Khái quát
Viêm gan thể nặng là tình trạng tế bào gan bị tổn thương và hoại tử trên diện rộng, chức năng gan suy giảm nhanh chóng, có thể kèm vàng da tăng nhanh, xuất huyết, rối loạn ý thức, cổ trướng, phù não, suy thận và nhiễm khuẩn.
Đây là một bệnh trạng đặc biệt nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao và bắt buộc phải được điều trị tại bệnh viện có khả năng hồi sức tích cực, lọc máu, hỗ trợ gan hoặc ghép gan khi cần thiết. Trung y chỉ có thể được sử dụng phối hợp trong một số giai đoạn thích hợp, không thể thay thế điều trị cấp cứu hiện đại.
Trong Trung y, viêm gan thể nặng có thể được xem xét trong phạm vi các chứng “Cấp hoàng” 急黃, “Ôn hoàng” 瘟黃, “Dịch hoàng” 疫黃, “Thần hôn” 神昏, “Huyết chứng” 血證, “Cổ trướng” 鼓脹 và “Quan cách” 關格.
Bệnh vị chủ yếu ở Can, Đởm, Tỳ và Thận; khi bệnh nguy cấp còn liên lụy đến Tâm bào và não khiếu. Bệnh cơ thường là thấp nhiệt, dịch độc, nhiệt độc và ứ huyết kết lại, làm Can Đởm sơ tiết thất thường, Tỳ mất vận hóa, huyết lạc bị tổn thương; bệnh tiến triển nặng có thể xuất hiện nhiệt nhập Tâm bào, âm dịch hao kiệt, dương khí thoát hoặc âm dương ly quyết.
Nguyên nhân và bệnh cơ
Dịch độc xâm nhập
Dịch độc và thấp nhiệt từ bên ngoài xâm nhập cơ thể, uẩn kết ở Can Đởm. Tà độc mạnh, truyền biến nhanh, làm Can khí không sơ, Đởm dịch tràn ra ngoài mà phát thành hoàng đản.
Nếu chính khí suy yếu hoặc tà độc quá thịnh, bệnh có thể nhanh chóng từ khí phận đi vào doanh huyết, làm huyết lạc tổn thương và thần minh bị che lấp.
Thấp nhiệt uẩn kết
Thấp có tính nặng đục và dính trệ; nhiệt có tính hun đốt và bức bách. Thấp nhiệt kết ở Trung tiêu và Can Đởm làm Tỳ mất vận hóa, Đởm dịch không thông, xuất hiện vàng da, chán ăn, bụng đầy, buồn nôn, tiểu vàng và mệt mỏi.
Thấp nhiệt thịnh lâu ngày hóa độc, có thể làm vàng da tăng nhanh, sốt, xuất huyết và rối loạn ý thức.
Nhiệt độc nhập doanh huyết
Khi nhiệt độc quá thịnh, tà từ khí phận truyền vào doanh huyết, làm huyết nhiệt vọng hành. Người bệnh có thể xuất hiện chảy máu chân răng, xuất huyết dưới da, nôn ra máu, đại tiện phân đen hoặc xuất huyết tại nhiều vị trí.
Nhiệt nhập Tâm bào
Nhiệt độc, đàm trọc và ứ huyết che lấp thanh khiếu, làm thần minh không sáng. Biểu hiện có thể là bồn chồn, nói sảng, hành vi bất thường, ngủ gà, mê man hoặc hôn mê.
Tỳ hư thấp trệ
Bệnh kéo dài, ăn uống kém và thuốc khổ hàn làm Tỳ khí suy yếu. Tỳ không vận hóa được thủy thấp, thấp trọc càng tích tụ, biểu hiện bụng trướng, cổ trướng, phù, tiểu ít, người mệt và lưỡi nhạt to.
Khí âm hao thương
Sốt, vàng da, nôn, ăn uống kém và bệnh kéo dài làm khí âm cùng tổn thương. Người bệnh có thể mệt lả, miệng khô, tự ra mồ hôi, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác hoặc vi nhược.
Dương khí suy thoát
Khi chính khí suy kiệt, dương khí không giữ được, người bệnh xuất hiện tay chân lạnh, mồ hôi lạnh, sắc mặt trắng xám, huyết áp giảm, tiểu ít, ý thức suy giảm và mạch vi muốn tuyệt.
