Viêm loét kết tràng mạn tính
Tài liệu tham khảo:
Viêm loét đại tràng mạn tính không đặc hiệu, gọi tắt là bệnh viêm loét kết tràng, là bệnh viêm nhiễm trực tràng, kết tràng không rõ nguyên nhân. Mặc dù cơ chế bệnh của bệnh này chưa được hiểu biết đầy đủ, nhưng nó thường được cho là có liên quan đến các yếu tố như miễn dịch, thần kinh tâm thần, dị ứng, di truyền và nhiễm trùng không đặc hiệu. Bệnh có thể được chia thành ba loại: nhẹ, nặng và loại hình bạo phát.
Những điểm chính của tự chẩn đoán
Ngoại trừ một số bệnh nhân khởi phát đột ngột, còn lại nhìn chung khởi phát chậm, mức độ nặng nhẹ khác nhau. Triệu chứng chủ yếu là tiêu chảy, trong phân có lẫn máu, mủ và chất nhầy thải ra ngoài, thường kèm theo đau co thắt đại tràng kịch phát, mót rặn, đại tiện xong các chứng trạng có thể thuyên giảm.
Bệnh nhân nhẹ có các triệu chứng tương đối nhẹ, tiêu chảy dưới 5 lần một ngày.
Tiêu chảy nặng hàng ngày trên 5 lần, phân toàn nước hoặc có máu, đau bụng dữ dội kèm theo các triệu chứng sốt, nhiệt độ có thể vượt quá 38,5°C và nhịp tim lớn hơn 90 nhịp/phút.
Bạo phát là rất hiếm. Bệnh khởi phát đột ngột, diễn biến nhanh, tiêu chảy số lượng nhiều, trong phân thường có máu. Nhiệt độ cơ thể có thể tăng lên tới 40°C và các triệu chứng ngộ độc toàn thân có thể xuất hiện trong những trường hợp nghiêm trọng. Nếu để lâu bệnh không khỏi có thể bị sút cân, thiếu máu, rối loạn dinh dưỡng, suy nhược. Một số bệnh nhân có các biểu hiện ngoài ruột, chẳng hạn như ban đỏ kết tiết (cục u), viêm mống mắt, viêm gan mạn tính hoạt động và viêm quanh các ống mật nhỏ.
Kiến nghị điều trị
Đối với những bệnh nhân ở tình trạng bạo phát và nghiêm trọng, không nên điều trị tại nhà mà nên đưa họ đến bệnh viện gần đó để điều trị càng sớm càng tốt. Các bác sĩ thường áp dụng các biện pháp điều trị chống nhiễm trùng bằng thuốc, đối với những trường hợp điều trị nội khoa không hiệu quả sẽ được cân nhắc điều trị ngoại khoa.
Đối với bệnh nhân nhẹ, nên dùng phương pháp điều trị bằng y học cổ truyền Trung Quốc và điều chỉnh theo hướng dẫn của bác sĩ có kinh nghiệm dựa trên sự khác biệt của hội chứng. Các loại thành dược hiện có của Trung Quốc là:
I/ Nếu thuộc loại thấp nhiệt thì nên loại bỏ thấp nhiệt. Bạn có thể uống thuốc Hương liên hoàn, Hương liên hoá trệ hoàn, Cát căn cầm liên phiến, v.v.
II/ Đối với loại hình can vượng tỳ hư, nên ức chế gan, hỗ trợ tỳ. Bạn có thể uống Mậu kỷ hoàn, Tiêu dao hoàn, v.v.
III/ Đối với những người tỳ vị hư nhược, nên bồi bổ tỳ vị. Bạn có thể uống Sâm linh bạch truật hoàn, Nhân sâm kiện tỳ hoàn, Khải tỳ hoàn, Bổ tỳ ích tràng hoàn, v.v.
IV/ Đối với tỳ thận dương hư, nên ôn bổ tỳ thận. Bạn có thể uống thuốc Tứ thần hoàn, Tỳ thận song bổ hoàn, Phụ tử lý trung hoàn, v.v.
Các biện pháp phòng ngừa
1. Chú ý làm việc và nghỉ ngơi kết hợp, không làm việc quá sức, bệnh nhân thể nặng, thể cấp, thể mạn tính nặng nên nằm trên giường nghỉ ngơi.
2. Chú ý trang phục, giữ cơ thể ấm lạnh thích hợp; vận động thể dục thể thao phù hợp để nâng cao thể lực.
3. Nói chung, bạn nên ăn thức ăn mềm, dễ tiêu hóa, bổ dưỡng và đủ calo. Nên ăn nhiều bữa nhỏ và bổ sung vitamin tổng hợp. Không ăn thức ăn sống, lạnh, nhiều dầu mỡ và nhiều xenlulô;
4. Chú ý vệ sinh ăn uống để tránh nhiễm trùng đường ruột gây hoặc làm nặng thêm bệnh. Tránh uống rượu và thuốc lá, thức ăn cay, sữa và các sản phẩm từ sữa.
5. Thông thường để duy trì tâm trạng thoải mái, tránh kích thích tinh thần, giải tỏa các loại căng thẳng tinh thần.
Viêm loét kết tràng tên đầy đủ là viêm loét kết tràng mạn tính không đặc hiệu, tổn thương chủ yếu giới hạn ở niêm mạc kết tràng và trực tràng nên còn được gọi là “Đặc phát tính trực tràng kết tràng viêm” (特发性直肠结肠炎) viêm trực, kết tràng đặc phát. Nguyên nhân gây bệnh có liên quan đến yếu tố tự miễn dịch và yếu tố di truyền, yếu tố gây bệnh là nhiễm trùng đường ruột và yếu tố tinh thần.
Các triệu chứng chính là tiêu chảy, có mủ và máu trong phân, đau bụng và mót rặn (lý cấp hậu trọng). Tiêu chảy lúc đầu khởi phát không rõ ràng, có chất nhầy dính trên bề mặt phân, sau đó số lượng phân tăng lên rõ rệt, có thể từ 3 đến 10 lần trong ngày. Trường hợp nặng có thể đi ngoài 10-30 lần/ngày, phân lẫn máu, nhầy và mủ. Đồng thời có thể kèm theo các triệu chứng như ăn không tiêu, chán ăn, đầy tức thượng vị, ợ hơi, buồn nôn và nôn. Trường hợp nặng có thể thấy sốt, trống ngực, suy nhược, hốc hác, thiếu máu, mất nhiều nước và rối loạn chất điện giải.
