VIÊM RUỘT CẤP TÍNH.急性肠炎*.
- Tài liệu tham khảo
“Tiêu chảy” (thường gọi là “chạy” hoặc “tào tháo đuổi”) rất phổ biến trong đời sống. Trong số các nguyên nhân gây tiêu chảy, viêm ruột cấp là bệnh thường gặp nhất. Hễ chế độ ăn uống không hợp lý, mọi người rất dễ mắc viêm ruột cấp.
- Nguyên nhân gây viêm ruột cấp
- Chế độ ăn uống không điều độ
- Ăn uống quá độ: ăn quá nhiều chất béo, chất đạm; uống rượu, uống nhiều đồ lạnh; hoặc bị nhiễm lạnh sau khi ăn uống không hợp lý.
- Ăn phải thức ăn ôi thiu hoặc bị ô nhiễm
- Như thức ăn để qua đêm nhưng không được hâm nóng, sát khuẩn; cá, tôm, cua ươn, không còn tươi; hải sản cũ; thịt để quá lâu trong tủ lạnh; sữa hay các chế phẩm từ sữa đã lên men hoặc biến chất.
- Dị ứng với thức ăn (một số ít trường hợp).
Viêm ruột cấp thường gặp nhiều vào mùa hè, liên quan đến việc thực phẩm dễ hỏng và dễ bị ô nhiễm do thời tiết nóng. Cần chú trọng vệ sinh an toàn thực phẩm – “Bệnh tòng khẩu nhập” (病从口入)bệnh từ miệng mà vào – đây là cửa ải để giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh.
- Triệu chứng lâm sàng của viêm ruột cấp
- Đau bụng và tiêu chảy
- Đây là triệu chứng chính. Người bệnh thường đau quanh rốn, đau quặn từng cơn, dẫn đến cảm giác buồn đi đại tiện. Sau khi đi vệ sinh, cơn đau giảm đi phần nào.
- Phân chủ yếu là dạng nước loãng, lẫn mẩu thức ăn chưa tiêu, số lần đi có thể 7–8 lần/ngày, thậm chí hơn chục lần. Nếu được điều trị, đa số sẽ hồi phục trong 1–2 ngày (nhiều nhất 2–3 ngày), diễn tiến tương đối lành tính.
- Âm ruột tăng
- Người đứng gần có thể nghe rõ tiếng “ùng ục” trong bụng người bệnh.
- Trường hợp nặng
- Có thể sốt nhẹ, buồn nôn, nôn mửa, và xuất hiện dấu hiệu mất nước.
- Phân biệt với các bệnh gây tiêu chảy khác
- Nhìn chung, những trường hợp tiêu chảy mức độ nhẹ thường là viêm ruột cấp. Các bệnh lý khác cần được kiểm tra chuyên sâu tại bệnh viện để chẩn đoán xác định.
- Biện pháp sơ cứu
- Nghỉ ngơi tại giường
- Giữ ấm. Tốt nhất nên nhịn ăn 12 giờ, sau đó mới ăn dần các thức ăn lỏng (như nước cháo, bột củ sen, cháo loãng, canh mì…), rồi phục hồi dần chế độ ăn thông thường.
- Giảm đau, cầm tiêu chảy
- Uống thuốc kháng cholinergic, ví dụ Belladonna (颠茄片).
- Nếu tiêu chảy nghiêm trọng, có thể ăn bánh mì nướng cháy hoặc cháo gạo rang để giúp cầm tiêu chảy.
- Khuyến khích uống nhiều nước
- Cụ thể cách uống tham khảo nội dung “Sơ cứu viêm dạ dày cấp”.
- Thuốc “kháng viêm”
- Nếu bệnh ở thể nhẹ, có thể không dùng kháng sinh. Thông thường, người bệnh có thể chọn men tiêu hóa (乳酶生), Hoàng liên tố (黄连素), Furoxacin (氟哌酸)v.
- Trường hợp tiêu chảy nặng kèm mất nước
- Cần nhanh chóng đưa đến bệnh viện để truyền dịch và điều trị kịp thời.
- Viêm ruột cấp là gì?