Đây là tình trạng nguy cấp, tương ứng với suy tuần hoàn và suy đa cơ quan, không thể chỉ xử lý bằng Trung dược.
Biện chứng luận trị
Thấp nhiệt độc thịnh
Biểu hiện
Vàng da tăng nhanh, màu vàng tươi hoặc vàng sẫm, sốt, miệng đắng, khát, buồn nôn, chán ăn, bụng đầy, tiểu vàng đỏ, đại tiện bí hoặc không thông sảng, lưỡi đỏ, rêu vàng dày nhớt, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt và dịch độc uẩn kết Can Đởm, làm khí cơ bế tắc, Đởm dịch tràn ra ngoài.
Phép trị
Thanh nhiệt giải độc, lợi thấp thoái hoàng, thông phủ tiết trọc.
Phương thang
Nhân Trần Hao Thang hợp Cam Lộ Tiêu Độc Đan gia giảm.
Nhân trần, Chi tử, Hoàng cầm, Hoàng liên, Liên kiều, Hoạt thạch, Phục linh, Bạch mao căn, Hổ trượng, Bại tương thảo.
Đại tiện bí, thực nhiệt rõ có thể cân nhắc Đại hoàng với lượng thích hợp.
Chú ý
Người bệnh viêm gan thể nặng thường có rối loạn đông máu, suy thận và huyết áp không ổn định. Không được tự dùng thuốc công hạ, lợi thủy hoặc khổ hàn mạnh.
Nhiệt độc nhập doanh huyết
Biểu hiện
Vàng da đậm, sốt cao, bứt rứt, khát, phát ban, chảy máu chân răng, chảy máu mũi, nôn ra máu, đại tiện phân đen, lưỡi đỏ sẫm hoặc tím, ít rêu, mạch sác.
Bệnh cơ
Nhiệt độc xâm nhập doanh huyết, bức huyết vọng hành, làm huyết lạc tổn thương.
Phép trị
Thanh doanh giải độc, lương huyết chỉ huyết.
Phương thang
Thanh Doanh Thang hoặc Tê Giác Địa Hoàng Thang gia giảm.
Thủy ngưu giác, Sinh địa, Huyền sâm, Mạch môn, Đan sâm, Xích thược, Đan bì, Hoàng liên, Liên kiều, Trúc diệp.
Chú ý
Xuất huyết trong viêm gan thể nặng có thể liên quan đến suy tổng hợp yếu tố đông máu và đông máu nội mạch lan tỏa. Trung dược lương huyết chỉ huyết không thay thế được truyền chế phẩm máu và xử trí hồi sức.
Nhiệt nhập Tâm bào, đàm trọc bế khiếu
Biểu hiện
Bồn chồn, mê sảng, hành vi bất thường, nói không rõ, ngủ gà, hôn mê, có thể sốt cao, đờm nhiều, lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Nhiệt độc kết với đàm trọc, che lấp Tâm bào và thanh khiếu.
Phép trị
Thanh nhiệt giải độc, hóa đàm khai khiếu.
Phương thang
Thanh Cung Thang gia giảm.
Huyền sâm tâm, Liên tử tâm, Trúc diệp quyển tâm, Liên kiều tâm, Tê giác thay bằng Thủy ngưu giác, Mạch môn, Đan sâm.
Trong lý luận cổ có thể tham khảo An Cung Ngưu Hoàng Hoàn hoặc Tử Tuyết Đan khi nhiệt bế rõ. Tuy nhiên, các thành dược khai khiếu chỉ được sử dụng trong bệnh viện theo chỉ định chuyên môn, không được tự dùng.
Thấp trọc che khiếu
Biểu hiện
Ý thức mơ hồ, ngủ nhiều, bụng trướng, buồn nôn, miệng dính, đờm nhiều, cổ trướng, lưỡi nhạt hoặc tối, rêu trắng dày nhớt, mạch nhu hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ mất vận hóa, thấp trọc và đàm độc che lấp thanh khiếu.
Phép trị
Hóa thấp tiết trọc, tỉnh Tỳ khai khiếu.
Phương thang
Ôn Đởm Thang hợp Hoắc Hương Chính Khí Tán gia giảm.
Bán hạ chế, Trần bì, Phục linh, Trúc nhự, Chỉ thực, Hoắc hương, Bội lan, Thạch xương bồ, Uất kim.
