Viêm khớp (gout) thống phong
Những tài liệu tham khảo:
Viêm khớp do gút là do sự lắng đọng của urat trong bao khớp, bao khớp, sụn, xương và các mô khác, gây tổn thương bệnh và phản ứng viêm. Bệnh này có yếu tố di truyền và nhân tố gia tộc và thường xảy ra ở những người trên 40 tuổi thuộc nam giới, nó phổ biến hơn ở khớp xương thứ nhất của ngón chân cái trên mu bàn chân và cũng có thể xảy ra ở các khớp lớn hơn khác, đặc biệt là khớp mắt cá chân và khớp bàn chân.
Biểu hiện chủ yếu là các cơn đau khớp dữ dội, thường xảy ra đột ngột và ở một bên. Có hiện tượng sưng, nóng, đỏ và đau rõ ràng ở các mô xung quanh khớp. Xét nghiệm axit uric máu có thể xác định chẩn đoán.
Việc áp dụng điều trị bằng thuốc mang lại hiệu quả tốt.
【Đơn thuốc】
1. Trong đợt cấp cần chú ý nghỉ ngơi tại giường và chườm lạnh tại chỗ.
2. Không ăn thức ăn chứa nhiều nhân purin như gan, thận và các cơ quan nội tạng khác và các sản phẩm từ đậu nành. Uống nhiều nước. Tránh uống rượu, đặc biệt là bia.
3. Vitamin B12 và thuốc sulfa bị cấm.
4. Uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ.
(Giáo sư Zhou Jianping, Đại học Y Thượng Hải)
Bệnh thống phong (gout) là gì?
Bệnh thống phong (gout) là một nhóm bệnh do rối loạn chuyển hóa nhân purin. Đặc điểm lâm sàng của nó là tăng acid uric máu, và hậu quả là viêm khớp cấp tính do gút tái phát, lắng đọng hạt tophi, viêm khớp mãn tính dạng tophitic và biến dạng khớp. Thường liên quan đến thận gây ra viêm thận kẽ mãn tính và sỏi thận do acid uric. Căn bệnh này có thể được chia thành hai loại chính: Nguyên phát và thứ phát theo nguyên nhân gây tăng acid uric máu. Căn nguyên của bệnh gút nguyên phát, ngoại trừ một số bệnh di truyền do rối loạn chuyển hóa purin bẩm sinh, hầu hết đều chưa được làm sáng tỏ. Căn nguyên của bệnh gút thứ phát có thể do bệnh thận, bệnh bạch cầu, do thuốc và nhiều nguyên nhân khác. Bệnh gặp nhiều ở nam và nữ ở tuổi mãn kinh, nam mắc bệnh này nhiều hơn nữ, tỷ lệ nam nữ khoảng 20: 1.
Theo bệnh này, biểu hiện lâm sàng chủ yếu là các khớp sưng đỏ, nóng, đau nhiều lần, khớp vận động không linh hoạt, thuộc phạm trù “Tí chứng” trong Trung y. {Y học chuẩn thằng * Lục yếu}: {Thồng phong, tức Nội kinh thống tí} .{Huyết chứng luận}: Thống phong, thân thể tê dại, tứ chi đau nhức, ngày nay gọi là chứng thống phong, thời xưa gọi là chứng Tí (tê bại).
Tăng acid uric máu có phải là bệnh gút không?
Sự gia tăng axit uric máu có thể giúp chẩn đoán bệnh gút. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các yếu tố khác ảnh hưởng đến tăng acid uric máu như ăn nhiều calo, nhiều purin, đói và uống rượu, sử dụng thuốc lợi tiểu như thiazid và triamterene, và một lượng nhỏ aspirin, có thể làm máu Axit uric tăng cao nên không thể “Nhất thứ định chung thân” (一次定终身)một lần định cả đời, tức là chỉ cần một lần trị số axit uric máu tăng cao thì coi như đã mắc bệnh gút. Thực tế, ngay cả khi axit uric máu tăng cao cũng có thể là tăng axit uric máu không triệu chứng, tình trạng này có thể tồn tại rất lâu trước khi các triệu chứng của bệnh gút xuất hiện. Những người bị tăng axit uric máu không phải tất cả đều có thể phát triển thành bệnh gút. Tất nhiên, nồng độ axit uric trong máu càng cao thì khả năng xuất hiện các triệu chứng bệnh gút càng lớn. Trên thực tế, trong cơn gút cấp, một số bệnh nhân có thể tăng đào thải axit uric qua nước tiểu do phản ứng với stress và nội tiết tố nội sinh, do đó trị số axit uric máu trong giới hạn bình thường, ngược lại trị số acid uric tăng sau khi cơn cấp thuyên giảm. Do đó, chỉ số acid uric máu đo được cần kết hợp với các triệu chứng, dấu hiệu của bệnh nhân, chụp X-quang, xét nghiệm dịch khớp, và phân tích tinh thể urat toàn diện để đưa ra chẩn đoán bệnh gút.
Tây y cho rằng nguyên nhân gây ra bệnh thống phong (gút) là gì?
Do trước đây bệnh thống phong (gút) ít gặp ở nước ta nên nhiều người chưa biết nhiều về căn bệnh này. Người ta tin rằng bệnh gút là đau khớp do phong hàn, nhưng thực tế không phải vậy. Vậy nguyên nhân nào gây ra bệnh gút?
Trong cơ thể người có một chất là purin, khi quá trình trao đổi chất bị rối loạn sẽ gây ra bệnh gút.
Purine trải qua một loạt các thay đổi trong quá trình trao đổi chất, và sản phẩm cuối cùng được hình thành được gọi là axit uric. Axit uric không có chức năng sinh lý trong cơ thể người, trong trường hợp bình thường, 2/3 lượng axit uric được tạo ra trong cơ thể được đào thải qua thận, 1/3 còn lại được đào thải từ ruột già.
Axit uric liên tục được sản xuất và đào thải ra ngoài cơ thể nên nó duy trì một nồng độ nhất định trong máu. Axit uric có trong mỗi 100ml máu của một người bình thường là nam giới thấp hơn 6mg và nữ giới dưới 5mg. Trong quá trình tổng hợp và phân hủy purin có sự tham gia của nhiều loại enzym, do sự bất thường bẩm sinh của enzym hoặc do một số yếu tố không rõ ràng làm cho quá trình chuyển hóa bị rối loạn làm tăng tổng hợp hoặc đào thải acid uric ra ngoài, có thể gây ra bệnh. Khi nồng độ axit uric trong máu quá cao, axit uric sẽ lắng đọng trong khớp, mô mềm, sụn và thận dưới dạng muối natri, gây ra các phản ứng viêm nhiễm dị vật trong mô và trở thành căn hoạ của bệnh gút.
Căn nguyên và bệnh lý của bệnh thống phong (gút) trong y học cổ truyền là gì?
Bệnh gút tuy thuộc hội chứng đau khớp nhưng cơn đau dữ dội, tái phát, dai dẳng, gây biến dạng khớp và có nhiều biến chứng nên khác với bệnh đau khớp nói chung. Y học cổ truyền cho rằng bệnh phần lớn là do ngoại cảm bệnh tà thấp nhiệt, hoặc do phong hàn uất trệ lâu ngày hoá nhiệt, hoặc do nội thương gan thận, hoặc đau khớp mãn tính, huyết ứ, đờm tắc dẫn đến bệnh.