Viêm ruột cấp là bệnh thường gặp vào mùa hè và mùa thu, do vi khuẩn hoặc virus gây ra. Triệu chứng chính là đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa, sốt. Trường hợp nặng có thể xuất hiện tình trạng mất nước, rối loạn điện giải, và sốc.
Chẩn đoán không khó, chủ yếu dựa vào khởi phát đột ngột trong giai đoạn hè – thu, tiền sử ăn uống không an toàn hoặc ngộ độc thực phẩm, có thể gây bùng phát theo ổ dịch. Người bệnh thường buồn nôn, nôn mửa trước rồi sau đó tiêu chảy (3–5 lần, thậm chí hàng chục lần mỗi ngày), phân dạng nước, màu vàng đậm hay xanh, mùi hôi khó chịu, kèm đau quặn bụng, sốt, đau nhức toàn thân… Xét nghiệm phân thường phát hiện bạch cầu/hồng cầu có thể bình thường hoặc tăng; nuôi cấy phân có thể tìm thấy vi khuẩn gây bệnh. Bệnh còn được gọi là viêm dạ dày – ruột cấp vì tổn thương thường cả dạ dày lẫn ruột.
- Những yếu tố liên quan đến viêm ruột cấp
- Nhiễm vi khuẩn và độc tố
- Thường gặp Salmonella, Vibrio parahaemolyticus (vi khuẩn ưa muối), tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) hoặc virus. Có thể gặp trường hợp bùng phát trong gia đình hoặc tập thể.
- Người bệnh đã ăn phải thực phẩm nhiễm khuẩn (thịt, gia cầm, cá), hải sản như cua, ốc nhiễm vi khuẩn ưa muối, thức ăn thừa bị tụ cầu vàng xâm nhiễm, v.v.
- Tác động vật lý và hóa học
- Ăn đồ sống lạnh, hoặc dùng một số thuốc (salicylat, sulfonamid, kháng sinh…), hoặc uống nhầm acid/kiềm mạnh, thuốc trừ sâu…, đều có thể gây viêm ruột cấp.
- Thay đổi bệnh lý trong viêm ruột cấp
- Niêm mạc dạ dày – ruột xung huyết, phù nề, tiết dịch nhiều; bề mặt có lớp xuất tiết màu vàng hoặc chất nhầy. Tổn thương có thể khu trú hoặc lan tỏa.
- Có thể thấy lớp niêm mạc loét nông, xuất huyết, bong tróc tế bào biểu mô. Khi mạch máu tại lớp niêm mạc bị tổn thương, sẽ chảy máu, thoát huyết tương, kèm thâm nhập bạch cầu trung tính, lympho, tương bào, một ít bạch cầu ái toan. Trường hợp nặng, phù nề đến dưới niêm mạc.
- Khi viêm dạ dày – ruột do Salmonella, ruột non là nơi bị tổn thương nhiều nhất, nhưng đại tràng cũng bị ảnh hưởng, tạo triệu chứng giống lỵ. Vi khuẩn này có tính xâm lấn, gây viêm niêm mạc, kèm xâm nhập bạch cầu trung tính ở lớp dưới niêm. Tế bào viêm tiết nhiều prostaglandin, kích hoạt adenylate cyclase, đồng thời vi khuẩn còn tiết ra nội độc tố, kích thích thêm hệ thống này, làm tăng tiết dịch, vượt quá khả năng tái hấp thu của ruột, gây tiêu chảy.
- Triệu chứng lâm sàng của viêm ruột cấp
- Triệu chứng tiêu hóa
- Buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy là bốn biểu hiện chính.
- Nôn khởi phát đột ngột; nặng có thể nôn ra dịch mật hoặc có máu.
- Đau bụng thường ở vùng thượng vị, có lúc quặn từng cơn.
- Tiêu chảy với phân nước, từ vài lần đến mấy chục lần/ngày, màu vàng đậm hoặc xanh, mùi hôi, thường không có mủ hay máu, không kèm mót rặn.
- Triệu chứng toàn thân
- Thường nhẹ, nhưng nếu bệnh nặng, có thể sốt, mất nước, nhiễm toan, thậm chí sốc. Hiếm hơn, có khi xuất hiện xuất huyết tiêu hóa trên.