Y học cổ truyền chia bệnh này thành bốn loại:
a) Loại thấp nhiệt ở ruột già: Cảm thụ ẩm thấp chuyển thành nhiệt hoặc ăn quá cay, uống nhiều rượu sẽ dẫn đến thấp nhiệt nội sinh, tích tụ ở ruột già, ảnh hưởng đến chức năng dẫn truyền, làm tổn thương mạng lưới huyết quản đường ruột, gây ra chứng táo bón. đau bụng, tiêu chảy, có máu trong phân, mót rặn, bỏng rát hậu môn và các bệnh khác, dùng thang Bạch đầu ông để thanh nhiệt táo thấp, mát huyết giải độc.
b. Tỳ thận dương hư: Thể trạng tỳ thận dương hư, hoặc người già bệnh lâu ngày, dương khí không đủ, tỳ mất ấm áp, vận hóa kém nên sản sinh tiêu chảy, chứng tiêu chảy thường xảy ra trước lúc bình minh, kèm theo sợ lạnh, Các triệu chứng như đau nhức và yếu ở thắt lưng và đầu gối được điều trị bằng Thuốc Tứ thần hoàn để làm ấm thận và tăng cường sinh lực cho tỳ, tăng cường cố sáp và giảm tiêu chảy.
c) Loại can tỳ mất điều hoà: Tình cảm không thông sướng, uất ức tức giận làm tổn thương gan, gan không điều tiết được, khí của gan lấn át tỳ (Mộc khắc thổ), can tỳ mất điều hoà, dẫn đến thăng giáng mất cân bằng, làm cho ngực và sườn trướng muộn, ăn ít, ợ hơi, khi ức uất tức giận thì đau bụng tiết tả, phép điều trị là bổ gan ích tỳ với bài thuốc chủ trị chứng đau bụng tiêu chảy. Dùng thang Thống tiết yếu phương, có tác dụng ức chế can phù trợ tạng tỳ.
d.Tỳ vị hư nhược: Do tỳ vị hư nhược hoặc vì làm việc quá sức, ăn uống không điều độ nên tỳ vị hư nhược, vận hóa không bình thường dẫn đến tiêu chảy, mệt mỏi, đầy bụng, ăn không ngon. Điều trị dùng Sâm linh bạch truật tán để kiện tỳ ích vị giảm tiêu chảy.
Đông y nhận thức như thế nào đối với chứng viêm loét kết tràng?
Trong y học cổ truyền không có tên gọi viêm loét kết tràng, theo biểu hiện lâm sàng của nó mà nói, nó thuộc về phạm trù các bệnh nội khoa của đông y như “Tiết tả”, “Lỵ tật”, “Tiện huyết”, “Tràng phong” hoặc “Tạng độc”.
Bệnh biến chủ yếu của bệnh là ở tỳ vị và đại tiểu tràng và có liên quan mật thiết với gan và thận. Mà tỳ hư, thấp thịnh (Tỳ hư sinh thấp thịnh, thấp thịnh đạo chí tỳ hư) là những nhân tố trọng yếu để phát sinh bệnh này. Nguyên nhân bên ngoài với thấp tà có quan hệ rất lớn, nguyên nhân bên trong thì có quan hệ cực kỳ trọng yếu với chứng tạng tỳ hư nhược
1/ Cảm thụ ngoại tà (bệnh tà từ bên ngoài): Cảm thụ bệnh tà gây tiết tả, chủ yếu là lục nhân (sáu nguyên nhân), với các loại ngoại tà thường gặp như ; Thử, thấp, hàn, nhiệt, trong đó bệnh tà hay gặp nhất là thấp. Vì tạng tỳ thích khô ráo (hỉ táo) ghét ẩm thấp (ố thấp), khi cảm thụ thấp, rất dễ gây trở ngại, tỳ không thể chuyển vận, thanh khí không thể thăng, trọc khí không thể hạ giáng, khí cơ nghịch loạn, dẫn truyền không thông, thuỷ cốc không phân, hỗn tạp đi xuống thành chứng tiết tả. Vì thế có thuyết “Thấp đa thành ngũ tiết” (湿多成五泄) Thấp nhiều thành chứng ngũ tiết, và “Vô thấp bất thành tả” (无湿不成泻) Không có thấp thì không thành chứng tiết tả. Ngoài ra nhiệt và hàn tà, đều có thể xâm phạm phế vệ (công năng bảo vệ của tạng phế), từ ngoài vào trong, tổn thương tỳ vị, thăng giáng không điều hoà, trong đục không phân, dẫn đến tiết tả, thường kết hợp với thấp tà cùng nhau phát bệnh. Triều Thanh, Thẩm Kim Ngao viết trong {Tạp bệnh nguyên lưu tê chúc · Tả tiết nguyên lưu}: “Thấp thịnh nhi tiết, nãi độc do vu thấp nhĩ, bất tri phong, hàn, nhiệt, hư tuy giai năng chí bệnh, câu tỳ cường vô thấp, tứ giả bất đắc nhi can chi, hà tự thành tiết?, thị tiết tuy hữu phong, hàn, nhiệt, hư chi bất đồng, yếu vị hữu bất nguyên vu thấp giả dã.” (湿盛而泄,乃独由于湿耳,不知风、寒、热、虚虽皆能致病,苟脾强无湿,四者均不得而干之,何自成泄?是泄虽有风、寒、热、虚之不同,要未有不原于湿者也。) Nhiều thấp mà tiết tả, là chỉ do thấp là chính, tuy biết phong, hàn, nhiệt, hư tuy đều có thể gây bệnh, câu tỳ cường vô thấp (tạng tỳ mạnh mẽ thì không có thấp), bốn yếu tố ( phong, hàn, nhiệt, hư ) đều không thể liên quan (vì không có thấp) thì làm sao gây bệnh tiết tả? Chính là tuy chứng tiết tả có phong, hàn, nhiệt, hư khác biệt, nhưng cần phải có yếu tố thấp mới có thể gây thành bệnh tiết tả.
2/ Ăn uống không tiết độ: Ăn uống quá độ, ăn quá nhiều, đình trệ không tiêu hoá, hoặc thích ăn cao lương mỹ vị, cay béo, sinh ra thấp nhiệt, uẩn kết trong dạ dày ruột; Hoặc ăn nhầm thực phẩm sống lạnh không sạch sẽ, đều khiến tỳ vị bị tổn thương, vận hoá kém, tinh vi của thuỷ cốc không thể vận chuyển hấp thu, ngược lại hoá thành thấp đình trệ gây ra tiết tả. Thời nhà Minh · Trương Giới Tân viết trong {Cảnh Nhạc toàn thư · Tiết tả} : “Ẩm thực bất tiết, khởi cư bất thời, dĩ chí tỳ vị thụ thương, tắc thuỷ phản vi thấp, cốc phản vi trệ, tinh hoa chi khí bất năng thâu hoá, nãi chí hợp ô hạ giáng nhi tả lợi tác hĩ. ” (饮食不节,起居不时,以致脾胃受伤,则水反为湿,谷反为滞,精华之气不能输化,乃致合污下降而泻利作矣。) Ăn uống không điều độ, sinh hoạt không đúng giờ, khiến cho tỳ vị thụ thương, khiến nước biến thành thấp, ngũ cốc biến thành trệ, khí tinh hoa không thể chuyển hoá, lại hợp với ô nhiễm hạ giáng thành chứng tiết tả.