1/ Đau khớp do phong nhiệt: Đa phần là do phối hợp giữa ngoại cảm phong nhiệt và thấp, hoặc thấp nhiệt xâm nhập vào gân và lạc mạch, hoặc phong thấp hàn tà uất lại lâu ngày hoá nhiệt, gây trở ngại cho kinh lạc và các khớp, hoặc tố chất nội nhiệt (nóng trong) của người bệnh lại thêm cảm thụ phong thấp hàn tà, khiến cho bệnh tà phong thấp nhiệt lưu lại trong chi thể, kinh lạc và xương khớp, nghẽn tắc không thông mà thành nhiệt thống (đau và nóng). Chu Đan Khê trong {Cách chí dư luận * Thống phong luận} viết: “Bỉ thống phong dã giả, đại suất nhân huyết thụ nhiệt, dĩ tự phất đằng, kỳ hậu hoặc thiệp lãnh thuỷ, hoặc lập thấp địa, hoặc phiến thủ lương, hoặc ngoạ đương phong, hàn lương ngoại bác, nhiệt huyết đắc hàn hãn, hãn trọc ngưng sáp, sở dĩ tác thống. Dạ tắc thống thậm, hành vu âm dã” (彼痛风也者,大率因血受热,已自沸腾,其后或涉冷水,或立湿 地,或扇取凉,或卧当风,寒凉外搏,热血得寒汗,汗浊凝涩,所以作痛。夜则痛甚,行于阴也。) Bệnh nhân thống phong, phần lớn do máu nóng sôi sục, sau đó hoặc lội nước, hoặc ở nơi ẩm thấp, hoặc dùng quạt cho mát, hoặc nằm hóng gió, lạnh mát tác động từ bên ngoài, máu nóng gặp mồ hôi lạnh, mồ hôi ngưng sáp nên rất đau. Ban đêm đau nhiều, vì bệnh tà hành ở âm phận {Kim Quỹ Dực}: “Tạng phủ kinh lạc tiên hữu súc nhiệt, nhi phục ngộ phong thấp hàn chi khí khách chi, nhiệt vi hàn uất, khí bất đắc thông, cửu chi hàn diệc hoá nhiệt, tắc thống tí, phiến nhiên nhi muộn dã” Cố Tùng Viên {Y kính}: “Tà uất bệnh cửu, phong biến vi hoả, hàn biến vi nhiệt, thấp biến vi đàm”
Chu Đan Khê viết: Người bị bệnh gút cũng tự bốc hỏa vì huyết nhiệt, sau này có thể vì lội nước lạnh, hoặc ở nơi ẩm thấp, hoặc sử dụng quạt cho mát, hoặc nằm ở nơi nhiều gió. ngoại cảm phong hàn, máu nóng gặp mồ hôi lạnh, mồ hôi ngưng tu vì thế gây đau, ban đêm đau dữ dội, bệnh thuộc âm ”. “Kim Quỹ Dực”: “Các tạng và kinh lạc trước tiên tích nhiệt, sau gặp phong thấp mà lạnh. Do đó, nhiệt lạnh ngưng trệ, hơi thở không thông, lâu ngày hàn cũng hoá nhiệt, nên gây đau, tất nhiên phiền muộn. Cố Tùng Viên trong {Y Kinh}: (Bệnh tà uất lâu dài, phong biến thành hoả, hàn biến thành nhiệt, thấp biến thành đàm)
(2) Huyết ứ, đờm nghẽn tắc: Thường do phong hàn thấp nhiệt lưu trữ trong kinh lạc và xương khớp lâu ngày, hàn tà ngưng tụ, thấp tà gây trở ngại, nhiệt tà nung nấu tân dịch; Hoặc do chính khí không đầy đủ, can thận suy yếu, khí huyết vận hành không thông sướng mà gây ứ trệ. Khiến chi thể, khớp xương, kinh lạc khí huyết vận hành không thuận lợi mà biến sinh ứ huyết, đàm trọc, thâm nhập gân xương, lưu lại trong khớp xương, kết sâu gốc dễ, rất khó loại trừ, đàm và ứ kết lại, làm bệnh nặng hơn, khớp đau kịch liệt, các khớp xương biến dạng cứng đơ, trở thành bệnh ngoan cố.
Tóm lại, trung y cho rằng; Sự phát sinh của bệnh là do ngoại cảm bệnh tà phong hàn thấp nhiệt, lưu trữ lại không trừ khứ; Hoặc huyết ứ và đàm gây trở ngại; Hoặc chính khí không đầy đủ, can thận suy hư, khiến khí huyết vận hành không thông sướng, chi thể, kinh lạc, xương khớp bị trở ngại, bất thông tắc thống.
Những nhân tố liên quan đến thống phong (gút) là gì?
1/ Liên quan đến béo phì: Người có điều kiện ăn uống ưu việt dễ bị bệnh này. Người ta phát hiện bệnh nhân thống phong có thể trọng bình quân vượt qua tiêu chuẩn thể trọng 17,8%, đồng thời diện tích bề mặt của cơ thể càng lớn thì nồng độ acid uric huyết thanh càng cao. Sau khi người béo phì giảm cân thì nồng độ acid uric trong máu có thể giảm. Điều này cho thấy việc ăn quá nhiều và thừa cân trong thời gian dài có liên quan đến sự gia tăng liên tục của nồng độ axit uric trong máu.
2/ Có liên quan đến tăng lipid máu: khoảng 75% đến 84% bệnh nhân gút bị tăng triglycerid máu, một số bị tăng cholesterol máu. Để giảm bớt tình trạng bệnh người bệnh gút nên giảm cân, đạt tiêu chuẩn cân nặng sinh lý, kiểm soát chế độ ăn uống hợp lý, giảm tình trạng tăng mỡ máu.
3/ Có liên quan đến bệnh đái tháo đường: 0,1% ~ 0,9% bệnh nhân đái tháo đường có kèm theo bệnh gút, trong khi những người tăng acid uric máu chiếm 2% ~ 50%.
Có người cho rằng béo phì, tiểu đường và gút là bộ ba “sát thủ” của xã hội hiện đại.
4/ Có liên quan đến tăng huyết áp: Tỷ lệ mắc bệnh gút ở bệnh nhân tăng huyết áp là 12% đến 20%, và khoảng 25% đến 50% bệnh nhân gút có kèm theo tăng huyết áp. Trong số bệnh nhân tăng huyết áp không được điều trị, có khoảng 58% bị tăng acid uric máu.
5/ Liên quan đến xơ cứng động mạch: Béo phì, tăng lipid máu, tăng huyết áp và đái tháo đường có liên quan mật thiết đến sự xuất hiện của xơ cứng động mạch. Theo thống kê 100 ca bệnh tại bệnh viện chúng tôi có 42% bệnh nhân bị bệnh mạch máu não cấp do xơ cứng động mạch có tăng acid uric máu. Năm 1951, Gertler và cộng sự mô tả rằng một nhóm thanh niên mắc bệnh tim mạch vành có tăng acid uric máu có ý nghĩa thống kê.
(6) Liên quan đến uống rượu: Uống nhiều rượu bia trong thời gian dài có 3 điều bất lợi cho bệnh nhân gút: ① Có thể dẫn đến tăng axit uric máu và axit lactic máu. Điều này có thể gây ra một đợt viêm khớp gút cấp tính. ② Nó có thể kích thích sự gia tăng của purin. ③Chế độ thường ăn nhiều thức ăn giàu đạm, nhiều mỡ, nhiều purin, sau quá trình tiêu hóa và hấp thu thì thành phần purin trong máu cũng tăng theo, sau khi chuyển hóa trong cơ thể thì acid uric máu tăng cao có thể gây ra các cơn cấp của bệnh viêm khớp gút.
Các loại hình bệnh gút là gì?
