên, tính thấm của mao mạch tăng lên và xảy ra hiện tượng rò rỉ trong màng nhĩ. Theo thời gian, niêm mạc tai giữa chuyển hóa thành niêm mạc bài tiết, các mạch máu lamina propria giãn ra, tế bào cốc tăng lên, bài tiết tăng lên, hình thành các tuyến nhầy bệnh lý và các tế bào tròn xâm nhập quanh mạch máu lamina propria. Trong giai đoạn phục hồi của bệnh, các tuyến bị thoái hóa, dịch tiết giảm dần, niêm mạc dần trở lại bình thường.
Y học cổ truyền cho rằng viêm tai giữa tiết dịch thuộc phạm trù “Phong lung” (风聋)điếc do phong, “Nhĩ trướng nhĩ bế” (耳胀耳闭) cảm giác tai bị tức trướng và giảm thính lực, “Nhĩ trướng thống” (耳胀痛) tai đau trướng và (Nhĩ tí) (耳痹) liệt tai. Cơ chế bệnh sinh của nó chủ yếu là do phong tà xâm nhập, kinh lạc bế tắc, hoặc do đàm thấp, tích tụ ở tai, hoặc tà độc đình trệ, khí huyết ứ trở. Những điểm chính của biện chứng luận trị là:
1/ Phong tà trệ nhĩ khiếu: Sau khi bị cảm, tai có cảm giác căng hoặc hơi đau, ù tai và giảm thính lực, tự tăng giọng, màng nhĩ co rút, màu đỏ và sưng tấy, hoặc nhìn thấy chất lỏng. Kèm theo sốt, ghét gió, nghẹt mũi và chảy nước mũi.
Trị pháp: Sơ phong tán tà, hành khí tuyên bĩ.
Xử phương: Ngân kiều tán hợp Thông khí tán: Kim ngân hoa 20g, Liên kiều 12g, Cát cánh, Bạc hà, Đạm trúc diệp, Kinh giới, Đạm đậu thị, Lô căn, Hương phụ đều 10g, Ngưu bàng tử 15g, Xuyên khung 15g, Sài hồ 20g. Nghẹt mũi nặng gia Tân di, Thương nhĩ tử đều 10g; Tai tức trướng thính giác giảm gia Hoắc hương, Xương bồ đều 10g; Nếu dịch tích tụ trong tai, gia Mộc thông, Trạch tả đều 10g. Nếu phong hàn gây tắc nghẽn phế kinh, toanfthaan rất sợ gió, sốt nhẹ, nghẹt mũi, chảy nước mũi trong, tức trướng trong tai, thính lực hạ giáng; Chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù sác.
Trị pháp: Tuyên phế tán hàn thông khiếu.
Xử phương: Tam ảo thang hợp Thương nhĩ tử tán gia giảm: Ma hoàng, Hạnh nhân, Thương nhĩ tử, Tân di, Bạch chỉ, Bạc hà, Kinh giới, Phòng phong đều 10g, Cam thảo 3g; Sắc uống.
2/ Đàm thấp trong tai: Tai tức trướng, ù đặc, tắc nghẽn, thính lực giảm, nói to, trong tai có tiếng chảy nước khi lắc đầu. Khám thấy màng nhĩ có đường cong ngang hoặc màng nhĩ lồi. Toàn thân thường có các chứng trạng như nặng đầu choáng váng, mệt mỏi suy nhược, miệng nhạt, đầy bụng, chất lưỡi nhạt rêu nhớt, mạch nhu hoặc hoạt.
Trị pháp: Kiện tỳ thăng thanh, lợi thấp thông khiếu.
Xử phương: Bổ trung ích khí thang hợp Ngũ linh tán gia giảm: Hoàng kỳ 30g, Đảng sâm 15g, Bạch truật, Sài hồ, Đương quy, Mộc thông, Thạch xương bồ đều 10g, Trần bì, Tân di đều 12g, Phục linh, Trạch tả, Xa tiền tử đều 15g, Cát căn 20g; Sắc uống.
3/ Khí huyết ứ lạc: Có cảm giác bế tắc trong tai, giảm thính lực, ù tai dần dần phát sinh, lâu ngày không khỏi. Màng nhĩ rõ ràng bị hãm vào trong rõ rệt hoặc dày lên, lắng đọng canxi, dính và teo; Chất lưỡi đỏ sậm, mạch sáp.
Trị pháp: Hoạt huyết thông lạc, Thông nhĩ khai khiếu.
Xử phương: Bổ dương hoàn ngũ thang gia giảm: Hoàng kỳ 30g, Đương quy, Toàn yết, Địa long đều 12g, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa đều 10g, Hoàng tinh, Cát căn, Ti qua lạc, Lộ lộ thông đều 15g. Nếu kèm theo vựng đầu, eo gối mỏi ê ẩm là biểu hiện của thận tinh hư nhược, có thể uống thêm Lục vị địa hoàng hoàn hoặc Nhĩ lung tả tư hoàn.
Ly Nghị Nguyễn
9/17/2023