3/ Can uất tỳ hư: Tạng can không sơ tiết (không điều tiết cảm xúc và công năng các tạng phủ khác) Tỳ khí hư nhược, hoặc căn bản có thực phẩm bị đình trệ, hoặc có thấp gây trở ngại, hoặc do tình chí không thư thái, ưu tư sầu não tức giận khiến khí uất hoá hoả, khiến can không điều đạt (giới hạn, gò bó), mất sơ tiết, hoành nghịch lấn át tỳ xâm phạm vị, tỳ vị không điều hoà, vận hoá thất thường mà thành tiết tả, nếu bệnh nhân tình chí uất trệ không hoãn giải, không tồn tại nhân tố thực trệ và thấp, cũng có thể mỗi khi tức giận quá độ tổn thương khí, hoặc tinh thần kích thích mà phát sinh tiết tả. Như trong {Cảnh Nhạc toàn thư Tiết tả} viết: “Phàm ngộ nộ khí tiện tác tiết tả giả, tất tiên nộ thời hiệp thực, tổn thương tỳ vị, cố đãn hữu sở phạm, tức tuỳ xúc nhi phát, thử can tỳ nhị tạng bệnh dã, cái dĩ can mộc khắc thổ, can cường tỳ nhược, tỳ khí thụ thương nhi nhiên.” (凡遇怒气便作泄泻者,必先怒时挟食,损伤脾胃,故但有所犯,即随触而发,此肝脾二脏病也,盖以肝木克土,肝强脾弱,脾气受伤而然。)Phàm khí tức giận mà tiết tả, đầu tiên là tức giận kèm với thực phẩm khiến tỳ vị tổn thương, tổn hại này bắt nguồn từ cảm xúc, là bệnh từ hai tạng can và tỳ, là can mộc khắc thổ, can mạnh tỳ yếu, tỳ khí thụ thương.
4/ Tỳ vị hư nhược: Ăn uống không tiết độ lâu ngày, hoặc nội thương mỏi mệt, hoặc bệnh lâu ngày không khỏi, đều có thể dẫn đến tỳ vị hư nhược. Khí của tạng tỳ không đầy đủ, vận hoá kém, ăn uống không ngon, trong đục không điều hoà, dẫn đến nước biến thành thấp, ngũ cốc thành thực trệ, thấp trệ không được trừ khứ, trong đục không phân, hỗn tạp đi xuống, dần dần thành chứng tiết tả.
Tỳ vị hư nhược, quá ẩm ướt chính là nhân tố quan trọng khiến cho bệnh nguyên phát. Nguyên nhân bên ngoài có mối quan hệ lớn nhất với mầm bệnh ẩm thấp, trong khi nguyên nhân bên trong có mối quan hệ đặc biệt quan trọng với tỳ hư.
5/ Mệnh môn hoả suy; Dương khí của tạng tỳ tương quan mật thiết với dương của tạng thận, hoả của mệnh môn có thể hỗ trợ tỳ vị làm chín thuỷ cốc, hỗ trợ tỳ vị tiêu hoá hấp thu. Nếu tuổi già sức yếu hoặc sau khi bị bệnh lâu ngày, tổn thương thận dương, thận dương hư suy, hoả mệnh môn không đầy đủ, nên không có khả năng hỗ trợ tỳ thổ khiến công năng vận hoá suy yếu dẫn đến tiết tả. Ngoài ra, “Thận vi vị quan” (肾为胃关) thận là cửa ngõ của dạ dày, nếu thận dương không đầy đủ, cửa ngõ đóng không kín khiến đại tiện tiết tả. Như {Cảnh Nhạc toàn thư Tiết tả}viết: “Thận vi vị chi quan, khai khiếu vu nhị âm, sở dĩ nhị tiện chi khai bế, giai thận tạng sở chủ, kim thận trung âm khí bất túc, tắc mệnh môn hoả suy …… Âm khí thịnh cực chi thời, tức linh nhân đỗng tiết bất chỉ dã.” (肾为胃之关,开窍于二阴,所以二便之开闭,皆肾脏所主,今肾中阳气不足,则命门火衰……阴气盛极之时,即令人洞泄不止也。) Thận là cửa của dạ dày, khai khiếu ra nhị âm (đại, tiểu tiện), cho nên nhị tiện đóng mở, đều do thậm làm chủ, hiện nay dương khí của thận không đủ, nên hoả mệnh môn suy yếu ……là lúc âm khí cực thịnh, khiến người bệnh tiết tả không ngừng. Ngoại trừ các nhân tố vừa nêu, uống quá nhiều nước, vị tràng không thể hấp thu, nước ở trong đại tràng, cũng có thể dẫn đến tiết tả. Hàn nhiệt thấp trệ uẩn kết ở dạ dày và ruột, bệnh lâu ngày xâm nhập lạc mạch, đều có thể gây chứng tiết tả ra niêm dịch (chất nhầy), máu mủ.
Y học cổ truyền nhận thức cơ chế bệnh của viêm loét kết tràng như thế nào?
Bệnh này đa số là do bẩm sinh không đầy đủ, hoặc mắc phải suy dinh dưỡng, hoặc tỳ vị hư yếu, hoặc ăn uống không đúng cách, hoặc lo lắng tức giận, dẫn đến tỳ vị tổn thương, thanh trọc lẫn lộn, nội sinh thấp nhiệt, tích chứa trong phủ tràng, khí cơ nghịch loạn, tạng phủ không điều hoà dẫn đến bệnh tái phát nhiều lần, liên miên không dứt. Vị trí bệnh ở tỳ vị và đại tràng, nhưng có quan hệ mật thiết với can thận. Bệnh thời kỳ đầu thường thuộc thấp nhiệt tích ứ bên trong phủ tràng; Bệnh lâu ngày ảnh hưởng đến thận nên xuất hiện các hội chứng như tỳ thận dương hư, hàn nhiệt đan xen, hư chứng và thực chứng cùng tồn tại. Chính hư là bản, tà thực là tiêu. Chính hư có thể là khí huyết, âm dương đều hư; Tà thực có thể là khí trệ, thực tích, đàm trọc, huyết ứ, thấp nhiệt, tà độc…Bệnh này không chỉ là bệnh biến ở cục bộ kết tràng, mà chính là một loại bệnh có tính toàn thân, có quan hệ mật thiết với trở ngại công năng của tạng phủ và tình trạng mất điều hoà âm dương. Có học giả cho rằng khí huyết ứ trệ có một ý nghĩa trọng yếu trong bệnh này. Các loại nguyên nhân ảnh hưởng đến công năng vận hoá thuỷ cốc tinh vi và thuỷ thấp của tạng tỳ, công năng chuyển hoá thuỷ thấp và đại tạ (trao đổi chất) ẩm thực, dẫn đến tiết hạ niêm dịch và máu mủ.
Biểu hiện lâm sàng của viêm loét kết tràng là gì?