Nói chung, nam giới trưởng thành bị viêm khớp cấp tính phải hết sức cảnh giác về khả năng mắc bệnh thống phong (gút), nếu nồng độ axit uric trong máu tăng cao thì có thể được chẩn đoán là bệnh gút. Những bệnh nhân có các triệu chứng điển hình và nồng độ axit uric trong máu thấp cần xét nghiệm máu nhiều lần hoặc lấy dịch khớp để tìm tinh thể urat natri, cũng có thể được chẩn đoán là bệnh gút.
Có hai loại bệnh gút, nguyên phát và thứ phát.
Ngay từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, nhà y học Hy Lạp Hippocrates đã chỉ ra rằng bệnh gút là một bệnh di truyền. Y học hiện đại cũng cho rằng phần lớn bệnh gút nguyên phát đều có tiền sử gia đình. Các triệu chứng ban đầu của bệnh có thể bắt đầu từ những năm 10 tuổi và tiếp tục đến khoảng 80 tuổi, với độ tuổi trung bình là khoảng 40 tuổi. 95% bệnh nhân là nam giới trưởng thành. Nhiều bệnh nhân có sự gia tăng đáng kể nồng độ axit uric trong máu trước khi bắt đầu các triệu chứng. Bệnh nhân nữ chiếm khoảng 5%, và hầu hết bệnh nhân chỉ xuất hiện các triệu chứng sau khi mãn kinh.
Bệnh gút thứ phát phần lớn do dung huyết bần huyết mạn tính, bệnh bạch cầu, u tủy, khối u ác tính, cường cận giáp, các bệnh có tính khí chất ở thận và các nguyên nhân khác gây suy giảm chức năng thận. Nói chung, thời điểm xuất hiện lần đầu tiên của bệnh gút thường là vài năm sau khi phát bệnh ban đầu. Ngoài ra, chế độ ăn và uống nhiều calo, nhiều purin cũng có thể gây ra bệnh gút.
Tăng acid uric máu nguyên phát là gì?
Cái gọi là tăng acid uric máu nguyên phát là tình trạng rối loạn chuyển hóa acid uric bẩm sinh không kèm theo các bệnh mắc phải khác, dẫn đến tăng nồng độ acid uric huyết thanh hoặc lắng đọng urat và các biểu hiện lâm sàng do hội chứng gút chi phối. Nó bao gồm hai loại lý do:
1/ Sản xuất quá nhiều axit uric: Một phần của hypoxanthine-guanine phosphoroside transferase (HGPRT) bị thiếu hoàn toàn, khiến 5-phosphoribose-1-pyrophosphate synthase (PRPP) tích tụ và đẩy nhanh quá trình tổng hợp purine, dẫn đến sản xuất quá nhiều axit uric. Ngoài ra, do hoạt động của enzym tổng hợp P RPP được tăng cường làm tăng tổng hợp purin, cũng là nguyên nhân dẫn đến sản sinh quá nhiều axit uric. Hai lý do trên đều liên quan đến việc thừa kế liên kết giới tính.
2/ Giảm bài tiết axit uric: Có liên quan đến di truyền trội nhiễm sắc thể. Sự biến đổi di truyền của tăng axit uric máu nguyên phát là rất lớn. Do đó có thể là do đa gen, nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến các biểu hiện di truyền của bệnh gút, chẳng hạn như tuổi tác, giới tính, ẩm thực và chức năng dạ dày, v.v.
Các biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm khớp do gút là gì?
Bệnh gút có thể do tinh thần căng thẳng, mệt mỏi, ăn quá nhiều, nghiện rượu, chấn thương tại chỗ, phẫu thuật và nhiễm trùng là những nguyên nhân gây ra bệnh.
Theo mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng bệnh gút, có thể chia thành thống phong (bệnh gút) cấp tính và thống phong (bệnh gút) mạn tính.
Một lượng lớn axit uric tích tụ trong cơ thể người bệnh tạo thành tăng axit uric máu, nếu lắng đọng trên xương và sụn sẽ gây ra các triệu chứng viêm khớp và trở thành bệnh viêm khớp gút tái phát.
Đau khớp là triệu chứng phổ biến nhất của bệnh gút. Các cơn cấp tính ban đầu thường xảy ra ở khớp cổ chân, bàn tay, cổ tay, đầu gối và khớp khuỷu tay, hiếm khi xảy ra ở các khớp thân như xương chậu, cột sống và vai. Cơn đầu tiên của bệnh nhân thường vào ban đêm, lúc đầu thường là một khớp đơn độc, biểu hiện sưng đỏ, nóng, đau, rối loạn vận động. Đau khớp như muốn xé xương, thậm chí sức nặng của chăn cũng không chịu nổi, trong phòng có người đi lại, rung lắc nặng nề cũng không chịu nổi.. Bệnh nhân cũng có thể có các triệu chứng như sốt cao, nhức đầu, hồi hộp, mệt mỏi, chán ăn, tăng số lượng bạch cầu, tốc độ lắng hồng cầu nhanh, acid uric máu trên 100ml, hơn 6mg ở nam, hơn 5mg ở nữ trước khi mãn kinh, và hơn 6mg sau khi mãn kinh. Các cơn cấp tính thường kéo dài từ 3 đến 10 ngày, và một số thuyên giảm sau vài tuần. Sau khi tình trạng bệnh thuyên giảm, hình dạng khớp và chức năng vận động cũng sẽ được phục hồi. Một số ít bệnh nhân sẽ không bị tấn công trong nhiều thập kỷ sau đợt viêm khớp cấp tính, nhưng hầu hết bệnh nhân sẽ bị một đợt khác sau 1 đến 2 năm, và thường nhiều khớp bị sưng và đau cùng một lúc. Bệnh có thể xảy ra quanh năm, nhưng thường xảy ra vào mùa xuân, hạ, thu. Số lượng các cơn tái phát ngày càng nhiều, lâu dần sẽ phát triển thành viêm khớp gút mãn tính. Sau khi bước sang giai đoạn mãn tính, các khớp có biểu hiện phì đại, hạn chế dần các hoạt động, mức độ tăng dần theo số lần, cuối cùng có thể hình thành biến dạng khớp, cứng khớp. Một số ít bệnh nhân có các triệu chứng nhẹ và không điển hình khi khởi phát ban đầu, và họ chờ đợi cho đến khi các triệu chứng như biến dạng khớp, nốt gút hoặc tổn thương thận xuất hiện. Sinh thiết các kết tiết (nốt) của bệnh gút và soi kính hiển vi ánh sáng phân cực của dịch khớp có thể phát hiện các tinh thể urat. Chụp X-quang ban đầu cho thấy tình trạng sưng tấy của các mô mềm xung quanh khớp, và sau đó xương gần khớp cho thấy các khuyết tật của xương giống như lỗ khoan hoặc như bị sâu đục khoét.
Các yếu tố kích thích sự khởi phát của bệnh viêm khớp do gút là gì?
Mặc dù cơ chế phát sinh bệnh sinh của viêm khớp do gút hiện nay vẫn chưa rõ ràng, nhưng người ta nhận thấy rằng các yếu tố sau đây có liên quan đến sự khởi phát của bệnh viêm khớp gút: Uống rượu, ăn một lượng lớn thức ăn giàu đạm, nhiều chất béo và nhiều purin, chấn thương, nhiễm trùng, mệt mỏi quá mức, phẫu thuật. Sử dụng một số loại thuốc như sulfa, insulin, thuốc trị liệu hóa học và thuốc lợi tiểu.
Làm thế nào để đối phó với đợt cấp của bệnh viêm khớp do gút?
