Viêm mũi teo
Những tài liệu tham khảo:
Viêm mũi teo là gì?
Viêm mũi teo là một bệnh về mũi phát triển chậm, đặc trưng bởi teo niêm mạc mũi, giảm khứu giác hoặc mất khứu giác, có nhiều vảy trong khoang mũi, teo màng xương và xương trong trường hợp nặng. Sự biến đổi teo niêm mạc có thể phát triển xuống vùng mũi họng, hầu họng, hạ họng… nên có người cho rằng bệnh này là biểu hiện ở mũi của các bệnh toàn thân. Hầu hết bệnh nhân mắc bệnh này là phụ nữ trẻ. Do sự xuất hiện của bệnh có liên quan mật thiết đến yếu tố dinh dưỡng nên bệnh ngày càng hiếm gặp ở các nước phát triển, tỷ lệ mắc bệnh còn cao ở các nước đang phát triển.
Nguyên nhân của viêm mũi teo là gì?
Nguyên nhân của viêm mũi teo có thể được chia thành nguyên phát và kế phát. Nguyên nhân chính vẫn chưa rõ ràng. Quan điểm truyền thống cho rằng sự xuất hiện của bệnh này có liên quan đến rối loạn nội tiết, rối loạn thần kinh thực vật, nhiễm vi khuẩn (Bacillus odorifera, bạch hầu, v.v.), suy dinh dưỡng (thiếu vitamin A, B2, D, E), yếu tố di truyền, hàm lượng cholesterol trong máu thấp v.v.
Những năm gần đây, người ta nhận thấy bệnh có liên quan đến việc thiếu hoặc mất cân bằng các nguyên tố vi lượng. Các nghiên cứu về miễn dịch học đã phát hiện ra rằng hầu hết bệnh nhân mắc bệnh này đều bị rối loạn chức năng miễn dịch, chẳng hạn như các kháng thể tự miễn như kết tủa và lectin hiệu giá cao được hình thành chống lại các kháng nguyên niêm mạc mũi trong huyết thanh của bệnh nhân, xét nghiệm Mai khôi hoa cho thấy tế bào lympho T bị giảm và nghiên cứu mô hóa học cho thấy hàm lượng lactate dehydrogenase trong niêm mạc mũi giảm nên có ý kiến cho rằng bệnh có thể là bệnh tự miễn.
Nguyên nhân thứ phát rõ ràng, bao gồm: Viêm mũi mãn tính, viêm xoang mãn tính, kích thích tiết mủ lâu dài; Kích thích lâu dài bụi và khí có hại nồng độ cao; Tổn thương niêm mạc mũi rộng rãi do phẫu thuật mũi nhiều lần hoặc không phù hợp; Đặc biệt các bệnh truyền nhiễm như bệnh lao, giang mai và bệnh ma phong làm tổn thương niêm mạc mũi.
Các triệu chứng chính của viêm mũi teo là gì?
Các triệu chứng chính của viêm mũi teo là:
(1) Khô mũi, họng: Chủ yếu do teo tuyến, giảm bài tiết và thở bằng miệng lâu ngày.
(2) Nghẹt mũi: Là do trong hốc mũi có nhiều vảy mủ làm bít tắc đường mũi, ngoài ra niêm mạc mũi bị teo dây thần kinh cảm giác, cảm giác đờ đẫn nên dễ nhầm là ngạt mũi.
(3) Bệnh nhân cảm thấy khoang mũi rộng và thông khí quá độ.
(4) Chảy máu mũi: do niêm mạc mũi bị teo, mỏng và khô, hoặc tổn thương mao mạch do ngoáy mũi, xì mạnh.
(5) Khứu giác suy giảm: Do teo niêm mạc liên quan đến niêm mạc vùng khứu giác, hoặc tắc nghẽn đường mũi do vảy mủ.
(6) Mũi có mùi hôi: Triệu chứng này có ở những trường hợp bệnh tiến triển nặng, nguyên nhân là do protein trong vảy mủ bị phân hủy gây nên, nên bệnh này còn được gọi là “Xú tỵ chứng” (臭鼻症) chứng mũi hôi, mùi hôi này rất rõ rệt trong thời kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ.
(7) Đau đầu chóng mặt: nhất là vùng trán, thái dương, sau chẩm. Nó được gây ra bởi sự teo niêm mạc mũi và cuốn mũi, mất chức năng điều chỉnh nhiệt độ và giữ ẩm, đồng thời hít phải không khí lạnh hoặc vảy mủ.