1/Triệu chứng tiêu hóa: ①Tiêu chảy: Triệu chứng chủ yếu cũng là triệu chứng phổ biến, thường xuyên tái phát hoặc kéo dài, nhẹ thì 2 đến 5 lần/ngày, nặng thì 20 đến 30 lần, tính chất phân khác nhau rất nhiều từ người này sang người khác. Phân mềm, nhão, phân lỏng, nhầy và phân dính và đông cứng khác nhau, nhưng chất nhầy, mủ và máu phổ biến hơn trong phân, và một số có mủ và máu giống như kiết lỵ. Tiêu chảy buổi sáng và tiêu chảy sau ăn là phổ biến. Các bệnh nhân riêng lẻ có biểu hiện tiêu chảy và táo bón xen kẽ trong giai đoạn đầu. ②Đau bụng: Tiêu chảy nặng thường kèm theo đau bụng, đau là đi tả, sau khi tiết tả thì đau giảm. Đau chủ yếu là đau trướng, thường cố định, thường giớ hạn ở bụng dưới bên trái hoặc eo bụng bên trái, đau âm ỉ liên tục cũng thường gặp, loại hình nhẹ thường không đau bụng ③ Xuất huyết: Là một trong những triệu chứng chính của bệnh này, trường hợp nhẹ thì máu lẫn trong phân và dính trên bề mặt, trường hợp nặng thì máu chảy xuống, thậm chí có thể bị choáng. ④ Lý cấp hậu trọng (mót rặn): là triệu chứng chính của viêm trực tràng, bệnh này phổ biến. ⑤ Rối loạn tiêu hóa: Triệu chứng không đặc hiệu, chủ yếu là chán ăn, đầy tức thượng vị, buồn nôn và nôn, ợ hơi và trào ngược axit.
2/ Các triệu chứng ngoài ruột phổ biến hơn ở những bệnh nhân trong giai đoạn cấp tính. ① Triệu chứng khớp: đau khớp kèm theo tiêu chảy, không xâm lấn, không để lại tổn thương thoái hóa hay rối loạn chức năng. ② Triệu chứng ngoài da: thường gặp ở trẻ em với ban đỏ nốt, viêm da mủ, sẩn hoại tử, v.v. ③ Triệu chứng ở mắt: Có thể có biểu hiện viêm mống mắt, viêm màng bồ đào, viêm màng bồ đào tương ứng. ④ Triệu chứng về gan: Đây cũng là biểu hiện phổ biến của bệnh này, gan khó chịu hoặc đau âm ỉ do gan to, tổn thương gan cho thấy mức độ và phạm vi tổn thương thay đổi có mối quan hệ song song.
3/ Triệu chứng toàn thân: ① Sốt: Sốt nhẹ, sốt vừa hoặc sốt cao, ớn lạnh, co giật, hôn mê, v.v. ②Sức yếu: Thường là triệu chứng của bệnh nhân từ trung bình đến nặng, liên quan đến tiêu chảy lâu ngày, phân có máu, ăn quá ít, sốt và tiêu chảy. ③Phù: Một số bệnh nhân phát tác liên tục có thể có biểu hiện phù dưới mắt cá chân, liên quan đến tình trạng giảm albumin máu.
4/ Về dấu hiệu thực thể: ①Đau bụng: Thường gặp đau cố định ở vùng bụng dưới bên trái, sau đó là thắt lưng bên trái và bụng dưới, trường hợp nặng sẽ có nhiều điểm đau dọc theo toàn bộ kết tràng, thường kèm theo âm thanh sôi ruột. ②Khối u ở bụng: Có thể sờ thấy khối u dạng sợi xúc xích hoặc hình ống cứng ở vùng bụng dưới bên trái, nguyên nhân là do co thắt kết tràng hoặc dày thành ruột gây ra. ③Đầy bụng: gặp ở bệnh nhân giãn kết tràng cấp tính, nguyên nhân chủ yếu là do căng tức vùng bụng trên. ④Căng cơ bụng: thường gặp ở bệnh nhân viêm kết tràng cấp tính đang hoạt động. ⑤Khám trực tràng bằng tay: Thường có cảm giác đau ở hậu môn và trực tràng. Căng thẳng cơ vòng hậu môn tăng lên, gây ra bởi sự co thắt. ⑥Khác: Người bệnh nặng thường có thân nhiệt trên 38°C, nhịp tim nhanh (100 nhịp/phút), sắc mặt thiếu máu, v.v.
Viêm loét kết tràng được phân loại như thế nào và làm thế nào để phân biệt giữa nhẹ, trung bình và nặng?
Biện chứng luận trị chứng viêm loét kết tràng loại hình hạ tiêu thấp nhiệt như thế nào?
Hội chứng biểu hiện: Tình trạng bệnh khá nặng, đau bụng tiết tả, tiết tả như rót nước, đi đại tiện ra máu, nặng mùi, hoặc đi tả dạng nước và máu mủ, bụng trướng, sôi bụng, giang môn đau rát. Hoặc kèm theo rét run, tâm phiền muộn bồn chồn, miệng không không muốn uống, chán ăn, nước tiểu đỏ và ít, rêu lưỡi vàng nhầy, mạch hoạt sác.
Phân tích hội chứng: Bệnh nhân tỳ vị hư yếu, tỳ không kiện vận, thuỷ thấp đình trệ hoặc thấp gây trở ngại cho tạng tỳ, uất lại hoá thành nhiệt, thấp nhiệt kết tụ ở đại tràng mà thành chứng này. Thấp nhiệt di chuyển xuống đại tràng, khiến công năng dẫn truyền thất thường, thấp và nhiệt hỗ tương kết tụ, tắc nghẽn vị tràng, khí cơ không thuận lợi, nên đau bụng tiết tả; Nhiệt nặng thấp nhiều, ảnh hưởng đường ruột, mạch lạc bị tổn hại, màng mở hao mòn bong tróc theo phân ra ngoài, xuất hiện niêm dịch và phân có máu, tả hạ niêm dịch trắng đỏ hoặc lý cấp hậu trọng; Bệnh tà thấp nhiệt gây tổn hại chính khí. Tổn thương ở huyết phận gây chứng tiện huyết (đại tiện ra máu), tổn thương ở khí phận sẽ đại tiện ra mủ, tổn thương cả khí và huyết sẽ đại tiện ra cả máu và mủ. Thấp thuộc âm, tính dính và nhờn, có thể kèm theo theo các chứng như thân thể nặng nề, chán ăn. Nhiệt mạnh tân dịch bị tổn hại khiến miệng khô, thấp tà chưa trừ khứ thì miệng khô nhưng không muốn uống. Tiết tả tân dịch bị tổn hại, hoá nguyên bất túc nên tiểu tiện ít và đỏ. Rêu lưỡi vàng nhờn, mạch hoạt sác là đặc trưng của thấp nhiệt nhiều ở bên trong.
Trị pháp: Thanh nhiệt lợi thấp.