Đầu tiên, tuyệt đối nằm nghỉ trên giường, nâng cao phần chi bị ảnh hưởng và tránh để trọng lượng lên các khớp bị ảnh hưởng. Nghỉ ngơi cho đến khi cơn đau khớp thuyên giảm sau 72 giờ và bắt đầu sinh hoạt trở lại. Lựa chọn đầu tiên là colchicine, có giá trị chẩn đoán và điều trị và có thể chấm dứt nhanh các cơn cấp. Trên lâm sàng, liều hiệu quả được sử dụng để điều trị hoặc ngăn ngừa bệnh gút thường từ 0,5 đến 1,5 mg. Các nhà nghiên cứu hiện đại khuyến cáo sử dụng colchicine 1,0-2,0mg / ngày, kết hợp với thuốc chống viêm không steroid như indomethacin, để đạt được hiệu quả lâm sàng tốt nhất và dễ dung nạp nhất. Nó cũng có thể được sử dụng để tiêm tĩnh mạch chậm 1 đến 2 mg colchicine hòa tan trong 20 ml nước muối thông thường. Thuốc có các tác dụng phụ như khó chịu đường tiêu hóa, chức năng gan bất thường, suy nhược tinh thần, liệt tăng dần lên, ức chế hô hấp,… Cần theo dõi chặt chẽ việc sử dụng colchicine. Glucocorticoid cũng có thể được sử dụng với liều lượng vừa và nhỏ qua đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch, nhưng nó không thích hợp để sử dụng lâu dài.
Tại sao những năm gần đây bệnh nhân gút của nước ta lại tăng lên từng năm?
Thời xưa, hoàng đế, bộ hạ, quan chức, quý tộc, là những người quyền quý, suốt ngày ăn uống, vui chơi nhưng tỷ lệ mắc bệnh gút rất cao. Sau khi mắc bệnh gút, những “Lão gia” (quan to) này thường xuyên bị những cơn đau tái phát hành hạ. Vì vậy, thời bấy giờ, bệnh còn được gọi là “Bệnh đế vương quý tộc”, “Bệnh phú quý”.
Sau này người ta phát hiện ra rằng bệnh gút là một bệnh phổ biến ở các nước Âu Mỹ. Theo thống kê của các chuyên gia liên quan, tỷ lệ mắc bệnh khoảng 0,3%, tương đương với tỷ lệ mắc bệnh ung thư. Nhiều nhà khoa học và nhân vật nổi tiếng trong lịch sử như Franklin, người phát minh ra điện, nhà sinh vật học vĩ đại Darwin, nhà vật lý vĩ đại Newton đều đã mắc phải căn bệnh này. Trước đây, người ta tin rằng tỷ lệ mắc bệnh này là tương đối hiếm ở các dân tộc phương Đông, nhưng thực tế đã chứng minh rằng tỷ lệ mắc bệnh đã tăng lên hàng năm trong những năm gần đây. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong thời kỳ phục hồi kinh tế của Nhật Bản, thực phẩm giàu chất đạm đã tăng lên theo cấp số nhân, và bệnh gút đã trở thành một căn bệnh cực kỳ phổ biến. Ở nước tôi, trước đây bệnh gút được coi là tương đối hiếm, nhưng gần đây, do điều kiện y tế ngày càng được cải thiện và nhân viên y tế ngày càng nâng cao nhận thức về bệnh gút nên đã bỏ sót và chẩn đoán nhầm thành viêm khớp dạng thấp, viêm đa khớp dạng thấp, Đan độc, và viêm xương khớp. Bệnh gút, viêm khớp do lao, viêm khớp dị ứng được chẩn đoán kịp thời; Mặt khác, với việc cải tiến phương thức sản xuất, giảm cường độ lao động chân tay, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, chế độ ăn cấu trúc đã thay đổi. Từ thực phẩm truyền thống chứa carbohydrate và protein thấp đến thực phẩm có hàm lượng protein cao hơn và một số người thiếu hoạt động thể chất hợp lý khiến cân nặng vượt quá tiêu chuẩn, tỷ lệ mắc bệnh gút cũng tăng lên đáng kể. Bệnh gút thường gặp ở phòng khám chuyên khoa viêm khớp dạng thấp do bệnh viện Quảng Hoa mở. Trước đây, bệnh nhân đa số là cán bộ, giáo viên, bác sĩ, kỹ sư,… Bây giờ mới thấy công nhân, nông dân cũng không phải là thiểu số. Theo thống kê trong 160 bệnh nhân gút của nước tôi thì có 120 người lao động trí óc như cán bộ, giáo viên chiếm 75%, 40 người lao động chân tay như công nhân, nông dân chiếm 25%.
Cần làm những kiểm tra y liệu nào để chẩn đoán bệnh gút?
(1) Xác định urat huyết thanh: Kết quả của các phương pháp xét nghiệm khác nhau khác nhau. Giá trị bình thường của phương pháp uricidase đối với nam giới thường được quy định là 7mg / dl ở nước ngoài, nữ giới thấp hơn nam giới khoảng 1mg / dl. Trong nước, nó là 2,4-7mg / dl cho nam và 1,6-5mg / dl cho nữ.
(2) Đo acid uric qua nước tiểu: Mức đào thải acid uric của chế độ ăn bình thường trong vòng 24 giờ là dưới 600mg. Nó không hữu ích lắm trong việc chẩn đoán viêm khớp cấp, vì hơn một nửa số bệnh nhân gút có đào thải acid uric qua nước tiểu bình thường, nhưng việc khám nước tiểu để hiểu rõ tình trạng đào thải acid uric sẽ giúp ích cho việc lựa chọn thuốc và xác định xem có phải sỏi tiết niệu do tăng acid uric hay không.
(3) Soi dịch khớp: Trong giai đoạn cấp tính, khi các khớp lớn hơn như mắt cá chân và đầu gối sưng tấy, có thể lấy dịch khớp để soi kính hiển vi quang học. Có thể thấy các tinh thể urat natri urat lưỡng chiết hình kim trong bạch cầu, có ý nghĩa chẩn đoán. Phân tích dịch khớp cũng có thể giúp chẩn đoán. Số lượng bạch cầu nói chung là từ 100 đến 7.000, lên đến 50.000, chủ yếu là bạch cầu hạt nhân phân thùy.
(4) Chụp Xquang: Ngoài sưng tấy các mô mềm trong viêm khớp cấp giai đoạn đầu, các khớp vẫn bình thường, xương chỉ thay đổi sau nhiều đợt tấn công, đầu tiên là bờ sụn khớp bị phá hủy, bề mặt khớp không đều. Khe khớp hẹp, ổ bệnh phát triển ở sụn, có thể thấy cục tophi lắng đọng ở xương dưới và tủy xương, xương là một khiếm khuyết đục lỗ, bất kể kích thước của khuyết tật, các cạnh sắc nhọn. Khi khuyết có hình bán nguyệt hoặc hình vòng cung liên tục, các gờ xương có thể có phản ứng tăng sinh.
(5) Kiểm tra đặc biệt để tìm hạt tophi: Sinh thiết để tìm nốt bệnh gút, hoặc xét nghiệm hóa chất đặc biệt (Murexude) giám định, đo quang phổ UV và đo phân hủy uricase.
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh gút là gì?
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh gút (Tiêu chuẩn chẩn đoán Hclmes của Hoa Kỳ (1985))
(1) Bạch cầu trong bao hoạt dịch có dấu hiệu thực bào các tinh thể urat.
(2) Có một lượng lớn tinh thể urat khi chọc dò hoặc sinh thiết nốt của tràn dịch khoang khớp.
(3) Những người bị viêm khớp cấp tính tái phát và tăng acid uric máu từng đợt không có triệu chứng, điều trị bằng colchicine kịp thời là có hiệu quả.
Trên 3 điểm, một trong số chúng có thể được chẩn đoán.
