Viêm họng mạn tính
Viêm họng mạn tính
Tài liệu tham khảo:
Nguyên nhân và triệu chứng điển hình của viêm họng mạn tính là gì?
Viêm họng mạn tính là tình trạng viêm lan tỏa ở niêm mạc họng, mô dưới niêm mạc và mô bạch huyết và thường là một phần của tình trạng viêm mạn tính ở đường hô hấp trên. Nói chung, diễn biến của bệnh kéo dài, dai dẳng và khó chữa.
Nguyên nhân của nó là:
(1) Viêm họng cấp tính tái phát và trở thành mạn tính.
(2) Mắc các bệnh về mũi, thở bằng miệng lâu ngày và chảy nước mũi, thường xuyên kích ứng họng, hoặc bị viêm amidan mạn tính, sâu răng, v.v.
(3) Hút thuốc và uống rượu quá nhiều trong thời gian dài hoặc bị kích thích bởi bụi hoặc khí độc hại có thể gây ra bệnh này.
(4) Các bệnh mạn tính khác nhau, như ứ huyết do thiếu máu, táo bón, bệnh tim mạch, viêm mạn tính đường hô hấp dưới, v.v., đều có thể gây ra bệnh này.
Các triệu chứng điển hình của viêm họng mạn tính là:
Cảm giác có dị vật trong cổ họng, ngứa, đau nhẹ, khô và rát, v.v.;
Thành sau của họng thường có dịch tiết dày đặc khó loại bỏ, đặc biệt là vào ban đêm, chúng phát ra âm thanh “bang bang”, có ý muốn làm sạch nhanh chóng.
Dịch tiết có thể gây ho khó chịu, thậm chí buồn nôn và ói mửa.
Nếu khám thấy niêm mạc họng sung huyết lan tỏa, màu đỏ sậm, tiết ít dịch dính thì đó là viêm họng đơn thuần mạn tính.
Các triệu chứng của viêm họng phì đại mạn tính bao gồm niêm mạc dày lên, sung huyết lan tỏa hoặc dày lên của vòm khẩu cái và mép khẩu cái mềm, và nhiều nang bạch huyết dạng hạt nổi lên ở thành sau họng.
Y học cổ truyền điều trị viêm họng mạn tính như thế nào?
Phương pháp điều trị viêm họng mạn tính bằng y học cổ truyền chủ yếu dựa vào 4 phương pháp chẩn đoán là vọng, văn, vấn, thiết (Xem, nghe, hỏi và thiết mạch) kết hợp với phương pháp khám chuyên khoa của y học hiện đại, kết hợp triệu chứng cục bộ với triệu chứng toàn thân để tiến hành biện chứng, căn cứ các nhân tố như thể chất, tuổi tác, mùa vụ để đề xuất trị pháp và phương dược cụ thể. Nội dung biện chứng luận trị đối với viêm họng mạn tính là:
I/ Hội chứng phế thận âm hư: Biểu hiện như cổ họng khô, ngứa và đau nhẹ, khó chịu, nóng rát, đặc biệt là về đêm, khoang họng hơi đỏ và sưng, khô dịch cơ thể, ho khan ít đờm, đau nhức và suy nhược cơ thể. lưng và đầu gối, lòng bàn tay, lòng bàn chân nóng; Chất lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Trị pháp: Tư bổ phế thận bổ phổi thận, giáng hỏa lợi yết.
Xử phương: Bách hợp cố kim thang gia giảm. Bách hợp, Sinh địa, Thục địa, Huyền sâm mỗi vị 15g, Mạch đông, Đương quy, Xuyên bối mẫu mỗi vị 12g, Cát cánh 10g, Ngưu tất 20g, Cam thảo 6g. Nếu họng rất khô gia thêm Bắc sa sâm15g, Thiên hoa phấn 12g. Nếu âm hư hiệp đàm, gia Đan bì, Đan sâm đều 15g.
(2) Hội chứng can kinh uất nhiệt: Khó chịu như có dị vật trong cổ họng, nhất là khi tâm trạng không thoải mái, ngực và hạ sườn trướng tức; Chất lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác.
Trị pháp: Sơ can thanh nhiệt, lý khí lợi yết.