Viêm mũi teo thuộc danh mục “Tỵ cảo” (鼻槁) khô mũi trong y học cổ truyền. Trong đó nội dung biện chứng luận trị là:
I/ Phế thận âm hư: Mũi khô rát, khứu giác giảm, niêm mạc mũi teo, cuốn mũi co rút, hốc mũi rộng, nhiều vảy vàng xanh, hoặc chảy máu cam lượng ít, thường kèm theo yết hầu ho khan ngứa ngáy, ngũ tâm phiền nóng (ngũ tâm= Lòng bàn tay, bàn chân và ngực), tiếng nói yếu ớt; Chất lưỡi hồng, ít rêu, mạch tế sác là hội chứng của phế thận âm hư.
Trị pháp: Tư dưỡng phế thận, nhuận táo thông khiếu.
Xử phương: Bách hợp cố kim thang gia giảm: Sinh địa hoàng 20g, Thục địa hoàng 20g, Mạch môn 15g, Bạch thược 15g, Huyền sâm 10g, Đương quy 10g, Bách hợp 10g, Xuyên bối mẫu 10g, Cát cánh 6g, Cam thảo 6g. Nếu niêm mạc mũi teo nghiêm trọng, thêm Thiên môn, Hoàng tinh, A giao.
II/ Tỳ hư thấp uẩn: Mũi khô và có mùi hôi, trong khoang mũi để lại vảy tiết, sắc vàng có màu xanh, khứu giác giảm hoặc mất khứu giác. Tỵ giáp (Turbinate) teo nhiều hơn. Thường kèm theo chóng mặt, nhức đầu, mệt mỏi, ăn không ngon, chất lưỡi nhạt, mạch hoãn nhược.
Trị pháp: Kiện tỳ ích khí, hoá thấp khai khiếu.
Xử phương: Sâm linh bạch truật tán gia vị. Đảng sâm 15g, Sơn dược 12g, Bạch truật 12g, Phục linh 15g, Ý rĩ 15g, Sa nhân 10g, Trần bì 10g, Cát cánh 10g. Huyết hư gia Thục địa 15g, Đương quy 12g, Bạch thược 12g, Xuyên khung 12g.
III/ Âm hư phế táo: Mũi khô không có nước mũi, khứu giác giảm thoái, niêm mạc mũi màu hồng và khô, teo nhẹ, rướm máu, tỵ giáp teo nhỏ, ngứa họng, ho khan ít đàm; Chất lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Trị pháp: Dưỡng âm nhuận phế, nhuận táo vinh tỵ.
Xử phương: Thang Dưỡng âm thanh phế gia giảm. Thành phần: Sinh địa hoàng 15g, Mạch môn 15g, Huyền sâm 12g, Sa sâm 15g, Bạch thược 12g, Đan bì 12g, Xuyên bối mẫu 12g, chích Cam thảo 6g. Dễ chảy máu mũi gia Bạch mao căn 15g.
IV/ Âm hư ứ trở: Mũi khô, nghẹt mũi, niêm mạc mũi teo cực độ, điều trị nhiều lần không khỏi, mất khứu giác; Chất lưỡi đỏ sẫm có đốm xuất huyết, ít rêu, mạch tế sáp.
Trị pháp: Tư âm dưỡng huyết, khứ ứ sinh tân.
Xử phương: Quy thược Hồng hoa tán gia giảm: Sinh địa hoàng 15g, Thục địa hoàng 15g Sơn dược 12g, Kỷ quả (kỷ tử) 12g, Đào nhân 12g, Hồng hoa 10g, Xích thược 12g, Đương quy 15g, Đan sâm 15g, Cam thảo 6g.
Nếu vảy mũi tích tụ nhiều gây hôi, gia Xa tiền tử 15g, Phục linh 15g. Thuốc dùng bên ngoài có thể dùng “Tỵ viêm linh” (鼻炎灵) nhỏ mũi để nhuận cơ trị teo, lợi mũi thông khiếu. (Thành phần của Tỵ viêm linh: Thương nhĩ tử, Bạch chỉ, Tân di mỗi vị 60g, bột Băng phiến 6g, Bạc hà sương 5g, Chi ma du 500ml, parafin lỏng 1000ml. Phép chế: Cho Thương, Chỉ, Tân, du cho vào nồi, ngâm 24 giờ , đun nóng, khi thuốc chuyển sang màu vàng đen thì lấy ra, thêm Băng phiến, kem bạc hà, paraffin lỏng, khuấy đều, để nguội rồi lọc, cho vào lọ dùng dần.Cách dùng: nhỏ mũi, mỗi lần 2 giọt, ngày 2 lần. Tác dụng: Thanh nhiệt tiêu sưng, hương thơm thông mũi. Thích hợp cho các chứng nghẹt mũi, hoặc khô teo, nghẹt mũi, sổ mũi, khứu giác kém…).
Ly Nguyễn Nghị
16/8/23