Phương dược: Cát căn cầm liên thang gia giảm. Phương này chú trọng thanh hoá thấp nhiệt trong ruột, thăng thanh giáng trọc trị chứng tiết tả. Trong phương có vị Cát căn nướng để giải cơ thoái nhiệt, lại có thể thăng thanh chỉ tả; Hoàng cầm, Hoàng liên thanh nhiệt giải độc táo thấp giáng trọc, Cam thảo hoà trung giảm đau.
Phát nhiệt nhiều, gia Ngân hoa, Công anh, Sài hồ; Nếu thử nhiệt xâm phạm, gia nhập Lục nhất tán thanh nhiệt giải thử, lợi thấp chỉ tả; Nếu thấp tà mạnh hơn thì ngực sườn bĩ đầy, khát mà không muốn uống, rêu lưỡi trắng nhầy, nên châm chước gia Hoắc hương, Bội lan, Thương truật, Bạch khấu nhân; Nếu thấp và nhiệt đều mạnh thì phát sốt, miệng khát thích uống nước lạnh, rêu lưỡi vàng dầy thì gia Kim ngân hoa, Bạch đầu ông, Tần bì, Mã sỉ hiện, Đại hoàng sống…; Kèm theo lợm giọng ẩu thổ thì gia Bán hạ, Trần bì, Trúc nhự tẩm gừng; Đại tiện ra máu có thể dùng Đương quy, Xích thược, Xích tiểu đậu, Tần bì để dưỡng huyết khứ thấp, thanh nhiệt giải độc, cũng có thể dùng Hoè hoa, Địa du để mát máu cầm máu, Phòng phong, Kinh giới sao để trừ phong trong huyết, hoặc gia bột Tam thất, Vân nam bạch dược, để hoá ứ sinh tân, tán huyết chỉ huyết, gia bột Bạch cập để hỗ trợ sinh cơ cầm máu
Biện chứng luận trị chứng viêm loét kết tràng loại hình nhiệt độc mãnh liệt như thế nào?
Biểu hiện hội chứng:Bệnh khởi phát rất nhanh, sốt cao không hạ, khát nước bồn chồn, ngực phiền muộn, lợm giọng ẩu thổ, đau bụng kịch liệt, *lý cấp hậu trọng, đại tiện ra máu mủ;đỏ sẫm, lượng nhiều, hoặc ở dạng máu và nước, đại tiện nhiều lần, chất lưỡi hồng ráng, rêu lưỡi vàng khô, mạch hoạt sác, thậm chí hôn mê co giật.
Phân tích hội chứng: Hội chứng nguy hiểm, thường gặp ở loại hình viêm loét kết tràng bạo phát. Thế bệnh độc và mãnh liệt nên bệnh phát rất nhanh. Nhiệt kết ở kinh dương minh, tân dịch tổn háo thì tráng nhiệt khát nước; Nhiệt ảnh hưởng tâm thần thì tâm phiền không yên; Nhiệt độc ảnh hưởng tỳ vị thì vị quản không thoải mái, lợm giọng ẩu thổ; Nhiệt độc mãnh liệt thì khí huyết ứ trệ, tràng phủ (ruột) vị nghẽn tắc, trọc khí không giáng, xuất hiện đau bụng quẫn bách, lý cấp hậu trọng; Nhiệt độc kết lại với nhau, tổn háo khí huyết, hoá thành máu mủ đỏ sẫm, hoặc nhiệt làm tổn thương lạc mạch, bức bách xuống dưới, có dạng như huyết thuỷ; Chất lưỡi hồng ráng, rêu lưỡi vàng khô, mạch hoạt sác đều là hội chứng của nhiệt độc mãnh liệt. Nếu nhiệt độc hãm ở trong tâm doanh, che lấp thần minh, có thể xuất hiện tinh thần hôn ám nói mê sảng; Nếu nhiệt cực sinh phong, can phong nội động, thì xuất hiện co giật và ngất (kinh quyết).
Trị pháp:Thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ huyết. (Hạ nhiệt giải độc, mát máu cầm máu)
Phương dược: Bạch đầu ông thang hợp Hoàng liên giải độc thang gia giảm. Hai phương cộng lại có công dụng hạ nhiệt mát máu, giải độc an thần. Trong phương có Bạch đầu ông hạ nhiệt lợi thấp, giải độc trong huyết phận, hợp với Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá, Tri mẫu giải độc mát máu, hoạt huyết; Đại hoàng dẫn nhiệt đi xuống, tiết độc khứ tà, khứ trừ nhiệt độc trong đại tràng; Thạch cao sống thanh tả nhiệt tà ở khí phận.
Nếu nhiệt độc cùng thiêu đốt, ảnh hưởng đến doanh huyết, sốt cao, tinh thần hôn ám nói mê sảng, có thể dùng Tử tuyết đan hoặc An cung ngưu hoàng hoàn 2~3g, để hạ nhiệt tiết độc, khai mở khiếu, đề tỉnh tinh thần; Nếu sốt cao, co giật lạnh tay chân gia Tử tuyết tán, Toàn yết 10g, Câu đằng 15g, để thanh can tức phong trấn tĩnh; Nếu ẩu thổ quá nhiều, vị âm bị tổn háo, lưỡi đỏ và khô, nên châm chước gia Tây dương sâm 12g, Mạch đông 30g, Thạch hộc 15g để dưỡng âm của dạ dày, ẩu thổ không ngừng, có thể uống thêm Ngọc Khu đan để hoà trung trị ẩu thổ; Tiết tả vô độ, không thể ăn uống hoặc chân tay không ấm áp, sắc mặt trắng xanh, xuất mồ hôi lạnh, phát suyễn, là độc nhiệt bế tắc ở bên trong, dương khí thoát ở ngoài, nhanh chóng cho bệnh uống Độc sâm thang hoặc thang Tứ nghịch sắc cô đặc uống hết 1 lần, để ích khí trị thoát.
Trung y biện chứng luận trị chứng viêm loét kết tràng loại hình ứ trở lạc mạch ở ruột như thế nào?
Hội chứng: Tiết tả lâu ngày không khỏi, đại tiện phân ít mà không hết, phân lúc lỏng lúc khô, phân như niêm dịch (chất nhầy) hoặc máu sẫm, hoặc màu máu đen như sơn, bụng đau nhói cố định, rõ rệt nhất là ở bụng dưới bên trái, ấn vào đau không chịu nổi, thường sờ thấy dạng hòn khối hoặc dạng dây, sắc mặt ảm đạm không tươi, cạnh lưỡi có ban ứ hoặc điểm ứ, chất lưỡi hồng tối, mạch trầm sáp.