Hiện tại, không có tiêu chuẩn chẩn đoán thống nhất ở Trung Quốc. Trên lâm sàng thường gặp ở nam giới trung niên trở lên, đột ngột sưng, nóng, đau đớn các khớp ngón chân, khoeo, cổ chân, khớp gối,… kèm theo urat tăng thì nên nghĩ đến khả năng mắc bệnh gút. Kiểm tra dịch khớp tìm tinh thể urat, có thể chẩn đoán được. Ngoài ra, colchicine có thể được sử dụng như một phương pháp điều trị chẩn đoán.
Những bệnh nào cần chẩn đoán phân biệt với bệnh thống phong (gút)?
(1) Viêm khớp dạng thấp: Thường gặp ở phụ nữ trẻ và trung niên, thường gặp ở các khớp ngón tay và khớp nhỏ như cổ tay, khớp gối, cổ chân, xương cùng và cột sống, biểu hiện là viêm đa khớp di cư và đối xứng. Có thể gây cứng khớp, biến dạng khớp, trên cơ địa bệnh mãn tính, các đợt cấp lặp đi lặp lại rất dễ nhầm với bệnh gút nhưng acid uric máu không cao, hầu hết các yếu tố thấp khớp đều dương tính, chụp Xquang thấy bề mặt khớp gồ ghề, dính khớp, hẹp không gian hoặc thậm chí hợp nhất bề mặt khớp, với xương gút các khuyết tổn khác nhau đáng kể. Nếu chẩn đoán khó khăn, colchicine có thể được sử dụng như một phương pháp điều trị chẩn đoán, chẳng hạn như các triệu chứng của bệnh gút có thể thuyên giảm nhanh chóng từ 6 đến 12 giờ sau khi bôi thuốc điều trị bệnh gút.
(2) Viêm khớp hoá mủ và viêm khớp do chấn thương: Khởi phát ban đầu của bệnh gút tương tự như viêm khớp nhiễm trùng và viêm khớp do chấn thương. Tuy nhiên, urat máu của hai trường hợp sau không cao, không có tinh thể urat khi kiểm tra dịch khớp, viêm khớp do chấn thương thường có tiền sử chấn thương nặng, dịch khớp của viêm khớp nhiễm trùng có chứa một số lượng lớn bạch cầu, mà có thể được nuôi cấy để tạo ra vi khuẩn gây bệnh.
(3) Viêm mô tế bào: Các mô mềm xung quanh khớp thường sưng tấy, sưng tấy trong đợt cấp của bệnh gút, nếu bỏ qua các triệu chứng của khớp sẽ dễ bị chẩn đoán nhầm là viêm mô tế bào. Urat máu sau này không cao, các biểu hiện toàn thân như rét run, sốt, bạch cầu tăng cao, đau khớp thường không rõ ràng nên không khó chẩn đoán bằng cách chú ý phân biệt.
(4) Thống phong giả: Là do sụn khớp bị vôi hóa. Thường gặp hơn ở người cao tuổi. Thường gặp nhất ở khớp gối, triệu chứng giống như bệnh gút khi lên cơn cấp nhưng urat máu không cao. Dịch khớp có chứa tinh thể canxi pyrophosphat. Phim Xquang thấy hình ảnh sụn hiển thị sự vôi hóa.
(5) Viêm khớp vảy nến (vảy nến): thường ảnh hưởng không đối xứng đến các khớp liên đốt sống xa, kèm theo tổn thương và tàn phế khớp, mở rộng không gian khớp, tiêu xương ngón chân (ngón tay) và các khớp xương cùng cũng thường liên quan. Biểu hiện lâm sàng giống viêm khớp dạng thấp, có 20% acid uric máu tăng, không dễ phân biệt với bệnh gút.
(6) Các bệnh khớp khác: giai đoạn cấp phải phân biệt với lupus ban đỏ, viêm khớp tái phát và hội chứng Reiter, giai đoạn mạn tính phải phân biệt với di chứng của bệnh khớp phì đại, viêm khớp do chấn thương và nhiễm trùng, xét nghiệm acid uric máu là chẩn đoán hữu ích.
Thuốc tân dược điều trị bệnh gút là gì?
1/ Thuốc điều trị cho các cơn cấp tính
①Thu thuỷ tiên kiềm (Colchicine): Thuốc có tác dụng đặc hiệu đối với bệnh này. Thuốc bắt đầu với liều 0,5mg mỗi giờ hoặc 1mg mỗi 2 giờ và ngừng khi các triệu chứng thuyên giảm hoặc buồn nôn, nôn, tiêu chảy và các phản ứng đường ruột khác xảy ra. Nói chung, cần 4-8mg. Các triệu chứng có thể thuyên giảm trong vòng 6-12 giờ và kiểm soát được trong vòng 24-48 giờ. Sau đó, có thể tiêm 0,5mg, 2-3 lần mỗi ngày và ngừng thuốc sau vài ngày. . Bệnh nhân có phản ứng tiêu hóa nghiêm trọng có thể hòa tan 1 đến 2 mg thuốc này trong 20ml nước muối sinh lý thông thường và tiêm chậm trong vòng 5 đến 10 phút, tuy nhiên cần lưu ý không để thuốc bị rò rỉ, có thể mất từ 6 đến 8 giờ để tiêm lại. tùy theo tình trạng bệnh. Những người bị rối loạn chức năng thận không nên dùng quá 3mg trong vòng 24 giờ. Điều trị thực nghiệm có thể được áp dụng cho các trường hợp chẩn đoán khó, giúp ích cho việc chẩn đoán phân biệt. Tác dụng phụ là hói đầu và giảm bạch cầu.
② Bute hoặc hydroxybutazone: Có tác dụng chống viêm rõ rệt và có thể thúc đẩy quá trình đào thải acid uric ra ngoài, vẫn có hiệu quả đối với bệnh nhân mới khởi phát được vài ngày. Liều ban đầu là 0,2-0,4g, 0,1g mỗi 4-6 giờ sau đó giảm xuống 0,1g khi các triệu chứng cải thiện, ngày 3 lần, ngưng thuốc vài ngày liên tục. Thuốc này có thể gây chảy máu dạ dày và giữ nước và natri. Thuốc này được chống chỉ định ở những bệnh nhân bị bệnh loét đang hoạt động và suy tim. Đôi khi xảy ra tác dụng phụ giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu.
③Indomethacin: Tác dụng tương tự như Bute. Liều khởi đầu 25 – 30mg, 8 giờ 1 lần, 25mg sau khi đỡ các triệu chứng, ngày 2 – 3 lần trong 2 hoặc 3 ngày. Các tác dụng phụ bao gồm kích ứng đường tiêu hóa, giữ nước và natri, chóng mặt, nhức đầu, phát ban trên da, vv Không được dùng cho những người bị loét dạ dày tá tràng đang hoạt động.
④ Ibuprofen: 0,2 ~ 0,4g mỗi lần, 2 ~ 3 lần một ngày, có thể nhanh chóng kiểm soát các triệu chứng cấp tính trong vòng 2 ~ 3 ngày. Thuốc ít có tác dụng phụ, thỉnh thoảng có phản ứng đường tiêu hóa và tăng transaminase.
⑤Yantongxikang: 20mg mỗi ngày, 1 bữa ăn. Đôi khi có phản ứng về đường tiêu hóa, dùng thuốc lâu dài cần chú ý đến máu và chức năng gan thận.
⑥ Naproxen: 500 đến 750 mg uống mỗi ngày chia làm hai lần. Tác dụng phụ là nhỏ.