Xử phương: Đan chi tiêu dao tán gia giảm. Đan bì 15g, Chi tử, Sài hồ, Uất kim, Phục linh, Đương quy mỗi vị 12g, Bạc hà 10g, Bạch thược 15g, Tô ngạnh 10g, Cam thảo 6g. Dưới họng nhiều mẩn đỏ , gia Cương tàm, Mẫu lệ sống đều 15g.
(3) Hội chứng khí trệ huyết ứ: Cổ họng khô rát, đau nhiều về ban đêm, giảm đau sau khi vận động, khoang họng đỏ sậm và dày lên, lưỡi sẫm màu hoặc bầm máu, rêu lưỡi mỏng, mạch sáp.
Trị pháp: Hành khí hoạt huyết, hóa ứ lợi yết.
Xử phương: Hoạt huyết lợi yết thang. Đương quy 15g, Hồng hoa 10g, Đào nhân 12g, Sinh địa hoàng 15g, Chỉ xác 12g, Cát cánh 10g, Thổ nguyên 10g, Sơn đậu căn 12g, Cam thảo 3g.
(4) Hội chứng đàm ẩm thượng kết: Cảm giác có dị vật rõ rệt trong hầu họng, khoang họng nhợt nhạt hoặc hơi đỏ, sưng và phì đại, đàm dính màu trắng ở đáy họng, ngực và hạ sườn trướng, buồn nôn và nôn, tức thắt vùng thượng vị, chán ăn, có đàm, rêu lưỡi trắng dính nhiều; Chất lưỡi nhạt rêu lưỡi trắng nhớt, mạch hoạt hoặc huyền hoặc mạch. Bài thuốc thích hợp dùng làm khô ẩm, tiêu đàm, tiêu ứ, làm dịu cổ họng. Dùng thuốc sắc làm tan đàm, làm dịu cổ họng. Công dụng làm thuốc: Bán hạ 12g, Trần bì 15g, Phục linh 12g, Đảm nam tinh 10g, Cương tàm 15g, Tô ngạnh 15g, Chiết bối mẫu 15g, Hải phù thạch 15g, cam thảo 3g.
(5) Hội chứng thận dương hư: Cổ họng khó chịu, tức nghẹn, nhất là khi gặp lạnh, khoang họng trắng nhợt và hơi sưng như dạng mỡ lợn, đáy họng có bìu trắng, miệng nhạt không khát hoặc khô. Hoặc họng khô thích uống nước nóng, mặt trắng bệch Tay chân lạnh, lưng và cột sống lạnh buốt, suy nhược, chất lưỡi nhạt rêu trắng, mạch trầm trì.
Trị pháp: Ôn thận tráng dương, tán hàn lợi nhiết.
Xử phương: Kim quỹ thận khí hoàn gia giảm. Chế phụ tử 6g, Thung dung 6g, Nhục quế 6g, Thục địa 15g, Sơn dược 12g, Sơn thù 12g, Đan bì 10g, Trạch tả 12g, Phục linh 15g, Tế tân 3g. Ăn uống kém, gia Biển đậu 15g, Sa nhân 10g, chấn tay lạnh, sợ lạnh, gia Quế chi 12g, Cẩu tích 12g.
Viêm họng cấp tính và mạn tính là gì và cách điều trị?
Viêm họng mạn tính phần lớn là do viêm họng cấp tính không được điều trị đầy đủ, cũng có thể do cảm lạnh nhiều lần, viêm hư hỏa, ảnh hưởng phế âm, cổ họng. Các triệu chứng chính là cảm giác có vật lạ trong cổ họng, ngứa và ho, không có đàm, khàn giọng hoặc thay đổi giọng nói. Lúc này, việc điều trị tập trung vào Dưỡng âm thanh phế.
Dược liệu gồm: Sơn đậu căn 6g, Mạch đông 10g, Thạch hộc 6g, Kim quả lãm 6g, Cát cánh 3g, Xạ can 5g, Sinh địa 10g, Đan bì 6g, Chi tử 3g (sao), Cam thảo 3g, sắc còn 150~200ml, phân 2~3 lần uống ấm.
Trong phương có Sơn đậu can, Kim quả lãm, Xạ can, Cát cánh, lợi yết hầu, tiêu viêm giảm đau, Mạch đông, Thạch hộc, Sinh địa, Đan bì dưỡng âm sinh tân dịch và thanh nhiệt, Chi tử, Cam thảo thanh nhiệt lợi khiếu giải độc.
Trường Xuân dịch
19/9/2023