Phân tích: Bệnh tiết tả lâu ngày xâm nhập lạc mạch, huyết ứ nghẽn tắc lạc mạch trong ruột mà thành bệnh. Ứ huyết lâu ngày đình trệ trong phủ tràng (ruột) gây tổn thương khí huyết, không thông nên đau, khí trệ huyết ứ vì thế tả hạ niêm dịch lỏng và huyết màu sậm; Ứ huyết gây trở ngại bên trong, huyết không về theo kinh mạch, bại huyết ở ngoài nên sắc đen như sơn; Huyết ứ trong lạc mạch của ruột, lạc mạch bị trở ngại nên bụng bị đau nhói cố định, ấn vào đau hơn, sắc mặt ảm đạm không tươi, cạnh lưỡi có ban ứ, điểm ứ, chất lưỡi hồng sẫm, mạch trầm sáp, tất cả những chứng trạng vừa nêu đều là hình tượng đặc trưng của ứ huyết đình trệ bên trong, tràng lạc (lạc mạch trong ruột) bị tắc nghẽn.
Trị pháp: Thông lạc hoá ứ, hoạt huyết giảm đau.
Phương dược: Thiểu phúc trục ứ thang gia giảm. Phương này chú trọng hoạt huyết hoá ứ, thông lạc giảm đau, hoà doanh cầm máu. Bồ hoàng, Ngũ linh chi, Đương quy, Xuyên khung là thành phần quân dược (chủ chốt) của phương, có tác dụng hoạt huyết, hành huyết, hoạt huyết hoá ứ, khứ ứ sinh tân, dưỡng huyết sinh tân; Phối với Hương phụ, Ô dược, Chỉ xác, Huyền hồ, Nhũ hương, Một dược có tác dụng hành huyết hoạt huyết định thống (tăng cường tuần hoàn giảm đau); Hợp với Nhục quế, Can khương, Tiểu hồi ấm kinh lạc tán hàn hành ứ, tràng lạc ứ huyết được trừ khứ thì tiết tả và đau nhói tự hết.
Nếu khí huyết ứ trệ hoá thành máu mủ, phân sẽ ở dạng niêm dịch màu đỏ trắng, nên cùng sử dụng với thang Bạch đầu ông, để hạ nhiệt lợi thấp mát máu; Nếu kèm theo khí trệ đình lưu bên trong, gia Binh lang, Sơn tra đều 10g, để tiêu thực đạo trệ; Kèm theo ứ trở, thường thấy tiết tả chủ yếu là niêm dịch (chất nhầy), dùng phương này hợp với thang Linh quế truật cam, để ôn hoá đàm thấp; Nếu máu nóng, đại tiện màu hồng tối, dùng phương trên gia thêm 3g bột Tam thất, Đại hoàng sao thành than 10g, để mát máu cầm máu; Nếu khí hư, tinh thần uể oải yếu sức, gia Đảng sâm 15g, Bạch truật 12g, để kiện tỳ ích huyết, dưỡng huyết hành huyết.
Đông y biện chứng luận trị chứng viêm loét kết tràng loại hình can uất tỳ hư như thế nào?
Hội chứng: Tiết tả và táo bón xảy ra luân phiên và không liên tục, thường do tức giận mà phát tác hoặc tăng nặng. Thường đau bụng kèm theo muốn đi tiêu, sau khi đi tiêu thì đau giảm, đi tả nhiều lần, phân lỏng nhầy, có khi lẫn máu lẫn mủ, ngày đi 3-4 lần, bụng dưới bên trái trướng hoặc mót rặn, kèm theo chán ăn, đầy bụng và ợ hơi, bồn chồn, lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch huyền.
Phân tích: Can mạnh tỳ yếu, can mộc lấn át tỳ thổ, tạng tỳ vận hoá kém là đặc điểm của bệnh . Tạng can chủ khí, dễ bạo phát, can không điều tiết lại hoành nghịch lấn át tỳ, tỳ vận hoá kém, trung khí hãm xuống, nên phân lỏng lúc phát tác lúc hoãn giải, hoặc do tâm trạng bất ổn mà bệnh phát tác hay tăng nặng, khí cơ không thông sướng, uất trệ, nên táo bón tiết tả luân phiên xuất hiện; Can khí uất trệ, *khí cơ thất lợi, nên đau bụng muốn đại tiện, sau khi đại tiện đau giảm; Khí trệ không thông sướng, nên trung tiện liên tục; Can tỳ bất hoà, tỳ bị thấp vây hãm nên vận hoá thất thường vì vậy phân lỏng nát, khá nhiều chất nhầy; Khí trệ hoá hoả, can uất nên nóng nhiệt, tổn thương huyết lạc, tâm phiền bồn chồn, phân có lẫn máu mủ; Khí trệ nghẽn tắc đại tràng, nên bụng dưới nặng đì và trướng, *lý cấp hậu trọng; Can khí thừa tỳ phạm vị, khí cơ thăng giáng thất thường nên dạ dày bế tác không thoải mái, ợ hơi không thư sướng, chán ăn, chất lưỡi hồng; Chất lưỡi hồng, rêu lưỡi trắng mỏng và nhờn, mạch huyền đều là biểu hiện của tạng tỳ hư yếu và tạng can mạnh mẽ.
Trị pháp: Ức can kiện tỳ, lý khí hoá thấp.
Phương dược: Tiêu dao tán hợp Thống tả yếu phương gia giảm, cộng chung có công dụng sơ (điều tiết) can kiện tỳ. Sài hồ, Bạch thược, Thanh bì sơ can lý (điều chỉnh) khí, hoãn cấp (hoãn giải tình tạng co rút, cấp bách) giảm đau; Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Sơn dược lý (điều chỉnh) khí kiện tỳ khứ thấp; Phòng phong, Bạc hà sơ can dưỡng can, tỉnh tỳ táo thấp,; Cam thảo hoãn cấp chỉ thống, điều hoà các vị thuốc.
Nếu cạnh sườn trướng đau, mạch huyền, dùng phương thang trên gia Huyền hồ sao giấm 10g, Uất kim 12g, để sơ tiết can giảm đau; Nếu táo bón và tiết tả luân phiên, gia Binh lang 12g, Trầm hương 6g, để điều tiết khí trệ; Nếu bụng trướng đau quặn bụng, gia Chỉ thực 10g, Xuyên phác 6g, để hành khí tiêu trướng; Ợ hơi lợm giọng là can khí phạm vị, vị khí thượng nghịch (trào ngược), can vị bất hoà, dùng phương trên hợp với Toàn phú hoa 10g, Đại giả thạch 30g để trị trào ngược ẩu thổ; Nếu tỳ hư tổn, số lần tiết tả tăng nhiều, dùng phương trên gia Đảng sâm 15g, Thăng ma 10g, để thăng bổ khí cho tạng tỳ; Tình chí ưu uất, chán ăn, gia Hợp hoan bì 10g, Mai khôi hoa 10g để điều tiết gan tỉnh tỳ.
Đông y biện chứng luận trị viêm loét kết tràng mạn tính loại hình tỳ vị hư hàn như thế nào?
Hội chứng: Tiết tả lâu ngày, phân lỏng nát, có lẫn niêm dịch hoặc đại tiện không sảng khoái, gặp lạnh hoặc ăn thực phẩm sống lạnh thì bệnh phát tác, đau bụng âm ỉ, thích ấm áp, ấn nắn, sôi bụng, trướng bụng, tay chân không ấm áp, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm trì vô lực.