- Dấu hiệu khi khám
- Giai đoạn sớm hoặc ca nhẹ, không thấy dấu hiệu gì đặc biệt. Có thể ấn thấy đau nhẹ ở vùng thượng vị hoặc quanh rốn, âm ruột tăng mạnh. Bệnh thường kéo dài ngắn, có thể tự khỏi sau vài ngày.
- Xét nghiệm cận lâm sàng
- Xét nghiệm máu
- Bạch cầu tăng nhẹ, ESR (tốc độ lắng máu) hơi nhanh.
- Xét nghiệm, nuôi cấy phân
- Kết quả có thể bình thường, hoặc thấy ít bạch cầu/ hồng cầu. Nếu do vi khuẩn gây ra, có thể nuôi cấy tìm thấy vi khuẩn bệnh nguyên.
- Căn cứ chẩn đoán viêm ruột cấp
- Khởi phát cấp tính;
- Tiền sử ăn uống không đảm bảo, hoặc dùng thuốc gây hại niêm mạc dạ dày;
- Triệu chứng nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy;
- Phân xét nghiệm cho thấy chất nhầy, hồng/ bạch cầu; nuôi cấy có thể phát hiện vi khuẩn gây bệnh;
- Bạch cầu máu tăng nhẹ.
- Phân biệt viêm ruột cấp với các bệnh khác
- Nếu có xuất huyết tiêu hóa trên, cần loại trừ loét dạ dày – tá tràng, vỡ giãn tĩnh mạch thực quản…
- Trường hợp đau bụng dữ dội, cần phân biệt thủng loét dạ dày – tá tràng, viêm túi mật cấp, viêm phúc mạc cấp, viêm ruột thừa cấp, hoặc nhồi máu cơ tim không điển hình.
- Nguyên tắc điều trị viêm ruột cấp
- Loại bỏ yếu tố gây bệnh, cho bệnh nhân nghỉ ngơi, ăn đồ dễ tiêu, nhẹ bụng.
- Nếu xác định rõ vi khuẩn, dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ hoặc chọn Hoàng liên tố (黄连素) 0,1–0,2g, PPA 0,5–1,0g, ngày 3–4 lần, đường uống.
- Điều trị triệu chứng
- Đau bụng co thắt dùng atropine.
- Bù dịch khi mất nước, điều chỉnh rối loạn điện giải, toan kiềm. Nếu sốc, điều trị như phác đồ sốc.
- Thuốc thường dùng trong điều trị
- Chống co thắt, giảm đau
- Atropine uống 0,3–0,6 mg, hoặc Prubenzine 15–30 mg, hoặc tiêm bắp Scopolamine 5–10 mg, hoặc tiêm “Anfutong” (安腹痛) 1 ống.
- Kháng khuẩn, tiêu viêm
- Nếu chẩn đoán do vi khuẩn, có thể dùng:
- Hoàng liên tố (黄连素) 0,3 g, ngày 3 lần;
- Hợp chất Sulfamethoxazole-Trimethoprim (复方新诺明) 1–2 viên/lần, ngày 3–4 lần;
- Furoxacin (氟哌酸) 0,1–0,2 g, ngày 3 lần;
- Gentamicin (庆大霉素) 160.000 đơn vị, uống ngày 3–4 lần.
- Nếu nôn mửa dữ dội hoặc mất nước nhiều, cần truyền glucose – muối tĩnh mạch. Trường hợp nhiễm toan, bổ sung dung dịch NaHCO₃ 5%. Xuất huyết tiêu hóa trên thì cần bổ sung dịch hoặc máu, rửa dạ dày bằng nước đá, dùng thuốc ức chế tiết acid.
- Cách tiếp cận của y học cổ truyền đối với viêm ruột cấp
Đông y không có bệnh danh “viêm ruột cấp.” Dựa vào triệu chứng, có thể xếp vào các chứng “ẩu thổ” (nôn), “phúc thống” (đau bụng), “tiết tả” (tiêu chảy), “hoắc loạn,” “Giảo tràng sa,” “thoát chứng” v.v. Nguyên nhân chủ yếu gồm: cảm nhiễm thời khí, ăn uống sai lầm, tinh thần căng thẳng, tạng phủ hư yếu, nhưng mấu chốt vẫn là tỳ vị mất điều hòa, chức năng dạ dày – ruột rối loạn.
