Khái quát
Viêm miệng mụn rộp là bệnh viêm loét niêm mạc miệng do virus Herpes simplex gây ra, thường gặp nhất là Herpes simplex virus type 1, viết tắt là HSV-1.
Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ trong lần nhiễm virus đầu tiên, nhưng người trưởng thành cũng có thể mắc. Biểu hiện thường bắt đầu bằng sốt, mệt mỏi, đau miệng, lợi sưng đỏ, sau đó xuất hiện nhiều mụn nước nhỏ ở môi, lợi, lưỡi, mặt trong má, vòm miệng hoặc họng. Mụn nước nhanh chóng vỡ thành những vết trợt loét nông, đau rát, khiến trẻ bú kém, bỏ ăn hoặc không chịu uống nước.
Sau lần nhiễm đầu tiên, virus có thể tồn tại tiềm ẩn trong các hạch thần kinh. Khi cơ thể mệt mỏi, sốt, thiếu ngủ, căng thẳng, tiếp xúc nắng mạnh hoặc sức đề kháng suy giảm, virus có thể tái hoạt và gây mụn rộp môi.
Trong Trung y, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi các chứng Khẩu sang, Thần sang, Nha ngân thũng thống hoặc Ôn độc phạm khẩu. Bệnh cơ thường liên quan đến phong nhiệt độc xâm phạm, Tâm Tỳ tích nhiệt, Vị hỏa thượng viêm, thấp nhiệt uẩn kết hoặc nhiệt độc nhập lý. Sau giai đoạn cấp, người bệnh có thể chuyển sang Vị âm bất túc, khí âm lưỡng hư hoặc Tỳ Vị hư nhược.
Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi
Nhiễm virus Herpes simplex
HSV-1 là nguyên nhân chủ yếu gây viêm miệng mụn rộp và mụn rộp môi. HSV-2 cũng có thể gây tổn thương ở miệng nhưng ít gặp hơn.
Lần nhiễm đầu tiên
Trẻ nhỏ chưa có miễn dịch với virus nên lần nhiễm đầu thường biểu hiện rõ hơn, có thể sốt cao, lợi sưng đỏ, loét miệng nhiều và đau rát.
Sức đề kháng suy giảm
Mệt mỏi, thiếu ngủ, căng thẳng kéo dài, bệnh mạn tính, suy dinh dưỡng, dùng corticosteroid, hóa trị hoặc thuốc ức chế miễn dịch có thể làm bệnh nặng hơn hoặc dễ tái phát.
Các yếu tố kích phát tái phát
Nắng mạnh, gió lạnh, nứt môi, sang chấn tại chỗ, thủ thuật nha khoa, kinh nguyệt, sốt, lao lực và căng thẳng tinh thần có thể làm mụn rộp môi tái phát.
Vệ sinh răng miệng không tốt
Vệ sinh miệng kém không phải nguyên nhân trực tiếp gây bệnh, nhưng có thể làm lợi viêm nhiều hơn, vết loét chậm lành và tăng nguy cơ bội nhiễm.
Khả năng lây truyền
Virus Herpes simplex có thể lây qua nước bọt, hôn, dùng chung ly, muỗng, khăn, bàn chải, son môi hoặc đồ chơi có dính nước bọt.
Khả năng lây thường cao hơn khi đang có mụn nước, vết loét hoặc mụn rộp môi. Tuy nhiên, virus vẫn có thể được thải ra khi người mang virus không có triệu chứng rõ rệt.
Người đang có mụn rộp môi không nên hôn trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh; không dùng chung đồ ăn uống và cần rửa tay sau khi chạm vào vùng tổn thương.
Biểu hiện lâm sàng
Sốt và mệt mỏi
Trẻ thường sốt trước hoặc cùng thời điểm xuất hiện tổn thương trong miệng. Có thể kèm đau đầu, đau họng, mệt mỏi hoặc đau cơ.
Lợi sưng đỏ
Lợi đỏ, sưng, đau và dễ chảy máu là biểu hiện khá điển hình của viêm lợi miệng do Herpes nguyên phát.
Mụn nước và vết loét
Ban đầu xuất hiện những mụn nước nhỏ, thành mỏng, chứa dịch trong. Mụn nước nhanh chóng vỡ thành các vết trợt hoặc loét nông, hình dạng không đều, trên bề mặt có thể phủ lớp giả mạc trắng hoặc vàng nhạt.