Phân tích: Bệnh lâu ngày không khỏi, tỳ vị dương hư, vận hoá kém nên nội sinh hư hàn, tiết tả phân lỏng nát lạnh lẽo, lẫn thực phẩm chưa tiêu hoá, màu trắng đục; Hàn thuộc âm, nếu thụ hàn lại ăn thực phẩm sống lạnh dễ gây tổn hại tỳ dương, vì vậy mà bệnh phát tác; Hư hàn đình trệ trong ruột, cản trở khí cơ, nên bụng đau âm ỉ, thích ấm áp, ấn nắn, đại tiện không sảng khoái, sôi bụng trướng bụng; Tạng tỳ chủ tứ chi, tỳ dương không phấn chấn, không ra đến kinh mạch tứ chi, nên tứ chi không ấm áp; Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm trì, đều là biểu hiện của tỳ vị hư hàn.
Trị pháp: Kiện tỳ ôn trung, tán hàn chỉ thống.
Phương dược: Phụ tử lý trung thang gia vị. Trong phương có Đảng sâm, Bạch truật ngọt ấm ích khí kiện tỳ; Phụ tử, Can khương ôn trung tán hàn, chấn hưng trung dương (dương ở trung tiêu); Cam thảo điều hoà tính dược.
Nhưu ẩu thổ nuốt chua, hàn nhiệt cùng tồn tại, gia Xuyên liên 6g, để thanh nhiệt hoà vị giáng nghịch; Bụng dưới co quắp đau lạnh, gia Hoa tiêu 6g, Tiểu hồi hương 6g, để ấm hạ nguyên (thận), lý (điều chỉnh) khí giảm đau.
Biện chứng luận trị viêm loét kết tràng loại hình khí âm lưỡng hư như thế nào?
Hội chứng: Viêm loét kết tràng, điều trị lâu ngày không khỏi, tái phát nhiều lần, vựng đầu yếu sức, tâm phiền nóng, bụng trướng, phân khô, khi đi vệ sinh phải cố gắng nỗ lực, chất lưỡi hồng, ít rêu lưỡi, mạch tế sác.
Phân tích: Tỳ vị không đầy đủ, khí huyết hư tổn, nên tinh thần uể oải, yếu sức, vựng đầu; Vận hoá kém, lực dẫn truyền của đại tràng suy yếu, tuy muốn đại tiện nhưng không có lực đẩy xuống; Khí của tỳ vị hư nhược, thanh dương không thăng, trọc âm không giáng, tiết tả thất thường, táo bón; Vì bệnh ảnh hưởng đến âm, âm huyết không đầy đủ, không thể thấp nhuận (ẩm ướt đại tràng) đại tràng, đại tràng bị khô, nên phân khô; Âm khuy huyết ít nên ngũ tâm phiền nóng, chất lưỡi hồng, ít rêu, mạch tế sác, đều là đặc trưng của khí âm lưỡng hư.
Trị pháp: Ích khí dưỡng âm, kiện tỳ ích thận.
Phương dược: Sâm kỳ địa hoàng thang gia giảm. Trong phương có Đảng sâm, Hoàng kỳ, Cam thảo bổ trung ích khí, thăng dương phù trợ tạng tỳ; Địa hoàng, Đương quy, Bạch thược, Ô mai, Nguyên sâm, Hà thủ ô dưỡng huyết sinh huyết, sinh tân phù mạch; Tá dược gồm Chỉ xác, Trần bì hành khí trừ đầy, Ma nhân, Đào nhân, mật ong nhuận tràng thông tiện.
Nếu trong hư có thực, kèm thep thấp nhiệt trong đại tràng, gia Toàn qua lâu, sao Hạnh nhân, Hoàng cầm thanh nhiệt trừ thấp; Phân có máu, gia Địa du (sao đen), Hoè mễ, nếu táo bón đi tả luân phiên, gia thang thuốc với số lượng lớn gồm Bạch truật sao 30g, Sơn dược sao 15g, Hà thủ ô 15g, Đương quy 15g, kiện tỳ ích thận, dưỡng huyết nhuận tràng.
Trung y biện chứng luận trị chứng kết tràng viêm loét loại hình tỳ thận dương hư như thế nào?
Biểu hiện hội chứng: Lê minh tiết tả (tiết tả lúc bình minh) sôi bụng, đau bụng, sau khi tiết tả đau bụng giảm, phân lỏng, lẫn thực phẩm chưa tiêu hoá, thân thể tứ chi lạnh, (tứ chi không ấm), eo gối lạnh lẽo ê ẩm, mệt mỏi yếu sức, nước tiểu trong và nhiều, tiểu đêm nhiều lần. Chất lưỡi nhạt, thân lưỡi to, thường có dấu răng, mạch trầm tế vô lực.
Phân tích: Bệnh lâu ngày dần dần hư yếu, bệnh tạng tỳ làm tổn hại thận, nên xuất hiện tỳ thận dương hư. Thận dương hư yếu, hoả mệnh môn suy, không thể chưng hoá mà thành bệnh. Trước khi trời sáng âm khí mạnh, dương khí chưa hồi phục, mà tỳ thận dương hư, cửa của vị (thận) không kiên cố, nên đau bụng, sôi bụng đi tả, lại gọi là “Ngũ canh tiết” (五更泄) Tiết tả vào canh 5 (3h~5h), “Kê minh tiết” (鸡鸣泄) tiết tả lúc gà gáy; Sau khi tiết tả, phủ khí thông sướng nên bằng an không đau; Thận hư nên eo gối ê ẩm lạnh lẽo, bụng sợ lạnh, thân thể tứ chi lạnh không ấm áp, thận dương hư suy, mệnh môn hoả suy, không thể làm cho thân thể ấm áp, các chứng trạng như nước tiểu trong và nhiều, tiểu đêm nhiều lần; Chất lưỡi nhạt, thân lưỡi to mập có dấu răng, mạch trầm tế vô lực, đều là chứng trạng đặc trưng của tỳ thận dương hư.
Trị pháp: Kiện tỳ ôn thận chỉ tả
Phương dược: Tứ thần hoàn hợp Phụ tử lý trung thang gia giảm. Hoặc thang Chân nhân dưỡng tạng. Hoàn Tứ thần ôn thận tán hàn; Thang Phụ tử lý trung ôn thận kiện tỳ, trong phương có Phụ tử, Bổ cốt chỉ ôn bổ thận dương; Thang Lý trung hợp Ngô thù du, Nhục đậu khấu ấm áp tạng tỳ và trung tiêu, Ngũ vị tử sáp (rít) tràng, hợp với các vị thuốc ấm áp tỳ thận sáp tràng để trị tiết tả. Thang Chân nhân dưỡng tạng, ôn bổ tỳ thận, thu sáp củng cố đường ruột. Trong phương gồm NHân sâm, Bạch truật, chích Cam thảo ôn tỳ ích khí; Nhục quế, Nhục Đậu khấu ấm áp tỳ thận, tán hàn giảm đau trị tiết tả; Mộc hương điều hoà khí cơ; Bạch thược hoãn cấp (hoà hoãn) giảm đau; Đương quy hoà huyết, Kha tử, Mễ xác thu sáp cố tràng (củng cố đường ruột); Toàn phương có tác dụng ấm áp tỳ thận, sáp tràng, điều hoà khí huyết, thường dùng điều trị chứng tiết tả lâu ngày, tích trệ trong bụng đã hết, thuộc chứng hư tả, khí huyết không đầy đủ là rất thích hợp.