- Cảm nhiễm thời tà
- Cuối hạ sang thu, thời tiết nóng ẩm; nếu sinh hoạt, ăn uống không thích hợp, dễ nhiễm “thử thấp” (nóng ẩm); hoặc ngủ phơi sương, bị hàn thấp xâm nhập. Những yếu tố này làm tỳ vị tổn thương, thăng giáng rối loạn, dẫn đến bệnh.
- Ăn uống sai lầm
- Ăn quá nhiều, đồ quá béo ngọt, đồ hỏng, sống lạnh, làm tỳ vị thương tổn, không vận hóa được, sinh thấp trệ, nôn mửa, tiêu chảy.
- Tình chí thất điều
- Người vốn tỳ vị yếu, hoặc sẵn ứ trệ, nay căng thẳng tinh thần, lo âu, tức giận, làm can khí “hoành nghịch” sang tỳ vị, khiến vận hóa rối loạn, sinh bệnh.
- Tỳ vị hư yếu
- Ăn uống mất cân đối lâu ngày, lao lực, bệnh mạn tính… làm tỳ vị suy yếu, không thực hiện được chức năng tiêu hóa, dẫn đến nôn tiêu kéo dài.
- Bệnh cơ trong Đông y
- Tỳ là gốc của hậu thiên, thích khô ghét ẩm, chủ nâng (thăng) khí thanh; vị ưa ẩm ghét khô, chủ giáng trọc. Tỳ vị phối hợp vừa thăng vừa giáng để hoàn thành việc tiêu hóa.
- Vào mùa hè – thu nóng ẩm, thêm việc ăn uống sai lầm, khiến tỳ vị bị tổn thương, mất điều hòa thăng – giáng, trong đục lẫn lộn, gây nôn mửa, tiêu chảy.
- Cách biện chứng luận trị một số thể viêm ruột cấp trong Đông y
- Thể “thấp nhiệt ở vị tràng”
- Triệu chứng: Bộc phát nhanh, buồn nôn, nôn chua, đau bụng quặn, đại tiện gấp, phân vàng nâu hôi, lưỡi rêu vàng nhờn, mạch Hoạt Sác.
- Phân tích bệnh cơ: Thấp nhiệt xâm phạm tỳ vị, khí trọc ngược lên gây nôn, nhiệt sinh tiêu chảy cấp, phân hôi thối. Rêu lưỡi vàng nhầy, mạch Hoạt Sác là biểu hiện của thấp nhiệt.
- Phép trị: Thanh nhiệt hóa thấp, điều lý dạ dày – ruột.
- Bài thuốc tham khảo: “Cát Căn Cầm Liên Thang” gia giảm (Cát căn, Hoàng cầm, Hoàng liên, Kim ngân hoa, Hà diệp, Bạch biển đậu, Cam thảo, Xa tiền tử…).
- Tùy chứng mà gia giảm: nếu đau bụng nhiều, có thể thêm Bạch thược, Mộc hương; Nếu nôn mửa nhiều, dùng bài thuốc “Ngọc Thư Đan” trước; nếu kèm thức ăn ứ trệ, thêm Thần khúc, Mạch nha, Sơn tra để tiêu thực.
- Thể “hàn thấp trở trệ”
- Triệu chứng: Nôn nước trong, tiêu chảy phân loãng như nước, đau bụng quặn, sợ lạnh, phát sốt, đau mình mẩy, lưỡi rêu trắng, mạch Nhu hoặc Phù, là hiện tượng của hàn thấp uẩn trở.
- Phân tích: Do nhiễm lạnh ẩm, tỳ vị bị thương, gây nôn, tiêu chảy. Hàn thấp quấn bên ngoài gây ớn lạnh, sốt, đau nhức người. Lưỡi rêu trắng, mạch Nhu/Phù là dấu hiệu hàn thấp.
- Phép trị: Khử tà hóa trọc, tán hàn trừ thấp.
- Bài thuốc tham khảo: “Hoắc Hương Chính Khí Tán” gia giảm (Hoắc hương, Đại phúc bì, Bạch chỉ, Tử tô, Phục linh, Bán hạ, Bạch truật, Trần bì, Hậu phác…).