Chú ý
Rối loạn ý thức ở người suy gan là dấu hiệu của bệnh não gan. Người bệnh phải được xử trí tại bệnh viện, không được cho uống thuốc khi phản xạ nuốt kém vì có nguy cơ sặc.
Khí âm lưỡng thương
Biểu hiện
Mệt mỏi cực độ, hơi thở ngắn, miệng khô, tự ra mồ hôi, ăn uống kém, vàng da kéo dài, lưỡi đỏ nhạt hoặc khô, ít rêu, mạch tế nhược hoặc tế sác.
Bệnh cơ
Bệnh lâu làm khí âm cùng tổn thương, tân dịch hao, chính khí suy.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, sinh tân, phù chính.
Phương thang
Sinh Mạch Tán gia giảm.
Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử.
Có thể phối hợp Hoàng kỳ, Sa sâm, Bạch thược, Sinh địa tùy chứng.
Âm hư nội nhiệt
Biểu hiện
Vàng da kéo dài, miệng họng khô, sốt nhẹ về chiều, lòng bàn tay bàn chân nóng, mất ngủ, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Nhiệt độc và bệnh kéo dài làm hao tổn Can Thận âm dịch.
Phép trị
Tư dưỡng Can Thận, thanh hư nhiệt.
Phương thang
Nhất Quán Tiễn hợp Thanh Hao Miết Giáp Thang gia giảm.
Sinh địa, Sa sâm, Mạch môn, Kỷ tử, Đương quy, Bạch thược, Thanh hao, Miết giáp, Tri mẫu.
Tỳ dương hư, thủy thấp nội đình
Biểu hiện
Bụng trướng, cổ trướng, phù chân, ăn ít, phân lỏng, sợ lạnh, tay chân lạnh, tiểu ít, lưỡi nhạt to, rêu trắng trơn, mạch trầm nhược.
Bệnh cơ
Tỳ dương suy yếu, thủy thấp không vận hóa, tích tụ ở Tam tiêu.
Phép trị
Ôn dương kiện Tỳ, hành khí lợi thủy.
Phương thang
Thực Tỳ Ẩm gia giảm.
Phụ tử chế, Can khương, Bạch truật, Phục linh, Hậu phác, Mộc hương, Mộc qua, Thảo quả, Đại phúc bì.
Chú ý
Phụ tử có độc tính và người suy gan thường kèm rối loạn điện giải, suy thận hoặc rối loạn nhịp. Không được tự sử dụng.
Dương khí suy thoát
Biểu hiện
Ý thức suy giảm, mồ hôi lạnh, chân tay lạnh, sắc mặt trắng xám, hơi thở yếu, tiểu ít hoặc vô niệu, mạch vi muốn tuyệt.
Bệnh cơ
Chính khí suy kiệt, dương khí thoát, âm dương có nguy cơ ly quyết.
Phép trị
Hồi dương cứu nghịch, ích khí cố thoát.
Phương thang
Sâm Phụ Thang hoặc Tứ Nghịch Thang gia giảm.
Nhân sâm, Phụ tử chế, Can khương, Chích cam thảo.
Chú ý
Đây là tình trạng sốc và suy đa cơ quan. Phương hồi dương chỉ có thể được sử dụng phối hợp trong môi trường hồi sức, không thay thế thuốc vận mạch, hỗ trợ hô hấp và các biện pháp cấp cứu.
Đan sâm trong viêm gan thể nặng
Đan sâm vị đắng, tính hơi hàn, quy kinh Tâm và Can, có công năng hoạt huyết hóa ứ, lương huyết tiêu ung, trừ phiền an thần.
Trong viêm gan thể nặng, Đan sâm từng được dùng phối hợp với mục đích hoạt huyết, cải thiện vi tuần hoàn và giảm ứ trệ trong Can lạc.
Tuy nhiên, người bệnh thường có giảm tiểu cầu và rối loạn đông máu. Vì vậy, Đan sâm và các thuốc hoạt huyết chỉ được dùng khi đã đánh giá đầy đủ nguy cơ xuất huyết.
Không nên xem Đan sâm là thuốc có thể làm tái sinh gan hoặc điều trị suy gan một cách độc lập.