⑦ACTH và prednisone: Khi điều trị colchicine và các phương pháp điều trị khác không có hiệu quả đối với bệnh nặng, có thể bổ sung ACTH 25mg vào đường tĩnh mạch, hoặc tiêm bắp chia 40-80mg, thuốc này có tác dụng nhanh nhưng rất dễ “tác dụng ngược”. sau khi ngừng thuốc, đối với trường hợp “nhảy” tái phát, có thể bổ sung 0,5 mg colchicin 3 lần / ngày để ngăn “dội”. Thuốc prednisone đường uống cũng có tác dụng nhanh nhưng sau khi ngừng thuốc rất dễ tái phát. Vì sử dụng hormone trong thời gian dài có thể dễ dàng gây ra các biến chứng như tiểu đường và huyết áp cao, nên cố gắng không sử dụng hai loại này.
2/ Thuốc và điều trị thời kỳ gián đoạn và thời kỳ mạn tính
①Điều trị tổng quát: kiểm soát chế độ ăn uống, tránh ăn chế độ ăn nhiều purin như nội tạng động vật, tủy xương, hải sản, nghêu, cua. Bệnh nhân béo phì nên giảm lượng calo nạp vào cơ thể và giảm trọng lượng của họ. Uống nhiều nước hơn để bài tiết axit lợi tiểu. Tránh các yếu tố tác động như làm việc quá sức, căng thẳng, uống rượu, lạnh, ẩm ướt và tổn thương khớp.
② Công dụng của thuốc hạ acid uric máu: Theo chức năng thận và đào thải acid uric trong máu 24 giờ của bệnh nhân, những người có mức đào thải acid uric dưới 600 mg mỗi ngày và chức năng thận tốt thì nên sử dụng thuốc acid uric; chức năng thận suy giảm và đào thải hàng ngày của acid uric tăng cao Đối với bệnh nhân 600 mg thì dùng thuốc tổng hợp ức chế acid uric, bệnh nhân tăng acid uric máu đáng kể và có nhiều hạt tophi thì có thể dùng hai thuốc này cùng nhau. Nó có tác dụng làm giảm axit uric máu và đẩy nhanh quá trình thoái triển của hạt tophi, do hai nhóm thuốc này không có tác dụng chống viêm, giảm đau và trong quá trình sử dụng, axit uric có thể bị huy động vào tuần hoàn máu dẫn đến khả năng bị viêm khớp cấp tính nên không thích hợp dùng trong giai đoạn cấp tính.
A. Carboxysulfonamide (Probenecid): Là một loại thuốc axit uric. Ban đầu dùng 0,25g, ngày 2 lần, tăng lên 0,5g trong vòng 2 tuần, ngày 3 lần, liều tối đa mỗi ngày không quá 2g. Khoảng 5% bệnh nhân có các phản ứng phụ như phát ban trên da, sốt, kích ứng đường tiêu hóa, đau quặn thận và làm bùng phát các cơn cấp tính.
B. Benzenesulfonazole: Nó là một loại thuốc axit uric. Bắt đầu từ liều nhỏ, 50mg x 2 lần / ngày, tăng dần lên 100mg x 3 lần / ngày, liều tối đa hàng ngày là 600mg. Thuốc này có tác dụng kích thích niêm mạc dạ dày nên thận trọng khi dùng cho bệnh nhân loét.
C. Benzbromarone: thuốc giảm acid uric, 25-100mg x 1 lần / ngày. Có thể có các phản ứng tiêu hóa, đau quặn thận và khởi phát các đợt viêm khớp cấp tính.
D. Isopurinol: Là một loại thuốc ức chế sự tổng hợp axit uric. Mỗi lần 100mg, ngày 3 lần, có thể tăng lên 200mg, ngày 3 lần. Cá nhân bệnh nhân có thể bị các phản ứng phụ như sốt, phát ban dị ứng, đau bụng, tiêu chảy, bạch cầu và giảm tiểu cầu, thậm chí tổn thương chức năng gan. Thuốc thường có thể phục hồi sau khi ngừng thuốc và điều trị tương ứng. Nếu thỉnh thoảng xảy ra viêm da hoại tử, tình trạng nghiêm trọng và cần được cấp cứu ngay lập tức. Các cơn gút do axit uric di căn cũng có thể xảy ra khi dùng thuốc, có thể điều trị bằng colchicine.
③Ứng dụng colchicin: Ở những bệnh nhân bị gút tái phát nhiều lần, tình trạng viêm mạn tính không dễ kiểm soát, dù đã điều trị như trên nhưng đôi khi vẫn bị đau nhức khớp cục bộ hoặc lên cơn cấp tính, lúc này có thể dùng một liều nhỏ colchicin để duy trì, 0,5mg hoặc 1mg mỗi ngày.
④Khác: Cần điều trị triệu chứng cho những người bị tai biến hoặc có biến chứng như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, béo phì, nhiễm trùng đường tiết niệu, suy thận. Những người gặp khó khăn trong cử động khớp phải được điều trị bằng vật lý trị liệu và các bài tập. Các hạt tophi bị loét thành lỗ rò nên được phẫu thuật nạo.
(3) Điều trị và thuốc điều trị tăng acid uric máu không có triệu chứng: Người ta tin rằng những người có nồng độ urat trong máu dưới 8-9mg / dl không cần điều trị bằng thuốc, nhưng nên tránh ăn quá nhiều (đặc biệt là chế độ ăn nhiều purin), nghiện rượu và tiêu thụ quá mức. Các yếu tố gây ra cơn cấp như lao động, chấn thương và căng thẳng tinh thần. Tăng acid uric máu nên được điều trị bằng isopurinol.
(4) Điều trị và thuốc điều trị bệnh gút thứ phát: Ngoại trừ điều trị bệnh nguyên phát, nguyên tắc điều trị bệnh gút cũng giống như những điều đã nêu ở trên, Isopurinol là lựa chọn hàng đầu để hạ acid uric máu. Tuy nhiên, do quá trình sản sinh và đào thải acid uric ra ngoài nhiều nên các loại thuốc điều trị acid uric rất dễ làm tăng gánh nặng cho thận và không được sử dụng.
Đông y biện chứng luận trị bệnh thống phong (gút) như thế nào?
Y học cổ truyền trong thực hành lâm sàng thường chia bệnh gút thành ba loại sau:
1/ Loại hình thấp nhiệt
Triệu chứng chính: Khớp tay chân đau nhức, vùng đau sưng tấy nóng rát và đỏ, đau nhức dữ dội, gân mạch co quắp, không thể ấn nắn, không thể ra khỏi giường để hoạt động, chứng trạng nặng hơn về ban đêm. Đa số bệnh nhân có các biểu hiện như sốt, khát nước, buồn bực, ưa lạnh, không ưa nóng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô, mạch sác.
Phân tích chủ chứng: Nhiệt là dương, tính cấp bách, sau khi xâm nhập kinh lạc xương khớp của cơ thể, nó làm tổn thương khí và huyết của cơ thể, gân mạch co rút, kinh lạc tắc nghẽn nên phát sinh đau dữ dội, vùng đau sưng đỏ nóng rát và phát sốt, khát nước, bực bội, mạch hoạt sác, chất lưỡi hồng rêu lưỡi vàng, đều là biểu hiện đặc trưng của hoả nhiệt, cũng phản ảnh đặc điểm khi khí hoả thiêu đốt thì tân dịch dễ bị tổn hại nhất.
Trị pháp: Thanh nhiệt trừ phiền, hoạt huyết thông lạc.
Phương dược: Tuyên tí thang gia vị.
Phòng kỷ 10g, Hạnh nhân 10g, Hoạt thạch 10g, Liên kiều 10g Sơn chi 6g, Ý rĩ 30g, Bán hạ 6g, Tàm sa 10g, Xích tiểu đậu 10g, Khương hoàng 10g, Hải đồng bì 10g.
