Tổng quan
Viêm dạ dày – ruột cấp là tình trạng viêm hoặc rối loạn cấp tính của dạ dày và ruột, thường biểu hiện bằng tiêu chảy, buồn nôn, nôn, đau quặn bụng và đôi khi có sốt. Trong đời sống, bệnh thường được gọi là tiêu chảy cấp, viêm ruột cấp hoặc rối loạn tiêu hóa cấp.
Phần lớn trường hợp có liên quan đến virus, vi khuẩn, độc tố trong thực phẩm hoặc thức ăn và nguồn nước bị ô nhiễm. Một số trường hợp phát sinh do thuốc, hóa chất, dị ứng thức ăn hoặc bệnh lý khác, không nhất thiết đều do nhiễm trùng.
Bệnh thường diễn tiến trong thời gian ngắn và có thể tự ổn định. Tuy nhiên, tiêu chảy và nôn nhiều làm cơ thể mất nước cùng các chất điện giải như natri, kali và bicarbonat. Đây là nguy cơ quan trọng nhất, đặc biệt ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người cao tuổi, phụ nữ mang thai, người suy giảm miễn dịch và người có bệnh mạn tính. Việc bù nước bằng dung dịch oresol là biện pháp căn bản trong đa số trường hợp chưa mất nước nặng. (Tổ Chức Y Tế Thế Giới)
Trong Trung y, bệnh có thể thuộc phạm vi Tiết tả (泄泻), Ẩu thổ (呕吐), Phúc thống (腹痛), Hoắc loạn (霍乱) và Thử thấp (暑湿). Bệnh vị chủ yếu ở Tỳ, Vị và Đại trường; bệnh cơ căn bản là Tỳ Vị mất điều hòa, thanh trọc lẫn lộn, thăng giáng thất thường.
Nguyên nhân Trung y thường gồm thử thấp hoặc hàn thấp xâm phạm, ăn uống không sạch hoặc không điều độ, thực tích đình trệ và Tỳ Vị vốn hư yếu. Bệnh mới phát phần nhiều thuộc thực chứng; sau khi nôn và tiêu chảy kéo dài có thể hao tổn khí, tân dịch và dương khí.
Chú ý
Nếu người bệnh đi ngoài ra nhiều máu, nôn ra máu, sốt cao, đau bụng dữ dội hoặc đau khu trú, bụng cứng, nôn liên tục, không uống được, li bì, lú lẫn, ngất, tiểu rất ít hoặc không tiểu, cần đến cơ sở y tế ngay.
Trẻ sơ sinh, trẻ dưới một tuổi, người cao tuổi, phụ nữ mang thai, người suy giảm miễn dịch hoặc có bệnh tim, thận, gan, đái tháo đường cần được đánh giá sớm hơn khi nôn và tiêu chảy.
Không tự dùng kháng sinh, atropin, codein, loperamide hoặc thuốc công hạ khi chưa xác định nguyên nhân.
VIÊM DẠ DÀY – RUỘT CẤP LÀ GÌ?
Viêm dạ dày – ruột cấp thường khởi phát đột ngột, gây rối loạn hấp thu và bài tiết nước trong đường tiêu hóa. Người bệnh có thể nôn trước, sau đó tiêu chảy, hoặc xuất hiện cả hai cùng lúc.
Một số tác nhân làm tổn thương trực tiếp tế bào niêm mạc. Một số khác tiết độc tố, kích thích ruột bài tiết nhiều nước và điện giải. Khi lượng dịch tiết vượt quá khả năng tái hấp thu, phân trở nên lỏng hoặc hoàn toàn như nước.
Tên gọi “viêm ruột cấp” không mô tả được mọi trường hợp. Nhiều người bị tiêu chảy cấp do độc tố thực phẩm hoặc virus mà niêm mạc không có tình trạng viêm sâu. Do đó, chẩn đoán cần căn cứ triệu chứng, mức độ mất nước, dịch tễ và các dấu hiệu gợi ý nguyên nhân.
NGUYÊN NHÂN
Nhiễm virus
Virus là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất của viêm dạ dày – ruột cấp. Bệnh thường gây nôn, tiêu chảy nước, đau bụng và sốt nhẹ; phần lớn tự ổn định trong vòng chưa đến một tuần. (NIDDK)
Nhiễm vi khuẩn
Các vi khuẩn có thể lây qua thực phẩm, nước uống, tay hoặc dụng cụ chế biến bị ô nhiễm. Một số tác nhân thường được nhắc đến gồm Salmonella, Campylobacter, Shigella, một số chủng Escherichia coli và Vibrio.