Tổn thương có thể xuất hiện ở môi, lợi, lưỡi, niêm mạc má, vòm miệng và họng.
Đau miệng, bỏ ăn hoặc bỏ bú
Vết loét đau rát làm trẻ không muốn bú, ăn hoặc uống. Đây là nguyên nhân chính khiến trẻ có nguy cơ mất nước.
Chảy nước dãi
Trẻ nhỏ đau khi nuốt nên thường chảy nhiều nước dãi.
Hôi miệng
Miệng có thể có mùi do viêm lợi, loét niêm mạc, nước bọt ứ đọng và khó vệ sinh.
Hạch dưới hàm hoặc hạch cổ
Một số người bệnh có thể nổi hạch dưới hàm hoặc cổ, ấn đau nhẹ.
Mụn rộp môi tái phát
Trước khi mụn xuất hiện, người bệnh thường cảm thấy ngứa, rát, căng hoặc châm chích tại một vùng môi. Sau đó hình thành một cụm mụn nước nhỏ, nhanh chóng vỡ, trợt, đóng vảy và lành dần mà thường không để lại sẹo.
Phân biệt với các bệnh khác
Tưa miệng
Tưa miệng do nấm Candida thường có những mảng trắng giống sữa đông, bám trên lưỡi và niêm mạc má. Khi lau ra có thể để lại nền đỏ đau.
Viêm miệng mụn rộp thường có sốt, lợi sưng đỏ, nhiều mụn nước và vết loét đau.
Loét áp-tơ
Loét áp-tơ thường chỉ có một hoặc vài vết loét tròn, đáy trắng vàng, bờ đỏ. Bệnh không có giai đoạn mụn nước, không gây viêm lợi lan tỏa và thường không sốt cao.
Bệnh tay chân miệng
Bệnh tay chân miệng thường có loét miệng kèm ban hoặc mụn nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông hoặc đầu gối.
Viêm họng mụn nước
Viêm họng mụn nước thường do virus đường ruột, tổn thương tập trung nhiều ở vòm khẩu mềm, trụ amidan và thành sau họng, ít gây viêm lợi lan tỏa.
Thủy đậu
Thủy đậu gây nhiều mụn nước ở da toàn thân, các tổn thương xuất hiện ở nhiều giai đoạn khác nhau và có thể kèm tổn thương trong miệng.
Phản ứng thuốc và bệnh miễn dịch
Nếu loét miệng lan rộng, kèm tổn thương mắt, da hoặc bộ phận sinh dục, cần nghĩ đến phản ứng thuốc hoặc bệnh miễn dịch và phải được khám sớm.
Chẩn đoán
Phần lớn trường hợp được chẩn đoán dựa vào biểu hiện lâm sàng như sốt, lợi sưng đỏ, nhiều mụn nước hoặc vết loét đau và tổn thương môi.
Bác sĩ sẽ đánh giá khả năng uống nước, tình trạng mất nước, mức độ đau, bệnh nền và tình trạng miễn dịch.
Khi bệnh không điển hình, tái phát nhiều lần, diễn biến nặng hoặc người bệnh suy giảm miễn dịch, có thể cần lấy mẫu tổn thương để xét nghiệm virus.
Biện chứng luận trị
Phong nhiệt độc phạm miệng
Biểu hiện
Bệnh khởi phát nhanh, sốt, sợ gió nhẹ, đau miệng, môi hoặc niêm mạc xuất hiện mụn nước nhỏ, nhanh vỡ thành vết loét; họng đỏ, khát nhẹ, trẻ quấy khóc. Lưỡi đỏ nhạt, rêu mỏng vàng; mạch Phù Sác.
Bệnh cơ
Phong nhiệt độc từ ngoài xâm nhập, phạm vào miệng môi và niêm mạc, làm khí huyết uất trệ và nhiệt độc hun đốt.
Phép trị
Sơ phong thanh nhiệt, giải độc tiêu sang.
Phương thang
Ngân kiều tán gia giảm.
Có thể phối hợp Kim ngân hoa, Liên kiều, Kinh giới, Bạc hà, Ngưu bàng tử, Cát cánh, Trúc diệp, Lô căn và Cam thảo.
