Khái quát
Viêm gan do virus là nhóm bệnh truyền nhiễm gây tổn thương tế bào gan, thường gặp nhất gồm viêm gan A, B, C, D và E. Bệnh có thể biểu hiện cấp tính, mạn tính, kèm vàng da, ứ mật hoặc tiến triển thành suy gan nặng.
Triệu chứng thường gặp gồm mệt mỏi, chán ăn, ngán dầu mỡ, buồn nôn, bụng đầy, đau tức hạ sườn phải, nước tiểu sẫm, vàng mắt, vàng da và chức năng gan bất thường. Một số người nhiễm virus không có triệu chứng rõ ràng mà chỉ được phát hiện qua xét nghiệm.
Trong Trung y, viêm gan do virus không thuộc một bệnh danh duy nhất mà có thể được xem xét trong phạm vi các chứng “Hoàng đản” 黃疸, “Hiếp thống” 脅痛, “Can trước” 肝著, “Tích tụ” 積聚, “Cổ trướng” 鼓脹 và “Hư lao” 虛勞.
Bệnh vị chủ yếu ở Can và Đởm, đồng thời liên quan mật thiết đến Tỳ, Vị và Thận. Bệnh mới phát thường thiên về thấp nhiệt, dịch độc và Can khí uất trệ; bệnh kéo dài có thể xuất hiện Tỳ hư, khí trệ huyết ứ, Can Thận âm hư hoặc Tỳ Thận dương hư.
Nguyên nhân và bệnh cơ
Ngoại cảm thấp nhiệt, dịch độc
Thấp nhiệt hoặc dịch độc xâm nhập cơ thể, trước hết ảnh hưởng Trung tiêu, làm Tỳ Vị mất vận hóa. Thấp nhiệt không được chuyển hóa sẽ hun đốt Can Đởm, khiến Can mất sơ tiết, Đởm dịch không theo đường bình thường mà tràn ra da, mắt và tiểu tiện, từ đó phát thành hoàng đản.
Thấp có tính dính trệ nên bệnh thường kéo dài; nhiệt có tính hun đốt nên dễ làm vàng da tăng, miệng đắng, tiểu vàng và lưỡi đỏ.
Ăn uống không điều độ
Ăn quá nhiều thức ăn dầu mỡ, ngọt béo, cay nóng, uống rượu hoặc ăn uống thất thường làm tổn thương Tỳ Vị.
Tỳ mất kiện vận, thấp trọc phát sinh. Thấp tích lâu ngày hóa nhiệt, xông lên Can Đởm, khiến khí cơ không thông và Đởm dịch bài tiết bất lợi.
Can khí uất kết
Tình chí căng thẳng, lo nghĩ hoặc uất ức làm Can mất điều đạt. Can khí uất trệ có thể gây đau tức hạ sườn, ngực bụng đầy, hay thở dài, ăn uống kém.
Can khí uất lâu ngày có thể hóa hỏa, ảnh hưởng Tỳ Vị hoặc làm huyết hành không thông.
Tỳ khí hư yếu
Bệnh kéo dài, ăn uống giảm hoặc dùng thuốc đắng lạnh lâu ngày làm Tỳ khí suy. Tỳ không vận hóa được thủy thấp, thấp trọc lưu lại, khiến người bệnh mệt mỏi, bụng đầy, phân lỏng và hồi phục chậm.
Khí trệ huyết ứ
Bệnh lâu nhập lạc. Can khí không thông khiến huyết hành đình trệ; thấp nhiệt và đàm trọc cũng có thể cản trở Can lạc, hình thành huyết ứ.
Biểu hiện thường là đau hạ sườn cố định, gan lách to, sắc mặt tối, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết.
Can Thận âm hư
Bệnh kéo dài, sốt, vàng da hoặc thuốc khổ hàn làm hao tân dịch và âm huyết. Can Thận âm hư khiến người bệnh miệng khô, hoa mắt, ù tai, mất ngủ, nóng trong lòng bàn tay bàn chân và đau âm ỉ hạ sườn.
Tỳ Thận dương hư
Bệnh lâu làm Tỳ dương suy, sau đó liên lụy Thận dương. Dương khí không đủ vận hóa thủy thấp có thể dẫn đến sợ lạnh, tay chân lạnh, bụng trướng, phù, cổ trướng và tiểu ít.
Biện chứng luận trị
Thấp nhiệt uẩn kết
Biểu hiện
Vàng mắt, vàng da, màu vàng tươi hoặc vàng đậm, miệng đắng, khát, buồn nôn, chán ăn, bụng đầy, hạ sườn đau tức, tiểu vàng đỏ, đại tiện táo hoặc không thông sảng, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uẩn kết Can Đởm, làm Đởm dịch tràn ra ngoài.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, giải độc thoái hoàng.