Tiêu chảy do vi khuẩn có thể kèm sốt cao, đau bụng rõ, nhầy hoặc máu trong phân. Tuy nhiên, không thể chỉ dựa vào màu sắc hay mùi phân để kết luận loại vi khuẩn.
Độc tố thực phẩm
Thức ăn để lâu ở nhiệt độ không phù hợp có thể chứa độc tố do vi khuẩn tạo ra. Bệnh thường xuất hiện nhanh với buồn nôn, nôn, đau bụng và tiêu chảy.
Ký sinh trùng
Ký sinh trùng thường được nghĩ đến khi tiêu chảy kéo dài, tái diễn, liên quan nước không sạch, du lịch hoặc sinh hoạt trong môi trường có nguy cơ.
Thức ăn và nước bị ô nhiễm
Thịt, trứng, hải sản, sữa chưa tiệt trùng, rau sống, thức ăn nấu chín để lâu và nước không bảo đảm vệ sinh đều có thể là nguồn lây.
Thuốc
Kháng sinh, thuốc nhuận tràng, thuốc chứa magiê, metformin, colchicine và một số thuốc khác có thể gây tiêu chảy. Tiêu chảy xuất hiện trong hoặc sau khi dùng kháng sinh cần được chú ý vì có thể liên quan đến Clostridioides difficile.
Hóa chất
Thuốc trừ sâu, kim loại nặng, acid, kiềm và hóa chất độc có thể gây đau bụng, nôn và tiêu chảy. Đây là tình trạng ngộ độc, không được xử lý như viêm ruột thông thường.
Không dung nạp hoặc dị ứng thức ăn
Một số người có thể tiêu chảy sau khi dùng sữa, hải sản hoặc thức ăn gây dị ứng. Nếu kèm nổi mề đay, phù môi lưỡi, khò khè hoặc khó thở, cần cấp cứu.
TRIỆU CHỨNG
Tiêu chảy
Phân có thể lỏng, nhão hoặc hoàn toàn như nước. Số lần đại tiện thay đổi từ vài lần đến rất nhiều lần trong ngày.
Tiêu chảy nước thường gặp trong nhiễm virus hoặc bệnh do độc tố. Phân nhầy máu, sốt cao và đau quặn rõ có thể gợi ý tình trạng viêm hoặc xâm lấn niêm mạc và cần được đánh giá.
Buồn nôn và nôn
Nôn có thể xuất hiện đột ngột, nhất là trong viêm dạ dày – ruột do virus hoặc độc tố thực phẩm.
Nôn dịch xanh, nôn ra máu, nôn liên tục hoặc nôn kèm đau khu trú không nên được xem là biểu hiện tiêu hóa thông thường.
Đau bụng
Thường là đau quặn từng cơn quanh rốn hoặc lan khắp bụng, có thể giảm sau đại tiện.
Đau dữ dội, liên tục, khu trú ở hố chậu phải, hạ sườn phải, thượng vị hoặc kèm bụng cứng cần loại trừ viêm ruột thừa, viêm túi mật, viêm tụy, thủng tạng rỗng và các bệnh ngoại khoa khác.
Sốt
Có thể sốt nhẹ hoặc vừa. Sốt cao, rét run hoặc tình trạng toàn thân suy sụp cần được khám.
Âm ruột tăng
Người bệnh có thể nghe rõ tiếng sôi bụng do nhu động ruột tăng và dịch di chuyển trong lòng ruột.
Đau nhức và mệt mỏi
Có thể kèm đau đầu, đau cơ, chán ăn và cảm giác kiệt sức.
DẤU HIỆU MẤT NƯỚC
Khát nhiều.
Miệng khô.
Môi khô.
Mắt trũng.
Tiểu ít hoặc nước tiểu sẫm.
Chóng mặt khi đứng lên.
Mệt lả.
Tim đập nhanh.
Da lạnh.
Trẻ khóc không có nước mắt.
Trẻ bú kém hoặc bỏ bú.
Trẻ li bì hoặc kích thích bất thường.
Mất nước nặng có thể gây tụt huyết áp, rối loạn điện giải, tổn thương thận và sốc. Người không thể uống hoặc tiếp tục nôn dù đã uống từng ngụm nhỏ có thể cần truyền dịch.
DẤU HIỆU CẦN ĐI KHÁM SỚM
Phân có máu hoặc màu đen.