Chăm sóc người bệnh
Theo dõi trạng thái ý thức
Cần chú ý những thay đổi nhẹ về tính cách và hành vi như nói lặp lại, nhầm lẫn, mặc quần áo sai, tính toán kém, ngủ nhiều, kích động hoặc hành vi bất thường.
Đây có thể là dấu hiệu sớm của bệnh não gan. Khi xuất hiện, cần báo ngay cho nhân viên y tế.
Theo dõi vàng da và xuất huyết
Quan sát màu da, củng mạc mắt, nước tiểu và phân. Cần chú ý chảy máu chân răng, chảy máu mũi, xuất huyết dưới da, nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen.
Theo dõi hô hấp và tuần hoàn
Khó thở, thở nhanh, mạch nhanh, huyết áp giảm, chân tay lạnh hoặc tiểu ít có thể báo hiệu xuất huyết, nhiễm khuẩn, sốc hoặc suy đa cơ quan.
Chăm sóc miệng
Người còn tỉnh nên súc miệng sau ăn và giữ vệ sinh răng miệng.
Người hôn mê cần được nhân viên y tế chăm sóc miệng nhẹ nhàng, kiểm tra loét, chảy máu và nhiễm nấm. Không được tự đặt vật hoặc cho thuốc vào miệng người mất phản xạ nuốt.
Băng Bằng Tán và Tích Loại Tán từng được dùng ngoài tại chỗ trong loét miệng theo kinh nghiệm Trung y. Tuy nhiên, người viêm gan thể nặng có nguy cơ xuất huyết và sặc, nên việc sử dụng phải do nhân viên chuyên môn quyết định.
Ăn uống
Người bệnh phải tuân theo chế độ dinh dưỡng của bệnh viện. Không tự ý dùng thực phẩm bổ dưỡng, thuốc bổ, nước thuốc hoặc thực phẩm chức năng.
Khi có bệnh não gan, lượng và nguồn protein cần được điều chỉnh theo tình trạng cụ thể, không nên tự kiêng đạm kéo dài vì có thể làm suy dinh dưỡng.
Cổ trướng và phù cần được quản lý lượng muối, nước và dinh dưỡng theo chỉ định chuyên khoa.
Những điều cần tránh
Không tự dùng thuốc thanh nhiệt giải độc với liều lớn.
Không tự dùng thuốc công hạ như Đại hoàng để “thải độc”.
Không tự dùng thuốc lợi tiểu hoặc lợi thủy khi tiểu ít.
Không tự dùng Đan sâm, Hồng hoa, Tam thất hoặc các thuốc hoạt huyết khi có nguy cơ xuất huyết.
Không dùng rượu thuốc, thuốc bổ gan hoặc thảo dược không rõ thành phần.
Không tự ngừng hoặc thay đổi thuốc đang được bệnh viện sử dụng.
Dấu hiệu nguy hiểm
Cần cấp cứu ngay khi xuất hiện:
Vàng da tăng nhanh.
Nôn liên tục, hoàn toàn không ăn được.
Bồn chồn, hành vi bất thường, ngủ gà hoặc hôn mê.
Nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen.
Bụng trướng nhanh, khó thở.
Tiểu ít hoặc vô niệu.
Sốt cao, rét run.
Mạch nhanh, huyết áp giảm, chân tay lạnh.
Co giật hoặc hai đồng tử không đều.
Kết luận
Theo Trung y, viêm gan thể nặng thuộc bệnh cảnh dịch độc, thấp nhiệt và nhiệt độc thịnh, nhanh chóng xâm nhập doanh huyết, làm tổn thương Can Đởm, Tỳ Thận và che lấp Tâm bào.
Giai đoạn đầu thường lấy thanh nhiệt giải độc, lợi thấp thoái hoàng làm trọng điểm; khi nhiệt nhập doanh huyết cần lương huyết giải độc; thần hôn cần phân biệt nhiệt bế với đàm thấp bế khiếu; giai đoạn chính khí suy phải xem xét ích khí dưỡng âm hoặc hồi dương cố thoát.
Nói tóm lại, viêm gan thể nặng là cấp chứng nguy hiểm, bệnh cơ biến đổi nhanh, hư thực và âm dương chuyển hóa trong thời gian ngắn. Việc dùng Trung y phải căn cứ từng thời điểm, phối hợp chặt chẽ với hồi sức hiện đại và tuyệt đối không được làm chậm các biện pháp cấp cứu cần thiết.
Trường Xuân biên soạn