Miệng loét đau rõ có thể gia Huyền sâm, Mạch môn và Mẫu đơn bì.
Sốt cao có thể gia Hoàng cầm và Chi tử.
Tâm Tỳ tích nhiệt
Biểu hiện
Miệng lưỡi loét nhiều, lợi đỏ sưng, đau rát; trẻ quấy khóc, ngủ không yên; miệng hôi, tiểu tiện vàng, đại tiện táo. Lưỡi đỏ, đầu lưỡi đỏ hơn, rêu vàng mỏng; mạch Sác.
Bệnh cơ
Tâm khai khiếu ra lưỡi, Tỳ khai khiếu ra miệng. Tâm Tỳ tích nhiệt, nhiệt độc bốc lên miệng lưỡi, làm lợi sưng và niêm mạc loét đau.
Phép trị
Thanh Tâm tả Tỳ, giải độc tiêu sang.
Phương thang
Đạo xích tán hợp Tả hoàng tán gia giảm.
Có thể phối hợp Sinh địa, Mộc thông, Trúc diệp, Thạch cao, Chi tử, Hoắc hương, Phòng phong, Hoàng liên và Cam thảo.
Loét đau nhiều có thể gia Kim ngân hoa, Liên kiều và Huyền sâm.
Trẻ nhỏ cần được người có chuyên môn điều chỉnh liều lượng, không tự dùng các vị thuốc đắng lạnh mạnh.
Vị hỏa thượng viêm
Biểu hiện
Miệng loét đau, lợi sưng đỏ, hơi thở hôi, môi đỏ, khát nước, thích uống mát, đại tiện táo, tiểu tiện vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng; mạch Hồng Sác hoặc Sác.
Bệnh cơ
Vị hỏa thịnh, theo kinh bốc lên miệng và lợi, nung đốt niêm mạc, làm lợi sưng và loét đau.
Phép trị
Thanh Vị tả hỏa, lương huyết tiêu thũng.
Phương thang
Thanh vị tán gia giảm.
Có thể phối hợp Sinh địa, Mẫu đơn bì, Hoàng liên, Thạch cao, Tri mẫu, Thăng ma và Cam thảo.
Miệng khô, loét đau có thể gia Huyền sâm và Mạch môn.
Lợi sưng rõ có thể gia Kim ngân hoa, Liên kiều và Bồ công anh.
Thấp nhiệt uẩn kết
Biểu hiện
Vết loét kéo dài, miệng nhớt, hơi thở hôi, nước bọt dính, ăn kém, bụng đầy, đại tiện dính hoặc không đều, tiểu tiện vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy; mạch Hoạt Sác.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp trọc đình tụ, thấp lâu hóa nhiệt và uẩn kết ở miệng.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, giải độc hòa Vị.
Phương thang
Cam lộ tiêu độc đan gia giảm.
Có thể phối hợp Hoạt thạch, Nhân trần, Hoàng cầm, Thạch xương bồ, Bạch đậu khấu, Hoắc hương, Mộc thông, Liên kiều và Cam thảo.
Miệng nhớt, rêu nhầy rõ có thể gia Bội lan và Trần bì.
Ăn kém, bụng đầy có thể gia Sa nhân và Kê nội kim.
Nhiệt độc nhập lý
Biểu hiện
Sốt cao, miệng loét nhiều, lợi sưng đỏ, đau rát dữ dội, môi có nhiều mụn nước, khát nước, bứt rứt, ngủ không yên, có thể nổi hạch cổ. Lưỡi đỏ, rêu vàng; mạch Sác.
Bệnh cơ
Nhiệt độc thịnh, từ biểu nhập lý, hun đốt khí huyết và niêm mạc miệng, đồng thời làm hao thương tân dịch.
Phép trị
Thanh nhiệt giải độc, lương huyết hộ tân.
Phương thang
Ngũ vị tiêu độc ẩm hợp Thanh doanh thang gia giảm.
Có thể phối hợp Kim ngân hoa, Bồ công anh, Tử hoa địa đinh, Dã cúc hoa, Sinh địa, Huyền sâm, Mạch môn, Trúc diệp, Liên kiều và Cam thảo.