Sốt cao.
Đau bụng nhiều hoặc đau khu trú.
Nôn kéo dài.
Không giữ được nước uống.
Tiêu chảy rất nhiều lần.
Tiêu chảy kéo dài không giảm.
Tiểu ít.
Chóng mặt hoặc ngất.
Sụt cân.
Tiêu chảy sau khi dùng kháng sinh.
Nhiều người trong gia đình hoặc tập thể cùng mắc bệnh.
Có tiền sử du lịch, ăn hải sản sống hoặc uống nước không sạch.
Người bệnh có thai, cao tuổi, suy giảm miễn dịch hoặc bệnh nền nặng.
CHẨN ĐOÁN
Phần lớn trường hợp nhẹ có thể được chẩn đoán dựa trên bệnh sử và khám lâm sàng.
Bác sĩ thường hỏi:
Thời điểm khởi phát.
Số lần nôn và tiêu chảy.
Tính chất phân.
Có máu hay không.
Thực phẩm đã ăn.
Người khác có cùng triệu chứng hay không.
Tiền sử du lịch.
Nguồn nước sử dụng.
Thuốc đang dùng.
Mức độ tiểu tiện.
Bệnh nền.
Xét nghiệm phân
Có thể được chỉ định khi:
Phân có máu.
Sốt cao.
Đau bụng rõ.
Bệnh kéo dài.
Người bệnh suy giảm miễn dịch.
Nghi bùng phát trong cộng đồng.
Nghi nhiễm ký sinh trùng.
Tiêu chảy sau dùng kháng sinh.
Xét nghiệm máu
Có thể cần để đánh giá:
Mức độ cô đặc máu.
Bạch cầu.
Điện giải.
Chức năng thận.
Đường huyết.
Tình trạng toan kiềm.
Dấu hiệu viêm hoặc nhiễm trùng nặng.
Chẩn đoán hình ảnh
Không cần thiết trong đa số trường hợp tiêu chảy cấp đơn giản. Siêu âm hoặc chụp cắt lớp có thể được thực hiện khi nghi viêm ruột thừa, viêm túi mật, viêm tụy, tắc ruột, thiếu máu ruột hoặc bệnh ngoại khoa khác.
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Lỵ do vi khuẩn hoặc amip.
Ngộ độc thực phẩm.
Viêm ruột thừa.
Viêm túi mật.
Viêm tụy.
Tắc ruột.
Thiếu máu ruột.
Bệnh viêm ruột.
Viêm đại tràng do thuốc.
Tiêu chảy liên quan kháng sinh.
Cường giáp.
Cơn suy thượng thận.
Nhồi máu cơ tim có biểu hiện tiêu hóa.
Dị ứng thức ăn.
Ngộ độc hóa chất.
ĐIỀU TRỊ CĂN BẢN
Bù nước và điện giải
Đây là phần quan trọng nhất trong điều trị. Dung dịch oresol cung cấp nước, glucose và điện giải với tỷ lệ phù hợp, giúp ruột hấp thu nước hiệu quả hơn.
Oresol phải được pha đúng lượng nước ghi trên bao bì. Không pha đặc hơn, không chia gói bằng ước lượng và không thêm đường, sữa hoặc nước trái cây.
Nên uống từng ngụm nhỏ, liên tục. Nếu buồn nôn, có thể tạm dừng vài phút rồi uống lại chậm hơn.
Nước lọc có thể dùng bổ sung nhưng không thay thế hoàn toàn oresol khi tiêu chảy nhiều, vì nước lọc không cung cấp đủ natri và các chất điện giải.
Người mất nước nặng, sốc, không uống được hoặc nôn liên tục cần truyền dịch tại cơ sở y tế. Oresol có thể phòng và điều trị mất nước hiệu quả ở phần lớn trường hợp chưa quá nặng. (Iris)
Ăn uống
Không cần nhịn ăn 12 giờ một cách thường quy. Khi còn buồn nôn, có thể ăn ít hơn; khi cảm giác thèm ăn trở lại, phần lớn người bệnh có thể ăn lại thức ăn thông thường, kể cả khi tiêu chảy chưa hết hoàn toàn. (NIDDK)
Nên lựa chọn:
Cháo hoặc cơm mềm.
Mì, khoai hoặc bánh mì.
Thịt nạc, cá, trứng nấu chín.
Chuối hoặc trái cây mềm nếu dung nạp được.