Phương thang
Nhân Trần Hao Thang gia giảm.
Nhân trần, Chi tử, Đại hoàng.
Có thể phối hợp Hoàng cầm, Trạch tả, Xa tiền tử, Bạch mao căn, Hổ trượng và Uất kim tùy chứng.
Gia giảm
Nhiệt rõ, sốt và miệng đắng có thể gia Hoàng cầm, Hoàng liên.
Buồn nôn có thể gia Trúc nhự, Bán hạ chế.
Đau hạ sườn có thể gia Uất kim, Phật thủ, Xuyên luyện tử.
Đại tiện bí chỉ cân nhắc Đại hoàng khi thực nhiệt rõ.
Chú ý
Không nên tự dùng Nhân trần hoặc Đại hoàng với liều lớn để “thải độc gan”. Người Tỳ hư, phân lỏng, huyết áp thấp hoặc suy thận cần đặc biệt thận trọng.
Thấp nặng hơn nhiệt
Biểu hiện
Vàng da không tươi, người nặng nề, mệt mỏi, bụng đầy, ăn ít, buồn nôn, miệng nhạt dính, phân lỏng, tiểu ít, lưỡi nhạt hoặc hơi đỏ, rêu trắng dày nhớt, mạch nhu hoãn.
Bệnh cơ
Thấp trọc khốn Tỳ, thanh dương không thăng, Can Đởm sơ tiết bất lợi.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa thấp, lợi thủy thoái hoàng.
Phương thang
Nhân Trần Ngũ Linh Tán hợp Bình Vị Tán gia giảm.
Nhân trần, Phục linh, Trư linh, Trạch tả, Bạch truật, Thương truật, Hậu phác, Trần bì.
Ăn kém có thể gia Sơn tra, Mạch nha, Kê nội kim.
Buồn nôn có thể gia Bán hạ chế, Sa nhân.
Thấp nhiệt khốn Tỳ
Biểu hiện
Mệt mỏi, ăn ít, ngán dầu mỡ, buồn nôn, bụng đầy, tiểu vàng ít, phân sền sệt, lưỡi rêu trắng nhớt hoặc vàng nhớt.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt vây khốn Trung tiêu, Tỳ mất vận hóa.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, phương hương hóa trọc.
Phương thang
Cam Lộ Tiêu Độc Đan gia giảm.
Nhân trần, Hoạt thạch, Hoàng cầm, Hoắc hương, Liên kiều, Bạch đậu khấu, Bạc hà, Phục linh.
Tiểu tiện khó có thể gia Trạch tả, Xa tiền tử.
Đầy bụng gia Chỉ xác, Đại phúc bì.
Can uất khí trệ
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn, vị trí đau không cố định, ngực bụng đầy, hay thở dài, ăn uống giảm, ợ hơi, cảm xúc dễ căng thẳng, lưỡi rêu mỏng, mạch huyền.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, khí cơ uất trệ, ảnh hưởng Tỳ Vị.
Phép trị
Sơ Can lý khí, hòa Vị.
Phương thang
Sài Hồ Sơ Can Tán hoặc Tứ Nghịch Tán gia giảm.
Sài hồ, Chỉ xác, Bạch thược, Hương phụ, Trần bì, Uất kim, Phật thủ, Cam thảo.
Đau rõ có thể gia Diên hồ sách.
Ăn kém có thể gia Sơn tra, Mạch nha.
Can uất Tỳ hư
Biểu hiện
Hạ sườn đau tức, mệt mỏi, ăn ít, bụng đầy sau ăn, phân nhão, sắc mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt có dấu răng, mạch huyền nhược.
Bệnh cơ
Can khí uất trệ ảnh hưởng Tỳ, Tỳ khí hư không vận hóa được thấp.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, ích khí hóa thấp.
Phương thang
Tiêu Dao Tán hoặc Sài Thược Lục Quân Tử Thang gia giảm.
Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Đảng sâm, Trần bì, Bán hạ chế, Cam thảo.
Mệt nhiều có thể gia Hoàng kỳ.
Phân lỏng có thể gia Sơn dược, Biển đậu.
Khí trệ huyết ứ
Biểu hiện
Đau hạ sườn cố định, đau như châm chích, về đêm đau tăng, gan hoặc lách to, sắc mặt tối, môi tím, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Bệnh lâu nhập lạc, khí trệ làm huyết hành không thông.
Phép trị
Sơ Can lý khí, hoạt huyết hóa ứ, thông lạc.
Phương thang
Cách Hạ Trục Ứ Thang hoặc Huyết Phủ Trục Ứ Thang gia giảm.
Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Đan sâm, Uất kim, Sài hồ, Chỉ xác.
Chú ý
Người giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu, xuất huyết tiêu hóa hoặc đang dùng thuốc chống đông không được tự dùng thuốc hoạt huyết mạnh.
Can Thận âm hư
Biểu hiện
Đau âm ỉ hạ sườn, miệng họng khô, hoa mắt, ù tai, mất ngủ, nóng trong lòng bàn tay bàn chân, lưng gối mỏi, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Bệnh lâu làm Can Thận âm huyết hao tổn, Can mất nhu dưỡng.
Phép trị
Tư dưỡng Can Thận, nhu Can, điều khí.
Phương thang
Nhất Quán Tiễn gia giảm.
Sinh địa, Bắc sa sâm, Mạch môn, Câu kỷ tử, Đương quy, Bạch thược, Xuyên luyện tử.
Mất ngủ có thể gia Toan táo nhân, Dạ giao đằng.
Đau hạ sườn có thể gia Uất kim, Phật thủ.
Tỳ Thận dương hư
Biểu hiện
Mệt mỏi nhiều, sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn ít, bụng trướng, phân lỏng, phù hoặc cổ trướng, tiểu ít, lưỡi nhạt to, rêu trắng trơn, mạch trầm nhược.
Bệnh cơ
Tỳ Thận dương suy, khí hóa không hành, thủy thấp đình tụ.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, hóa khí hành thủy.
Phương thang
Lý Trung Thang, Hữu Quy Hoàn hoặc Thực Tỳ Ẩm gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Can khương, Phục linh, Hậu phác, Đại phúc bì.
Phụ tử chế chỉ được dùng khi có chỉ định chuyên môn.
Viêm gan thể nặng
Viêm gan thể nặng có thể biểu hiện vàng da tăng nhanh, xuất huyết, bụng trướng, cổ trướng, rối loạn ý thức, tiểu ít hoặc suy đa cơ quan.
Theo Trung y, bệnh thường thuộc thấp nhiệt độc thịnh, nhiệt nhập doanh huyết, đàm trọc bế khiếu hoặc chính khí suy thoát.
Các phép thường được đề cập gồm thanh nhiệt giải độc, lợi thấp thoái hoàng, lương huyết, hóa đàm khai khiếu, ích khí dưỡng âm hoặc hồi dương cứu nghịch.
Tuy nhiên, đây là cấp chứng nguy hiểm. Không được tự dùng Đại hoàng liều lớn, An Cung Ngưu Hoàng Hoàn, Tử Tuyết Đan, thuốc lợi thủy hoặc thuốc hoạt huyết để xử lý tại nhà. Mọi phương pháp Trung y chỉ có thể được phối hợp tại cơ sở hồi sức chuyên khoa.
Một số vị thuốc thường dùng
Nhân trần
Có công năng thanh lợi thấp nhiệt, lợi Đởm thoái hoàng. Thích hợp với hoàng đản thuộc thấp nhiệt.
Không dùng kéo dài ở người Tỳ Vị hư hàn, phân lỏng hoặc không có dấu hiệu thấp nhiệt.
Uất kim
Có công năng hành khí giải uất, hoạt huyết chỉ thống, lợi Đởm thoái hoàng. Thường dùng khi hạ sườn đau tức, khí trệ và vàng da.
Đan sâm
Có công năng hoạt huyết hóa ứ, lương huyết, thường dùng khi bệnh kéo dài và Can lạc ứ trệ.
Người có nguy cơ xuất huyết cần dùng thận trọng.
Hổ trượng
Có công năng thanh nhiệt giải độc, lợi thấp thoái hoàng và hoạt huyết. Vị thuốc tương đối khổ hàn, không nên dùng dài ngày ở người Tỳ hư.
Bạch mao căn
Có công năng thanh nhiệt, lương huyết, lợi niệu. Thường phối hợp khi thấp nhiệt kèm tiểu vàng hoặc huyết nhiệt.
Kim tiền thảo
Có công năng thanh nhiệt lợi thấp, lợi Đởm. Thường được dùng khi thấp nhiệt Can Đởm, nhưng không phải thuốc có thể làm tan mọi loại sỏi hoặc trực tiếp loại bỏ virus.
Nguyên tắc sử dụng Trung dược
Biện chứng trước khi dùng thuốc
Không nên chỉ căn cứ kết quả xét nghiệm HBsAg, HCV-RNA hoặc men gan để chọn một bài thuốc cố định. Cần xem xét toàn bộ triệu chứng, lưỡi, mạch, thể trạng và giai đoạn bệnh.