Đây là thể bệnh tương đối nặng. Nếu trẻ sốt cao, không uống được, tiểu ít, lừ đừ hoặc người bệnh suy giảm miễn dịch, cần được khám và điều trị y tế, không nên tự dùng thuốc tại nhà.
Âm hư hỏa vượng
Biểu hiện
Mụn rộp môi hoặc loét miệng tái phát nhiều lần; miệng họng khô, rát nhẹ, lòng bàn tay bàn chân nóng, mất ngủ, có thể ra mồ hôi đêm. Lưỡi đỏ, ít rêu; mạch Tế Sác.
Bệnh cơ
Âm dịch hư, hư hỏa bốc lên miệng môi, niêm mạc mất sự nhu dưỡng nên dễ tái phát.
Phép trị
Tư Âm giáng hỏa, sinh tân nhuận táo.
Phương thang
Tri bá địa hoàng hoàn hợp Tăng dịch thang gia giảm.
Có thể phối hợp Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Mẫu đơn bì, Tri mẫu, Hoàng bá, Huyền sâm, Mạch môn và Sinh địa.
Mất ngủ có thể gia Toan táo nhân và Dạ giao đằng.
Khí âm lưỡng hư sau bệnh
Biểu hiện
Sau khi sốt và loét miệng đã giảm, người bệnh vẫn còn mệt, ăn kém, miệng khô, vết loét lâu lành, ra mồ hôi, ngủ kém. Lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu; mạch Tế Nhược.
Bệnh cơ
Nhiệt độc và sốt làm hao khí thương âm. Khí hư khiến người mệt, ăn kém và tổn thương chậm lành; Âm hư làm miệng khô và rát.
Phép trị
Ích khí dưỡng Âm, sinh tân, kiện Tỳ phục hồi.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Ích vị thang gia giảm.
Có thể phối hợp Đảng sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Sa sâm, Sinh địa, Ngọc trúc, Thạch hộc, Sơn dược và Cam thảo.
Tỳ Vị hư nhược
Biểu hiện
Bệnh dễ tái phát; người mệt, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng hoặc phân nát, sắc mặt nhợt. Lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng hoặc hơi nhầy; mạch Nhu Nhược.
Bệnh cơ
Tỳ Vị hư yếu, khí huyết sinh hóa không đầy đủ, chính khí suy nên niêm mạc miệng dễ tổn thương và virus dễ tái hoạt khi cơ thể mệt mỏi.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa thấp nhẹ, nâng đỡ chính khí.
Phương thang
Tham linh bạch truật tán gia giảm.
Có thể phối hợp Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược, Liên tử, Bạch biển đậu, Ý dĩ nhân, Sa nhân, Trần bì và Cam thảo.
Điều trị theo y học hiện đại
Giảm đau và hạ sốt
Có thể dùng thuốc giảm đau, hạ sốt phù hợp với tuổi và cân nặng theo hướng dẫn chuyên môn.
Không dùng aspirin cho trẻ em.
Bù nước
Đây là trọng điểm chăm sóc, nhất là ở trẻ nhỏ. Nên cho trẻ uống từng ngụm nhỏ, nhiều lần. Có thể dùng nước mát, sữa hoặc dung dịch bù nước đường uống phù hợp.
Nếu trẻ không thể uống, tiểu ít, môi khô, mắt trũng hoặc lừ đừ, cần đi khám ngay.
Thuốc kháng virus
Thuốc kháng virus có thể được bác sĩ chỉ định trong một số trường hợp như bệnh nặng, đau nhiều, nguy cơ mất nước, đến khám sớm trong những ngày đầu hoặc người bệnh suy giảm miễn dịch.
Không nên tự mua và sử dụng thuốc kháng virus vì liều lượng phụ thuộc vào tuổi, cân nặng, chức năng thận và tình trạng bệnh.
Kháng sinh
Kháng sinh không có tác dụng đối với virus Herpes. Chỉ dùng khi bác sĩ xác định có bội nhiễm vi khuẩn.
Không tự sử dụng corticosteroid
Corticosteroid có thể làm nhiễm virus lan rộng hoặc nặng hơn trong một số tình huống. Không tự bôi hoặc uống corticosteroid khi chưa có chẩn đoán rõ ràng.