- Nếu sợ lạnh, phát sốt, thêm Kinh giới, Phòng phong; Đau đầu, thêm Khương hoạt, Độc hoạt; Nếu có ứ đọng thức ăn qua đêm, bỏ Bạch truật, thêm Lục thần khúc (sao), Kê nội kim…
- Thể “thực tích ở vị tràng”
- Triệu chứng: Buồn nôn, không muốn ăn, đau bụng, tiêu chảy thối khắm, đi xong đỡ đau, lưỡi rêu dày nhờn, mạch Hoạt.
- Phân tích: Ăn quá độ (đặc biệt đồ sống lạnh, hỏng) làm thức ăn ứ lại, cản trở khí cơ, gây nôn, tiêu chảy nặng mùi, sau khi tống bớt thức ăn thì đỡ đau. Lưỡi rêu dày nhờn, mạch Hoạt là điển hình của “thực tích.”
- Phép trị: Hòa vị giáng nghịch, tiêu thực hóa trệ.
- Bài thuốc tham khảo: “Bảo Hòa Hoàn” gia giảm (Sơn tra, Thần khúc, Phục linh, Bán hạ, Trần bì, Liên kiều, Lai phục tử…).
- Nếu thực trệ hóa nhiệt, tiêu chảy không trôi hết, có thể dùng “Chỉ thực Đạo trệ Hoàn.” Nếu nôn do nóng nhiều, thêm Trúc nhự, Đại giả thạch (代赭石).
- Thể “tỳ vị hư yếu”
- Triệu chứng: Vốn tỳ vị yếu, chỉ cần ăn uống không cẩn thận là nôn, tiêu chảy, phân lỏng, lặp đi lặp lại, mặt xanh xao, chân tay yếu, lưỡi nhợt, mạch Nhu.
- Phân tích: Tỳ vị hư, không vận hóa được, dễ nôn và đi tả kéo dài, thiếu khí huyết, mặt nhợt, tứ chi mệt.
- Phép trị: Kiện tỳ bổ khí, hòa vị thấm thấp.
- Bài thuốc tham khảo: “Sâm Linh Bạch Truật Tán” gia giảm (Nhân sâm, Bạch truật, Sơn dược, Phục linh, Biển đậu, Sa nhân, Ý dĩ, Cam thảo…).
- Nếu kèm ứ trệ thức ăn, thêm Kê nội kim, Sơn tra, Thần khúc; nếu đau bụng nhiều, thích ấm, thích ấn, thêm Can khương, Bạch thược; nếu tiêu chảy lâu, sa trực tràng, dùng “Bổ Trung Ích Khí Hoàn.”
- Một số bài thuốc thành phẩm và phương thuốc đơn giản
- Hương Liên Hóa Trệ Hoàn
- Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên, trị thấp nhiệt uất trệ, đau bụng, tiêu chảy, hoặc lỵ, mót rặn. Cũng có thể dùng Gia Vị Hương Liên Hoàn với công dụng tương tự.
- Nếu thể hàn thấp, dùng Hương Sa Dưỡng Vị Hoàn (mỗi lần 6g, ngày 2 lần).
- Nếu do thực tích, dùng Việt Cúc Bảo Hòa Hoàn (mỗi lần 6g, ngày 2 lần).
- Nếu tỳ vị hư yếu, dùng Hương Sa Lục Quân Tử Hoàn (mỗi lần 6g, ngày 2 lần) để bổ tỳ vị.
- Phương thuốc sắc đơn giản
- Thấp nhiệt: Dùng Phục linh 15g, Hoàng liên 6g, Trạch tả 5g, Ý dĩ 15g, Xa tiền tử 15g, Cát căn 15g, Hoạt thạch 15g, Cam thảo 3g… sắc uống.
- Thực tích: Dùng Tam tiên sao (Sơn tra, Thần khúc, Mạch nha) mỗi thứ 10g, Binh lang 10g, Bạch đậu khấu 10g, Lai phục tử 10g, Đan sâm 10g, Bạc hà 6g, Đại phúc bì 10g, Nguyên hồ 9g, sắc uống ngày 1 thang, giúp tiêu thực, hành khí, trị đau bụng, tiêu chảy do thực tích.