Phương giải: Phương này dùng Phòng kỷ để thanh nhiệt lợi thấp, thông lạc giảm đau, phụ với Hoạt thạch, Ý rĩ nhân vị nhạt thấp lợi thấp; Hạnh nhân tuyên lợi phế khí, Tàm sa, Bán hạ, Xích tiểu đậu trừ thấp hoá trọc; Liên kiều, Sơn chi, thanh tiết uất nhiệt, Hải đồng bì, Khương hoàng tuyên lạc khứ phong, trị đau lợi thấp. Khi thấp đã được trừ khứ, nhiệt đã thanh, kinh lạc thông sướng lan toả thì đau đớn tự hết. Nếu xương khớp sưng đỏ thậm có thể gia Tần giao, Ngân hoa đằng 30g, Hổ trượng 10g.Nếu đau kịch liệt gia Uy linh tiên 15g, Nhũ hương 6g, để hoạt huyết thông lạc, trị đau trừ tê. Nhiều thấp gia Tỳ giải 10g, Trạch tả 10g, để tăng cường tác dụng lợi thấp.
(2) Huyết ứ, đờm tắc.
Triệu chứng chính: Hội chứng đau khớp kéo dài, tái phát, khớp cứng và biến dạng, có màu đen sẫm gần khớp, đau dữ dội, không thể cử động, không thể co duỗi, hoặc đau và tê. Các khớp hay sưng đỏ và đau, kèm theo sốt và khát, nước tiểu ít và có màu đỏ; Hoặc khớp bị lạnh, đau dữ dội về mùa lạnh, khi được chườm nóng thì dễ chịu. Lưỡi có màu tím hoặc có ban màu sẫm (ứ ban), mạch tế sáp.
Phân tích chủ chứng: Chứng tí lâu ngày, kinh lạc và khí huyết đều bị ngưng trệ bởi tác nhân gây bệnh từ bên ngoài, khí huyết vận hành không thuận lợi sinh ra huyết ứ, đờm trọc. Lưu lại trong khớp và tuỷ xương, kết thành bệnh trầm kha khó điều trị. Đàm ứ kết lại với nhau, chứng tí tăng nặng nên xuất hiện đau nhói, đau co rút, đau kịch liệt; Khí huyết không thể đến mọi nơi nên cơ thể bị tê; Đàm và ứ lưu trữ lại, nên có vùng đau xác định, chung quanh khớp có màu sẫm. Lưỡi có ban ứ, mạch tế sáp đều là hiện tượng của ứ trệ.
Trị pháp: Hoạt huyết hoá ứ, hoá đàm thông lạc.
Phương dược: Thân thống trục ứ thang gia giảm.
Đào nhân 12g, Hồng hoa 12g, Đương quy 12g, Địa long 20g, Ngũ linh chi 9g, Xuyên khung 9g, Một dược 9g, Hương phụ 9g, Khương hoạt 12g, Tần giao 12g, Ngưu tất 20g, sinh Cam thảo 6g.
Phương giải: Trong phương có Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy hoạt huyết hoá ứ; Ngũ linh chi, Địa long khứ đàm thông lạc; Xuyên khung, Một dược, Hương phụ lý khí hoạt huyết trị đau; Khương hoạt, Tần giao khứ phong trừ thấp; Ngưu tất hoạt huyết thông lạc, mạnh mẽ gân xương, dẫn thuốc đi xuống nơi bệnh; Sinh Cam thảo điều hoà các vị thuốc. Các vị thuốc trên cộng lại có các tác dụng hoạt huyết hoá ứ, khứ đàm thông lạc và giảm đau. Đàm ứ lâu ngày gia thêm Toàn yết 6g, Ngô công 1 con, Ô tiêu xà 10g, Phong phòng 6g để hoạt huyết hoá ứ, trừ bệnh tà thông lạc mạch; Nếu dưới da có kết tiết (mấu, nút) gia Bạch giới tử 10g, Cương tàm 10g, để khứ đàm tán kết.
(3) Suy gan và thận
Các triệu chứng chính: Hội chứng đau khớp lâu ngày không lành, đau khớp, cứng khớp và biến dạng, cảm giác lạnh rõ rệt, teo cơ, sắc mặt nhợt nhạt không tươi, chân tay lạnh, lưng gù, đau thắt lưng và đầu gối, tiểu nhiều và phân nát, hoặc tiêu chảy, chất lưỡi trắng nhạt, mạch trầm nhược. Hoặc đau khớp, co kéo gân mạch, khi vận động thì tăng nặng, thân thể mệt mỏi vô lực, khó chịu, đổ mồ hôi trộm, chóng mặt, ù tai, mặt đỏ, hoặc sốt nhẹ dai dẳng, bốc nóng vào giờ thân (15h~17h), lưng gối mềm yếu và đau, khớp xương hoặc sưng đỏ nóng đau, hoặc biến dạng, không thể co duỗi, ngày nhẹ đêm nặng, miệng khô buồn bực, ăn ít, chất lưỡi hồng ít rêu, mạch tế.
Phân tích chủ chứng: Bệnh lâu ngày tổn hại đến can và thận. Dương khí không đầy đủ, phần bảo vệ bên ngoài không vững vàng nên ngoại tà dễ xâm phạm vì thế khớp xương bị đau, lúc nhẹ lúc nặng, tà khí ràng buộc lâu ngày khí huyết không được nuôi dưỡng nên co duỗi không thuận lợi, khớp bị cứng và biến dạng, gân cơ teo lại; Eo lưng là nơi ở của thận, gối là nơi ở của gân, eo gối mềm yếu vô lực, thậm chí cong eo gù lưng, là bệnh lâu ngày ảnh hưởng can thận, và là hiện tượng của can thận suy hư; Ăn ít phân nát, yếu sức hơi thở ngắn là tỳ dương cũng hư tổn, nguồn sinh hoá không đầy đủ; thân thể lạnh, chân tay lạnh, xướng khớp có cảm giác lạnh, tự hãn sợ gió đều thuộc chứng dương hư ngoại hàn. Nếu âm huyết không đầy đủ, thì gân mạch không được nuôi dưỡng, huyết hư sinh phong nên gân mạch bị liên luỵ co rút, xương khớp bị đau và khi vận động thì đau nhiều hơn; Âm suy dương kháng (mạnh) nên vựng đầu ù tai, đạo hãn, mắt đỏ, sốt nhẹ dai dẳng, miệng khô tâm phiền; Eo gối mềm yếu đau ê ẩm là hiện tượng tinh huyết của can thận không đầy đủ.
Trị pháp: Bổ ích can thận, trừ thấp thông lạc.
Phương dược: Độc hoạt ký sinh thang gia vị.
Độc hoạt, Tần giao, Phòng phong, Đương quy, Xuyên khung, Địa hoàng, Thược dược, Đỗ trọng, Ngưu tất đều 10~15g, Tế tân 3g, Nhục quế 10~15g, Phục linh, Tang ký sinh 15~30g, Nhân sâm 10~15g, Cam thảo 6g
Phương giải:Trong phương có Độc hoạt, Tần giao, Phòng phong, Tế tân, Nhục quế khứ phong trừ thấp, tán hàn trị đau; Nhân sâm, Phục linh, Cam thảo, Đương quy, Xuyên khung, Địa hoàng, Thược dược bổ ích khí huyết; Đỗ trọng, Ngưu tất, Tang ký sinh bổ ích can thận. Toàn phương có tác dụng ích can thận, bổ khí huyết, khứ phong thấp, trị tê đau. Thiên về dương hư, xương khớp đau và lạnh rõ rệt gia Phụ tử 5~10g, Can khương 5~10g để ôn dương tán hàn. Thiên về âm hư khứ Nhục quế gia Cẩu kỷ tử 5~10g, chế Thủ ô 5~10g để bổ ích can thận. Eo gối mềm yếu đau ê ẩm gia Hoàng kỳ 30g, Xuyên đoạn 15g để ích khí bổ thận. Da thịt tê dại gia Kê huyết đằng 30g, Lạc thạch đằng 15g để dưỡng huyết thông lạc.