Canh và thức ăn có nước.
Sữa mẹ vẫn nên được tiếp tục cho trẻ bú.
Không nên chỉ uống nước cháo hoặc ăn bánh mì cháy để cầm tiêu chảy, vì những cách này không thay thế việc bù điện giải và dinh dưỡng.
Nghỉ ngơi
Người bệnh nên nghỉ ngơi, tránh vận động nặng và theo dõi lượng nước uống, số lần đi ngoài cùng tình trạng tiểu tiện.
Thuốc chống nôn
Có thể được bác sĩ kê trong trường hợp nôn làm cản trở việc bù nước. Không tự dùng cho trẻ nhỏ.
Thuốc cầm tiêu chảy
Một số người lớn bị tiêu chảy nước nhẹ, không sốt và không có máu trong phân có thể được bác sĩ hoặc dược sĩ hướng dẫn dùng thuốc giảm nhu động trong thời gian ngắn.
Không dùng khi:
Phân có máu.
Sốt cao.
Đau bụng dữ dội.
Bụng chướng.
Nghi nhiễm khuẩn xâm lấn.
Nghi viêm đại tràng do Clostridioides difficile.
Trẻ nhỏ chưa được bác sĩ đánh giá.
Kháng sinh
Phần lớn viêm dạ dày – ruột cấp do virus nên kháng sinh không được dùng thường quy. Việc sử dụng không cần thiết có thể gây tác dụng phụ, rối loạn hệ vi sinh và làm tăng kháng thuốc. (CDC)
Kháng sinh chỉ được cân nhắc khi:
Đã xác định hoặc nghi cao nhiễm khuẩn cần điều trị.
Có bệnh nặng.
Người bệnh thuộc nhóm nguy cơ cao.
Có lỵ, sốt cao hoặc nhiễm trùng ngoài ruột trong tình huống phù hợp.
Có chỉ định từ bác sĩ sau khi đánh giá dịch tễ và xét nghiệm.
Ngay cả với Salmonella, kháng sinh cũng thường chỉ được giới hạn cho người có chỉ định lâm sàng cụ thể. (CDC)
Không tự dùng norfloxacin, ciprofloxacin, sulfamethoxazole–trimethoprim, gentamicin hoặc các kháng sinh còn lại từ lần bệnh trước.
Men vi sinh
Một số chế phẩm có thể giúp giảm nhẹ hoặc rút ngắn tiêu chảy trong một số trường hợp, nhưng hiệu quả tùy chủng và không thay thế bù nước.
NGUYÊN TẮC CHĂM SÓC TRẺ EM
Tiếp tục cho trẻ bú mẹ.
Cho uống oresol từng thìa hoặc từng ngụm nhỏ.
Không pha sữa đặc hoặc loãng hơn hướng dẫn.
Không tự cho trẻ dùng thuốc cầm tiêu chảy.
Không tự dùng kháng sinh.
Theo dõi số tã ướt, mắt, môi, mức độ tỉnh táo và khả năng bú.
Trẻ có mất nước nhẹ hoặc chưa mất nước vẫn cần tiếp tục chế độ ăn phù hợp với tuổi và được bổ sung dịch để bù lượng mất. (CDC)
Đưa trẻ đi khám ngay khi:
Trẻ sơ sinh bị tiêu chảy.
Trẻ nôn liên tục.
Trẻ bỏ bú.
Trẻ li bì.
Trẻ khóc không có nước mắt.
Trẻ tiểu ít.
Phân có máu.
Nôn dịch xanh.
Sốt cao.
Bụng chướng.
NHỮNG CÁCH ĐIỀU TRỊ CŨ KHÔNG NÊN TỰ ÁP DỤNG
Không tự dùng atropin, belladonna hoặc scopolamine để giảm đau bụng.
Không dùng codein hoặc thuốc phiện để cầm tiêu chảy.
Không tự dùng kháng sinh.
Không uống gentamicin.
Không tự truyền glucose, muối hoặc natri bicarbonat.
Không rửa dạ dày bằng nước đá khi nôn máu.
Không nhịn ăn kéo dài.
Không thụt rửa ruột khi đang tiêu chảy.
Không dùng thuốc nhuận tràng để “đẩy độc”.
Không dùng thuốc cố sáp khi đang sốt, phân có máu hoặc nghi nhiễm trùng.
NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y
Tỳ chủ vận hóa, thăng thanh; Vị chủ thu nạp, giáng trọc. Tỳ thăng và Vị giáng phối hợp thì thủy cốc được tiêu hóa, thanh trọc phân minh.