Chăm sóc miệng
Giữ vệ sinh miệng nhẹ nhàng.
Có thể súc miệng bằng nước muối sinh lý ở người lớn hoặc trẻ đã biết súc và nhổ ra.
Không dùng nước muối quá mặn vì làm vết loét đau hơn.
Không chọc vỡ mụn nước và không cạy vảy ở môi.
Không bôi chanh, tỏi, muối hạt, rượu thuốc, tinh dầu đậm đặc hoặc thuốc sát khuẩn mạnh vào vết loét.
Không dùng thuốc gây tê tại chỗ cho trẻ nhỏ khi chưa được hướng dẫn, vì có thể gây tê họng, khó nuốt hoặc sặc.
Có thể chườm mát vùng môi bằng khăn sạch để giảm rát.
Điều dưỡng ăn uống
Khi miệng đau, nên ăn thức mềm, nguội hoặc ấm vừa, dễ nuốt.
Có thể dùng cháo loãng, súp, sữa và các thức ăn mềm không quá chua.
Tránh thức ăn cay, nóng, chua, mặn, cứng và nước có gas.
Không ép trẻ ăn nhiều khi đang đau. Trọng điểm trước hết là bảo đảm trẻ uống đủ nước.
Uống từng ngụm nhỏ và nhiều lần thường dễ chịu hơn uống nhiều cùng lúc.
Phòng lây nhiễm và tái phát
Không hôn trẻ khi đang có mụn rộp môi.
Không dùng chung ly, muỗng, khăn mặt, son môi, bàn chải răng hoặc đồ dùng cá nhân.
Rửa tay sau khi chạm vào vùng môi hoặc bôi thuốc.
Không chạm tay vào mụn rộp rồi dụi mắt.
Giữ môi không bị nứt nẻ và bảo vệ môi khi tiếp xúc nắng mạnh nếu đây là yếu tố thường gây tái phát.
Ngủ đủ, ăn uống điều độ và giảm căng thẳng.
Điều trị tốt bệnh nền và không tự dùng corticosteroid hoặc thuốc ức chế miễn dịch.
Chú ý
Cần đưa trẻ đi khám hoặc cấp cứu khi có một trong những biểu hiện sau:
Trẻ không uống được hoặc chỉ uống rất ít.
Tiểu ít, môi khô, mắt trũng hoặc lừ đừ.
Sốt cao kéo dài.
Trẻ dưới ba tháng tuổi bị sốt.
Co giật, cổ cứng, đau đầu nhiều hoặc nôn nhiều.
Mụn nước xuất hiện quanh mắt.
Đỏ mắt, đau mắt hoặc nhìn mờ.
Khó thở hoặc nuốt khó.
Tổn thương lan rộng hoặc có dấu hiệu nhiễm trùng nặng.
Người lớn cần đi khám sớm nếu bệnh xảy ra trong tình trạng suy giảm miễn dịch, loét lan rộng, sốt kéo dài, đau khi nuốt, nuốt nghẹn, sụt cân hoặc tổn thương tái phát quá nhiều lần.
Nói tóm lại
Viêm miệng mụn rộp là bệnh viêm loét miệng do virus Herpes simplex, thường là HSV-1. Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ trong lần nhiễm đầu tiên, gây sốt, lợi sưng đỏ, nhiều mụn nước và vết loét đau, khiến trẻ dễ bỏ ăn và mất nước.
Theo Trung y, bệnh thường liên quan đến phong nhiệt độc, Tâm Tỳ tích nhiệt, Vị hỏa thượng viêm, thấp nhiệt uẩn kết hoặc nhiệt độc nhập lý. Sau giai đoạn cấp, có thể xuất hiện Âm hư, khí âm lưỡng hư hoặc Tỳ Vị hư nhược. Việc điều trị cần tùy theo từng giai đoạn và thể bệnh, không nên dùng một phương cố định.
Chăm sóc giảm đau, bù nước và giữ vệ sinh miệng là nền tảng. Thuốc kháng virus chỉ sử dụng khi có chỉ định. Khi trẻ không uống được, có dấu hiệu mất nước, tổn thương quanh mắt hoặc người bệnh suy giảm miễn dịch, cần được khám và điều trị kịp thời.
Trường Xuân biên soạn