Sử dụng thành dược điều trị thống phong (gút)
1/ Bát trân hoàn
Thành phần: Nhũ hương, Một dược, Đại giả thạch, Xuyên sơn giáp, Xuyên ô, Thảo ô, Khương hoạt, Toàn yết.
Công hiệu: Hoạt huyết thông lạc, khứ phong chỉ thống.
Chủ trị: Thống phong, biện chứng thuộc loại hình huyết ứ đàm nghẽn tắc.
Phục pháp: hoàn bằng hồ, viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần 11 hoàn, ngày 3 lần, uống bằng nước ấm.
2/ Tứ diệu tán
Thành phần: Uy linh tiên, Dương giác thán, Bạch giới tử, Thương nhĩ tử.
Công hiệu: Hoá đàm thông lạc, lý khí chỉ thống
Chủ trị: Thống phong, thuộc loại hình huyết ứ đàm trở.
Phục pháp: Mỗi lần 3g, ngày 3 lần.
3/ Kim quỹ thận khí hoàn
Chủ trị thống phong thuộc thận dương bất túc
Uống theo toa hướng dẫn
4/Lục vị địa hoàng hoàn
Chủ trị thống phong loại hình can thận bất túc thiên về âm hư.
Uống theo toa hướng dẫn.
Châm cứu điều trị thống phong
I/ Liệu pháp châm cứu
①Chủ huyệt: Thận du, Khí hải du, Bàng quang du, Quan nguyên, Tam âm giao. Phối huyệt dùng huyệt A thị cách vùng đau 1~2 thốn. Thủ pháp: Bình bổ bình tả, kích thích độ trung bình.
②Chủ huyệt: Cao manh, Vị du, Khí hải du, Bàng quang du, Đại tràng du, Trung quản, Quan nguyên, Khúc trì, Tam âm giao, Túc tam lý. Phối với các huyệt chung quanh chỗ đau. Thủ pháp: Bình bổ bình tả hoặc tả pháp.
③Chủ huyệt: Công tôn, Khúc trì, Phong thị, Ngoại quan, Dương lăng tuyền, Tam âm giao, Thủ tam lý. Phối với huyệt A thị cục bộ. Thủ pháp: Bình bổ bình tả hoặc tả pháp.
④Chủ huyệt: Túc tam lý, Tam âm giao, Phong long. Phối huyệt, bệnh ở ngón tay hoặc khớp ngón tay, gia Ngoại quan, huyệt A thị; Bệnh ở khớp thứ nhất của ngón chân cái, gia Đại đô, Thái bạch, Thái xung. Thủ pháp: Thời kỳ cấp dùng nhấp vê kim tả pháp, thời kỳ hồi phục dùng phép bình bổ bình tả.
⑤Thời kỳ cấp dùng các huyệt bên bị đau như Ẩn bạch, Đại đôn, Thái xung, Tam âm giao, Thái bạch, Thái khê, Chiếu hải, Túc tam lý, Can du, Thận du. Thủ pháp: Thời kỳ cấp tính điểm thích phóng huyết Ẩn bạch, Đại đôn, các huyệt khác dùng phép tả, thời kỳ hồi phục dùng phép bình bổ bình tả.
II/ ①Châm cứu ba chiều sinh học: Lấy các huyệt ba chiều (huyệt ở phía trụ của xương bàn tay thứ năm ở phía xuyên tâm của xương bàn tay thứ hai và thứ ba ở bên bị ảnh hưởng và các điểm tương ứng trên vị trí đau). Dùng kim số 28, dài1,5 thốn đâm vào một bên xương metacarpal và đâm kim theo chiều dọc trong 1~1,3 thốn, sau khi đắc khí, sử dụng tả pháp trong giai đoạn cấp tính, thời kỳ phục hồi dùng phép bình bổ bình tả (chỉ xoay mà không nâng và chèn). Cứ 5 phút lại châm 1 lần và lưu kim 30 phút.
② Dịch tiêm Đan sâm : Chọn các huyệt như Túc tam lý, Tam âm giao, Thái Bạch, Thái xung, Thái khê, Chiếu hải, Cam du, Thận du, mỗi lần tùy theo triệu chứng lâm sàng mà dùng 4 đến 6 huyệt, tiêm 0,5ml Đan sâm dịch vào mỗi huyệt, cách ngày 1 lần, 10 lần là một liệu trình.
Điều trị chứng thống phong bằng thuốc rượu
1/ Cửu đằng tửu
Thành phần và phép chế: Thanh đằng, Câu đằng, Hồng đằng, Đinh công đằng, Tang lạc đằng, Thố ti đằng, Thiên tiên đằng, Âm địa quyết mỗi vị 120g. Cộng chung tán thành bột, dùng Vô hôi lão tửu vừa phải, cho bột thuốc vào túi vải bông, ngâm vào rượu, cho tất cả vào lọ kín, không để hả hơi, mùa xuân ngâm 7 ngày, mùa đông ngâm 10 ngày, mùa hạ ngâm 5 ngày.
Công hiệu: Thư cân hoạt lạc, Thanh nhiệt trừ thấp, tuyên tí trị đau.
Dụng pháp: Mỗi lần uống 10ml, ngày uống 3 lần. Bệnh ở trên , uống sau khi ăn hoặc sau khi ngủ dậy. Bệnh ở dưới, uống trước khi ăn.
2/ Truy phong tửu
Thành phần và phép chế: Đương quy, Mộc qua, Ngưu tất, Khương hoạt, Đỗ trọng, Phục linh mỗi vị 18g Kỳ xà, Lôi công đằng đều 30g, Tam thất, Thuyền thoái, Thổ miết, Hồng hoa mỗi vị 6g, Câu kỷ, Địa cốt, sinh Xuyên ô, Sinh Thảo ô, sinh Mã tiền mỗi vị 6g, Ngô công 3 con, ngâm vào 3 lít rượu, sau nửa tháng có thể uống.
Công hiệu: Khứ phong thông lạc, hoạt huyết chỉ thống.
Chủ trị: Đau ngoan cố, đau xương
Dụng pháp: mỗi lần uống 15ml, mỗi ngày 2~3 lần.
3/ Sâm linh quất hồng tửu
Thành phần và phép chế: Nhân sâm 10g (hoặc Đảng sâm 30g), Phục linh 50g, Quất hồng 30g, Rượu trắng 1000ml. Đầu tiên ngâm Nhân sâm, Phục linh, Quất hồng vào rượu, đậy kín, ngâm 7 ngày trở lên.
Công hiệu: Ích khí hoạt huyết, hoá đàm thông lạc.
Chủ trị: Bệnh tí khí hư đàm nghẽn trở, da thịt tê đau, đau khớp
Dụng pháp: Mỗi ngày 30ml, uống trước khi ngủ.
4/ Mộc qua Ngưu tất tửu
Thành phần và phép chế: Mộc qua 120g, Ngưu tất 60g, Tang ký sinh 60g, dùng rượ Đại khúc 500ml, ngâm 7 ngày.
Công hiệu:Bổ can thận, khứ hàn thấp, thông kinh lạc, trị tê đau.
Chủ trị: Bệnh tí huyết ứ tắc nghẽn.
Dụng pháp: Mỗi lần uống 15ml, ngày 2 lần