Khi thử thấp, hàn thấp hoặc uế trọc xâm phạm, Tỳ Vị mất điều hòa, thanh khí không thăng, trọc khí không giáng. Trọc khí nghịch lên gây buồn nôn và nôn; thủy thấp hạ chú gây tiêu chảy.
Ăn quá nhiều hoặc ăn thức ăn ôi hỏng làm thực tích đình lại, khí cơ trung tiêu bế tắc, sinh đau bụng, nôn và tiêu chảy hôi.
Người vốn Tỳ Vị hư yếu dễ phát bệnh sau khi ăn uống không cẩn thận. Nôn và tiêu chảy kéo dài lại làm khí, tân dịch và dương khí hao tổn.
Điều trị cần căn cứ hàn nhiệt, hư thực và mức độ mất nước. Giai đoạn đầu phần nhiều lấy hóa thấp, hòa trung và tiêu đạo làm chủ; khi tà giảm mới chú trọng kiện Tỳ và phục hồi chính khí.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Bệnh cơ
Thấp nhiệt hoặc uế trọc xâm phạm Tỳ Vị, làm thăng giáng rối loạn và Đại trường truyền đạo thất thường.
Chứng trạng: Khởi phát nhanh, buồn nôn, nôn, đau bụng quặn, đại tiện gấp, phân lỏng hoặc nước màu vàng nâu, mùi hôi, hậu môn có thể nóng rát, miệng đắng nhớt, khát nhưng không muốn uống nhiều, tiểu vàng, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, hòa Vị chỉ tả.
Phương thang: Cát căn cầm liên thang gia giảm gồm cát căn, hoàng cầm, hoàng liên, chích cam thảo; tùy chứng có thể phối kim ngân hoa, bạch biển đậu, phục linh, xa tiền tử và ý dĩ nhân.
Gia giảm
Đau bụng nhiều: gia bạch thược, mộc hương.
Buồn nôn: gia bán hạ, trúc nhự.
Thực tích: gia thần khúc, mạch nha, sơn tra.
Thấp nặng, miệng nhớt: gia hoắc hương, bội lan.
Chú ý
Sốt cao, phân có máu, đau nhiều hoặc mất nước cần được khám. Không dùng thuốc thanh nhiệt đắng lạnh kéo dài vì có thể làm tổn thương Tỳ Vị.
Bệnh cơ
Hàn thấp xâm phạm trung tiêu, làm Tỳ dương bị trở ngại, Vị mất hòa giáng và thanh trọc không phân.
Chứng trạng: Buồn nôn, nôn nước trong, tiêu chảy phân loãng như nước, đau bụng quặn hoặc sôi bụng, sợ lạnh, có thể sốt nhẹ và đau mình, miệng không khát, lưỡi nhạt hoặc hồng nhạt, rêu trắng nhớt, mạch nhu hoặc phù.
Phép trị
Tán hàn hóa thấp, phương hương hóa trọc, hòa trung chỉ tả.
Phương thang: Hoắc hương chính khí tán gia giảm gồm hoắc hương, tử tô diệp, bạch chỉ, đại phúc bì, phục linh, bán hạ, bạch truật, trần bì, hậu phác, cát cánh, sinh khương, đại táo và cam thảo.
Gia giảm
Sợ lạnh rõ: gia kinh giới, phòng phong.
Đau đầu, đau mình: gia khương hoạt lượng thích hợp.
Thực tích: gia thần khúc, kê nội kim, lai phục tử.
Nôn nhiều: gia sa nhân, sinh khương.
Chú ý
Không dùng phương ôn tán khi sốt cao, khát nhiều, phân hôi nóng rát, lưỡi đỏ và rêu vàng.
Bệnh cơ
Ăn quá nhiều hoặc thức ăn khó tiêu, hư hỏng đình lại trong Vị trường, làm khí cơ bế tắc và truyền đạo thất thường.
Chứng trạng: Buồn nôn, nôn ra thức ăn chưa tiêu, không muốn ăn, bụng đầy và đau, tiêu chảy có mùi chua hôi, đại tiện xong đau giảm, ợ hơi có mùi thức ăn, rêu lưỡi dày nhớt, mạch hoạt.
Phép trị
Tiêu thực đạo trệ, hòa Vị giáng nghịch.
Phương thang: Bảo hòa hoàn gia giảm gồm sơn tra, thần khúc, bán hạ, phục linh, trần bì, liên kiều và lai phục tử.