- Nguyên tắc và phương pháp điều trị Đông y
- Viêm ruột cấp phần lớn do “thực tà” (tác nhân gây bệnh mạnh) xâm phạm, bộc phát đột ngột. Gốc bệnh ở tỳ bị tổn thương, đọng thấp. Tỳ ưa khô ghét ẩm, vị ưa ẩm ghét khô, một thăng một giáng hỗ trợ nhau. Nếu tỳ không thăng nổi, dịch đục sẽ tràn xuống gây tiêu chảy.
- Chính yếu là “khử tà,” loại bỏ thấp tà. Tùy hàn – nhiệt, biểu – lý, âm – dương, hư – thực để chọn dược phù hợp. Đồng thời lưu ý hỗ trợ tỳ vị.
- Đối với tà thực, sau khi tà lùi, cần bồi bổ chính khí. Một số nguyên tắc dùng thuốc:
- Thuốc thanh nhiệt đắng lạnh, “trúng bệnh thì ngừng,” không nên kéo dài, sợ hại tỳ vị.
- Thuốc lợi thấp, nếu dùng quá nhiều dễ làm hao tổn tân dịch.
- Thuốc cố sáp (cầm, sáp) không dùng sớm, kẻo “khóa” tà khí chưa đẩy hết.
- Thuốc công hạ (tẩy xổ) không lạm dụng, nhất là người suy nhược.
- Sau khi đã cầm tiêu chảy, nên bảo vệ vị khí, như dùng Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo (bài Sâm Truật Linh Thảo). Nếu kèm cả hư khí lẫn âm (khô miệng, lưỡi nứt nẻ, mệt mỏi), có thể dùng “Sinh Mạch Tán” để bổ khí, dưỡng âm.
- Tiên lượng, dự phòng và chăm sóc trong viêm ruột cấp
- Tiên lượng
- Nhìn chung, viêm ruột cấp tiến triển tốt. Ví dụ, nhiễm Salmonella gây viêm dạ dày – ruột thường khiến cơ thể phản ứng mạnh, tống vi khuẩn ra ngoài, nên nhiễm độc ít nghiêm trọng; đa số bệnh nhân tự hồi phục trong thời gian ngắn.
- Ở người đề kháng kém, mắc bệnh mạn tính hoặc đang dùng corticoid, thuốc ức chế miễn dịch…, vi khuẩn có thể xâm nhập vào máu gây nhiễm khuẩn huyết, nguy hiểm hơn.
- Trường hợp tiêu chảy ồ ạt, cần bổ sung dịch kịp thời, điều chỉnh điện giải, nhất là người già, trẻ em.
- Phòng bệnh
- Tăng cường giáo dục vệ sinh, không ăn thịt động vật ốm/chết. Thịt, gia cầm, trứng phải được nấu chín kỹ.
- Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, không bày bán thực phẩm ôi thiu, nhiễm khuẩn Salmonella.
- Giữ gìn vệ sinh bếp, tuân thủ quy định xử lý thực phẩm, tránh ô nhiễm chéo. Bảo đảm nguồn nước sạch, khử trùng nước uống.
- Chăm sóc sức khỏe
- Thường xuyên rèn luyện cơ thể, nâng cao thể trạng, giúp tỳ vị vững, ít bị tà xâm nhập.
- Giữ tâm lý thoải mái, duy trì cân bằng chức năng tiêu hóa.
- Ăn uống điều độ, hỗ trợ quá trình hấp thu.
- Sinh hoạt nề nếp, tránh lạnh, gió đột ngột. Bảo đảm “âm dương ổn hòa, tinh thần thư thái.”
- Tiêu chuẩn khỏi bệnh
- Triệu chứng, dấu hiệu biến mất
- Hết đau bụng, hết nôn, phân bình thường.
- Các chỉ số xét nghiệm phục hồi
- Nếu trước đó nôn mửa nặng hoặc mất nước, nhiễm toan, sau điều trị đã được điều chỉnh, xét nghiệm phân và máu trở về bình thường.
Ly Trường Xuân dịch