Nếu chủ yếu là tỳ dương hư: Nên trọng dụng Nhân sâm, Bạch truật, Pháo khương, Thạch liên tử; Nếu chủ yếu là thận dương hư, nên trọng dụng Phụ tử, Nhục quế, Bổ cốt chỉ; Tiết tả không cầm, rêu lưỡi không nhầy, gia Mễ xác 10g, Kha tử 10g, Xích thạch chi 15g… Nếu đau bụng dưới gia Hương phụ 15g, Ngô du 15g, Ô dược 15g; Đau bụng gia Nguyên hồ 10g, Sa nhân 10g; Nếu tiết tả lâu ngày thoát giang, gia Hoàng kỳ 30g, Thăng ma 10g, để thăng dương ích khí trị thoát giang; Nếu tiết tả lâu ngày không khỏi, xuất hiện tỳ thận âm hư, gia Thiên môn đông 15g, Hoàng tinh 15g, Mạch đông (cũng là mạch môn đông) 15g, là thang tễ bổ âm.
Phương pháp điều trị cục bộ chứng viêm loét kết tràng gồm có những gì?
Do bệnh chủ yếu xâm lấn niêm mạc ruột hoặc lớp dưới niêm mạc nên đây là bệnh không đặc hiệu kèm theo xói mòn và loét trên bề mặt. Tổn thương chủ yếu ở cấu trúc đoạn xa, dùng trực tràng có thể làm cho thuốc trực tiếp đến nơi bệnh, tránh ảnh hưởng của pH và enzym đường tiêu hóa trên đối với thuốc, duy trì tính năng của thuốc, giúp thuốc hấp thu hoàn hảo hơn, kéo dài thời gian tác dụng của thuốc, để sửa chữa niêm mạc, chữa lành vết loét và đạt được mục đích chữa bệnh. Do đó, điều trị bằng thuốc trực tràng là một phương pháp phổ biến để điều trị loét kết tràng. Trong đó bao gồm thuốc xúc ruột và giữ lại trong ruột, phương pháp nhỏ giọt vào trực tràng, phun thuốc vào trực tràng và nhét thuốc vào hậu môn. Trong số đó, thuốc truyền vào ruột được sử dụng phổ biến và thông dụng nhất.
I/ Phương thuốc xúc ruột thường dùng: ①Phong hưu 10g, Công đinh hương, sắc 100~150ml, gia Băng bằng tán, Tích loại tán 0.3g. ② Bại tương thảo 30g, Ngũ bội tử sao 5g, Khô phàn 3g, Ngoã lăng (nung)15g, Long cốt (nung) 30g, Mẫu lệ sống 30g.
II/ Phương pháp nhỏ giọt trực tràng: phương pháp truyền mở được sử dụng để nhỏ dung dịch thuốc vào trực tràng, phương pháp này chính xác, nhanh chóng và lâu dài, phương pháp này linh hoạt và thuận tiện, nó có đặc điểm của truyền trực tràng và không phương pháp điều trị xâm lấn. Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc dựa trên phân biệt hội chứng, pha chế dung dịch thuốc, vị trí, nhiệt độ thuốc và liệu trình điều trị tương đương với thụt tháo.
Tiên lượng như thế nào về chứng viêm loét kết tràng, làm thế nào để phòng ngừa bệnh?
I/ Tiên lượng: Tiên lượng của bệnh này phụ thuộc vào thể bệnh, có biến chứng hay không và điều kiện điều trị. Tiên lượng của bệnh nhân nhẹ là tốt, tỷ lệ thuyên giảm là 80% đến 90% và tỷ lệ thuyên giảm của bệnh nhân nặng là khoảng 50%. Tỷ lệ tử vong của viêm toàn bộ ruột cao tới khoảng 25%. Tỷ lệ tử vong tối cấp cấp tính cao tới 35%. Tóm lại, tình trạng bệnh thường kéo dài và lặp đi lặp lại, một số ít bệnh nhân cũng có thể thuyên giảm trong một thời gian dài.
II/ Chăm sóc sức khỏe dự phòng: Do nguyên nhân gây bệnh chưa rõ ràng nên chưa có biện pháp phòng ngừa cụ thể, đối với những bệnh nhân bị tái phát lâu ngày hoặc tâm trạng không ổn định nên giữ tâm trạng thoải mái, yên tĩnh, chú ý đến chế độ ăn uống, sinh hoạt điều độ, tránh mệt mỏi , đồng thời ngăn ngừa nhiễm trùng đường ruột, có tác dụng nhất định trong việc ngăn ngừa bệnh tái phát hoặc phát triển thêm. Ngoài ra, cần chú ý điều chỉnh tâm lý người bệnh và kiểm soát chế độ ăn, đối với người bị đau bụng, tiêu chảy nên ăn chế độ ít bã, dễ tiêu, ít dầu mỡ, giàu đạm; Không dung nạp thực phẩm đáng ngờ, chẳng hạn như cá, tôm, bọ cạp, rùa, sữa, đậu phộng.v.v.. , nên tránh ớt, thực phẩm đông lạnh, thực phẩn sống lạnh, và nên tránh thói quen hút thuốc và uống rượu.
*“Lý cấp hậu trọng” là thuật ngữ y học, hình dung một loại chứng trạng táo bón. Bệnh nhân có cảm giác cần đại tiện mà không thể bài xuất thuận lợi; Có thể khái quát trong 16 chữ: { Phúc thống quẫn bách, thời thời dục tiện. Giang môn trọng truỵ, tiện xuất bất sảng}(腹痛窘迫,时时欲便。 肛门重坠,便出不爽) (Đau bụng quẫn bách, lúc nào cũng muốn đai tiện. Giang môn nặng truỵ, phân ra không sảng khoái). Tên bệnh này ghi trong Nan kinh của thời cổ đại.
**Khí cơ là chỉ về cơ chế vận hành bình thường của nội khí cơ thể, bao quát công năng hoạt động của kinh lạc tạng phủ, hình thức hoạt động cơ bản của khí cơ là thăng giáng xuất nhập, nếu thăng giáng xuất nhập của khí cơ thất thường, thì có thể xuất hiện khí nghịch, khí uất, khí trệ, khí hãm, khí bế, thậm chí bệnh biến khí cơ tiết thoát.
Trường Xuân dịch