Gia giảm
Đầy trướng: gia chỉ thực, hậu phác.
Nôn nhiều: gia trúc nhự, sinh khương.
Đau bụng: gia mộc hương, bạch thược.
Tỳ khí hư: gia bạch truật, hoài sơn dược.
Chú ý
Không tự dùng Chỉ thực đạo trệ hoàn, đại hoàng hoặc thuốc công hạ khi tiêu chảy nhiều, mất nước, người yếu, đau bụng dữ dội hoặc nghi tắc ruột.
Bệnh cơ
Thử nhiệt phối hợp thấp tà xâm phạm Tỳ Vị, thường gặp trong thời tiết nóng ẩm, làm khí cơ trung tiêu không thông.
Chứng trạng: Nặng đầu, cơ thể mệt nặng, tức ngực, buồn nôn, bụng đầy, tiêu chảy, khát nhưng uống không nhiều, tiểu tiện ít, lưỡi rêu trắng nhớt hoặc hơi vàng, mạch nhu sác.
Phép trị
Thanh thử hóa thấp, phương hương hòa trung.
Phương thang: Tân gia hương nhu ẩm hoặc Hoắc phác hạ linh thang gia giảm gồm hương nhu, hậu phác, bạch biển đậu, hoắc hương, bán hạ, phục linh, ý dĩ nhân và bạch đậu khấu.
Gia giảm
Nhiệt rõ: gia kim ngân hoa, liên kiều.
Nôn nhiều: gia trúc nhự.
Đầy bụng: gia đại phúc bì, trần bì.
Bệnh cơ
Người vốn Tỳ Vị yếu, lại gặp căng thẳng, lo âu hoặc tức giận làm Can khí hoành nghịch, Tỳ mất kiện vận.
Chứng trạng: Đau bụng và tiêu chảy tăng khi căng thẳng, đau rồi muốn đi ngoài, đại tiện xong giảm, bụng đầy, ợ hơi, ăn kém, tức ngực sườn, hay thở dài, lưỡi hồng nhạt rêu mỏng, mạch huyền.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, điều khí chỉ tả.
Phương thang: Thống tả yếu phương gia giảm gồm bạch truật, bạch thược, trần bì, phòng phong; có thể phối sài hồ, phục linh và chích cam thảo.
Gia giảm
Đau bụng: gia diên hồ sách, uất kim.
Đầy trướng: gia chỉ xác, hậu phác.
Tiêu chảy nhiều: gia hoài sơn dược, liên tử.
Chú ý
Đây không phải thể thường gặp nhất trong nhiễm trùng cấp. Phải loại trừ nguyên nhân thực phẩm và nhiễm trùng trước khi quy bệnh cho cảm xúc.
Bệnh cơ
Tỳ Vị vốn hư hoặc sau đợt nôn tiêu kéo dài, khí của trung tiêu suy, vận hóa và hòa giáng đều giảm.
Chứng trạng: Dễ nôn hoặc tiêu chảy khi ăn uống không cẩn thận, phân lỏng, ăn kém, bụng đầy âm ỉ, mệt mỏi, chân tay yếu, sắc mặt nhợt hoặc vàng nhạt, lưỡi nhạt có dấu răng, rêu trắng, mạch nhu nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị thấm thấp.
Phương thang: Sâm linh bạch truật tán gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, phục linh, hoài sơn dược, bạch biển đậu, liên tử, ý dĩ nhân, sa nhân, cát cánh và chích cam thảo.
Gia giảm
Thực tích chưa hết: gia kê nội kim, thần khúc.
Đau bụng thích ấm: gia can khương lượng nhỏ, bạch thược.
Tiêu chảy kéo dài: gia khiếm thực, ô mai theo chứng.
Chú ý
Không dùng phép bổ sáp khi còn sốt, đau nhiều, phân hôi, lưỡi rêu vàng nhớt hoặc tà thực chưa giải.
Bệnh cơ
Nôn và tiêu chảy nhiều làm khí cùng tân dịch hao tổn, cơ thể mất sự nhu dưỡng.
Chứng trạng: Mệt lả, hơi thở ngắn, miệng khô, khát, da khô, tiểu ít, hồi hộp, lưỡi đỏ nhạt hoặc khô ít rêu, mạch tế nhược hoặc hư sác.
Phép trị
Ích khí sinh tân, dưỡng âm hòa Vị.