Không dùng quá nhiều thuốc
Gan là cơ quan chuyển hóa thuốc. Dùng nhiều thành dược, thuốc sắc, thực phẩm bổ sung và thuốc Tây cùng lúc có thể làm tăng nguy cơ tổn thương gan.
Không chỉ nhằm hạ men gan
Men gan giảm không đồng nghĩa virus đã được kiểm soát hoặc gan đã hồi phục hoàn toàn. Cần theo dõi đồng thời tải lượng virus, chức năng tổng hợp của gan, mức độ xơ hóa và hình ảnh học.
Không tự ngừng thuốc kháng virus
Người viêm gan B hoặc C mạn đã có chỉ định điều trị không được tự ngừng thuốc khi men gan trở lại bình thường. Việc ngừng thuốc không đúng có thể làm virus bùng phát và bệnh nặng lên.
Không dùng thuốc khổ hàn kéo dài
Thanh nhiệt giải độc chỉ thích hợp khi thấp nhiệt và nhiệt độc rõ. Dùng quá lâu có thể làm Tỳ Vị suy yếu, gây chán ăn, đầy bụng, tiêu chảy và mệt mỏi.
Không xem Trung dược là thuốc diệt virus
Trung dược có thể hỗ trợ điều hòa Tạng phủ, cải thiện triệu chứng và thể trạng, nhưng không thay thế điều trị kháng virus đã được xác định.
Điều dưỡng
Nghỉ ngơi
Giai đoạn cấp hoặc viêm gan mạn đang hoạt động cần nghỉ ngơi thích hợp, tránh thức khuya, lao động nặng và vận động quá sức.
Khi triệu chứng giảm và chức năng gan ổn định, có thể tăng dần hoạt động như đi bộ hoặc tập nhẹ.
Ăn uống
Ăn đủ dinh dưỡng, dễ tiêu và điều độ. Không cần kiêng khem quá mức nếu chưa có chỉ định đặc biệt.
Nên dùng lượng đạm phù hợp từ cá, thịt nạc, trứng, sữa hoặc đậu, căn cứ tình trạng gan và dinh dưỡng.
Hạn chế món quá nhiều dầu mỡ, chiên rán, thực phẩm sống không bảo đảm vệ sinh và thức ăn quá cay khi đường tiêu hóa đang nhạy cảm.
Kiêng rượu bia hoàn toàn.
Giữ tinh thần điều hòa
Can chủ sơ tiết. Căng thẳng kéo dài có thể làm khí cơ Can Đởm không điều đạt, khiến đau tức hạ sườn và rối loạn tiêu hóa rõ hơn.
Nên duy trì giấc ngủ, sinh hoạt điều độ và các hoạt động nhẹ nhàng phù hợp.
Phòng ngừa
Viêm gan A và E chủ yếu liên quan đường phân – miệng, cần ăn chín, uống nước sạch và giữ vệ sinh tay.
Viêm gan B, C và D chủ yếu cần phòng phơi nhiễm máu, dùng chung kim tiêm, dao cạo hoặc vật dụng có thể dính máu.
Thực hiện tiêm chủng viêm gan A và B theo khuyến cáo hiện hành.
Phụ nữ mang thai có viêm gan B cần được theo dõi chuyên khoa để dự phòng lây truyền từ mẹ sang con.
Dấu hiệu cần đi khám ngay
Vàng da tăng nhanh.
Nôn nhiều, không ăn uống được.
Đau hạ sườn phải dữ dội.
Nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen.
Bụng trướng nhanh, phù chân.
Ngủ gà, hành vi bất thường hoặc rối loạn ý thức.
Tiểu ít hoặc vô niệu.
Sốt cao, rét run.
Kết luận
Theo Trung y, viêm gan do virus chủ yếu liên quan đến thấp nhiệt, dịch độc, Can khí uất trệ và Tỳ mất vận hóa. Bệnh kéo dài có thể phát triển thành khí trệ huyết ứ, Can Thận âm hư hoặc Tỳ Thận dương hư.
Điều trị cần căn cứ từng thể bệnh để vận dụng các phép thanh nhiệt lợi thấp, giải độc thoái hoàng, sơ Can lý khí, kiện Tỳ hóa thấp, hoạt huyết thông lạc, dưỡng âm hoặc ôn dương.
Nói tóm lại, Trung y có thể góp phần cải thiện triệu chứng và điều hòa thể trạng, nhưng phải được sử dụng trên cơ sở xác định rõ loại virus, mức độ hoạt động, chức năng gan và tình trạng xơ hóa. Việc phối hợp với điều trị và theo dõi của y học hiện đại là nguyên tắc quan trọng trong quản lý viêm gan do virus.
Trường Xuân biên soạn