Phương thang: Sinh mạch tán gia giảm gồm đảng sâm hoặc thái tử sâm, mạch môn đông, ngũ vị tử; có thể phối phục linh, hoài sơn dược và bạch thược khi Tỳ hư.
Chú ý
Khí âm lưỡng thương trong tiêu chảy cấp thường đi kèm mất nước. Bù oresol hoặc truyền dịch phải được đặt lên trước, không dùng thuốc thang thay thế.
Bệnh cơ
Nôn và tiêu chảy dữ dội làm âm dịch mất nhiều, dương khí không còn chỗ nương tựa, xuất hiện thoát chứng.
Chứng trạng: Tiêu chảy và nôn ồ ạt, sắc mặt trắng bệch, chân tay lạnh, mồ hôi lạnh, hơi thở yếu, tinh thần lơ mơ, mạch vi muốn tuyệt.
Phép trị
Hồi dương cứu nghịch, ích khí cố thoát.
Chú ý
Đây là tình trạng sốc hoặc mất nước nặng, phải gọi cấp cứu và truyền dịch ngay. Không chờ sắc thuốc và không tự dùng nhân sâm, phụ tử hoặc Tứ nghịch thang tại nhà.
CHÂM CỨU
Châm cứu chỉ được cân nhắc ở người bệnh ổn định, đã được bù nước và không có dấu hiệu ngoại khoa, nhiễm trùng nặng hoặc mất nước.
Huyệt thường dùng
Vị-25 Thiên khu
Vị-36 Túc tam lý
Vị-37 Thượng cự hư
Nhâm-12 Trung quản
Tâm bào-6 Nội quan
Tỳ-6 Tam âm giao
Tỳ-9 Âm lăng tuyền
Bàng quang-20 Tỳ du
Bàng quang-25 Đại trường du
Phối huyệt tham khảo
Buồn nôn: Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý.
Tiêu chảy: Vị-25 Thiên khu, Vị-37 Thượng cự hư, Vị-36 Túc tam lý.
Thấp nhiệt: Tỳ-9 Âm lăng tuyền, Đại trường-11 Khúc trì, Vị-25 Thiên khu.
Hàn thấp: Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải.
Tỳ khí hư: Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du, Nhâm-6 Khí hải.
Không châm sâu vùng bụng khi đau dữ dội, bụng cứng, chướng nhiều, nghi viêm ruột thừa, tắc ruột hoặc thủng.
CỨU NGẢI
Cứu ngải có thể cân nhắc ở thể hàn thấp hoặc Tỳ Vị hư hàn, biểu hiện đau bụng thích ấm, tiêu chảy phân trong loãng, chân tay lạnh, lưỡi nhạt và rêu trắng.
Huyệt thường dùng
Nhâm-8 Thần khuyết
Nhâm-6 Khí hải
Nhâm-12 Trung quản
Vị-36 Túc tam lý
Không cứu khi sốt cao, khát, lưỡi đỏ rêu vàng, mất nước, phân có máu, đau bụng chưa rõ nguyên nhân hoặc da vùng bụng bị tổn thương.
XOA BÓP BẤM HUYỆT
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan khi buồn nôn và Vị-36 Túc tam lý khi bụng khó chịu.
Không xoa bóp mạnh vùng bụng đang đau.
Không day vùng Nhâm-12 Trung quản hoặc Vị-25 Thiên khu khi nghi bệnh bụng cấp.
Không xoa bóp thay cho bù nước hoặc điều trị nhiễm trùng.
ĐIỀU DƯỠNG ĂN UỐNG
Uống oresol đúng cách.
Uống từng ngụm nhỏ nếu buồn nôn.
Tiếp tục ăn khi có thể.
Chia thành nhiều bữa nhỏ.
Ưu tiên thức ăn nấu chín.
Hạn chế món quá nhiều dầu.
Tránh rượu bia.
Hạn chế cà phê nếu làm tiêu chảy tăng.
Tạm giảm sữa khi sau đợt tiêu chảy xuất hiện đầy bụng hoặc không dung nạp lactose.
Không ăn thực phẩm sống, tái hoặc để lâu ngoài nhiệt độ phòng.
Không tự uống nước ngọt quá nhiều để bù nước vì lượng đường cao có thể làm tiêu chảy tăng.
DƯỢC THIỆN THAM KHẢO
Giai đoạn đang nôn và tiêu chảy
Có thể dùng cháo gạo tẻ nấu mềm, canh nhẹ, khoai hoặc mì mềm. Mục tiêu là cung cấp năng lượng dễ tiêu, không phải cầm tiêu chảy bằng cách làm phân khô.
Tỳ Vị khí hư sau bệnh
Cháo hoài sơn dược, liên tử và bạch biển đậu.
Hàn thấp
Cháo gạo tẻ phối một lượng nhỏ sinh khương khi bụng lạnh, thích ấm và không sốt cao.
Khí âm hao tổn
Có thể dùng cháo ngọc trúc hoặc mạch môn đông lượng vừa sau khi tình trạng cấp đã ổn định.
Không dùng dược thiện thay cho oresol, kháng sinh được chỉ định hoặc truyền dịch.
PHÒNG NGỪA
Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.
Rửa tay trước khi chế biến thức ăn.
Tách riêng thực phẩm sống và chín.
Nấu chín kỹ thịt, trứng và hải sản.
Không dùng sữa chưa tiệt trùng.
Không ăn thực phẩm có mùi, màu hoặc trạng thái bất thường.
Bảo quản thức ăn đúng nhiệt độ.
Không để thức ăn chín ở nhiệt độ phòng quá lâu.
Hâm nóng kỹ thức ăn thừa.
Dùng nước sạch.
Vệ sinh dao, thớt và bề mặt bếp.
Không chế biến thức ăn cho người khác khi đang nôn hoặc tiêu chảy.
Vệ sinh các bề mặt có chất nôn hoặc phân.
Tiêm vaccine rotavirus cho trẻ theo chương trình tiêm chủng phù hợp; vaccine có thể bảo vệ trẻ trước một nguyên nhân quan trọng của viêm dạ dày – ruột do virus. (NIDDK)
NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM
Bắt đầu bù oresol sớm.
Theo dõi số lần đi ngoài và nôn.
Theo dõi lượng nước tiểu.
Tiếp tục cho trẻ bú mẹ.
Ăn lại khi có thể.
Nghỉ ngơi.
Giữ vệ sinh tay và thực phẩm.
Đi khám khi có máu trong phân, sốt cao hoặc mất nước.
Thông báo lịch sử dùng kháng sinh và thực phẩm đã ăn cho bác sĩ.
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM
Không nhịn ăn kéo dài.
Không pha oresol sai tỷ lệ.
Không tự dùng kháng sinh.
Không uống thuốc kháng sinh còn thừa.
Không tự dùng atropin, belladonna hoặc codein.
Không dùng thuốc cầm tiêu chảy khi phân có máu hoặc sốt.
Không thụt rửa ruột.
Không uống rượu thuốc.
Không dùng thuốc cố sáp quá sớm.
Không xem tiêu chảy cấp nào cũng là do “lạnh bụng”.
Không trì hoãn cấp cứu khi người bệnh li bì, tiểu ít hoặc không uống được.
Nói tóm lại
Viêm dạ dày – ruột cấp thường biểu hiện bằng tiêu chảy, buồn nôn, nôn và đau quặn bụng. Bệnh có thể do virus, vi khuẩn, độc tố thực phẩm, ký sinh trùng, thuốc, hóa chất hoặc không dung nạp thức ăn.
Nguy cơ chính của bệnh là mất nước và rối loạn điện giải. Vì vậy, bù oresol đúng cách, tiếp tục ăn uống phù hợp và theo dõi dấu hiệu nguy hiểm là những biện pháp căn bản. Kháng sinh không được dùng thường quy vì phần lớn trường hợp có thể do virus và tự ổn định.
Theo Trung y, bệnh thuộc phạm vi Tiết tả, Ẩu thổ, Phúc thống và Hoắc loạn. Bệnh cơ chủ yếu là Tỳ Vị mất điều hòa, thăng giáng rối loạn và thanh trọc lẫn lộn. Các thể thường gặp gồm thấp nhiệt Vị trường, hàn thấp trở trệ, thực tích Vị trường, thử thấp phạm trung, Can khí phạm Tỳ, Tỳ Vị khí hư và khí âm lưỡng thương.
Điều trị Trung y cần căn cứ hàn nhiệt, hư thực và giai đoạn bệnh. Thuốc thang, châm cứu và dược thiện chỉ có vai trò hỗ trợ; không thay thế oresol, truyền dịch, xét nghiệm hoặc điều trị cấp cứu khi có mất nước nặng, xuất huyết, nhiễm trùng nặng hay bệnh bụng ngoại khoa.
Trường Xuân biên soạn