Khái quát
Viêm gan mạn tính là tình trạng tổn thương viêm ở gan kéo dài, thường liên quan đến viêm gan virus, bệnh chuyển hóa, miễn dịch, thuốc hoặc những nguyên nhân khác. Người bệnh có thể biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, bụng đầy, vùng hạ sườn đau tức, vàng da, gan lách to hoặc chức năng gan bất thường. Một số trường hợp tiến triển âm thầm, triệu chứng không rõ nhưng tổn thương gan vẫn tiếp tục phát triển.
Trong Trung y, viêm gan mạn tính không thuộc một bệnh danh duy nhất mà có thể được xem xét trong phạm vi các chứng “Hiếp thống” 脅痛, “Hoàng đản” 黃疸, “Tích tụ” 積聚, “Cổ trướng” 鼓脹, “Hư lao” 虛勞 và “Can trước” 肝著, tùy theo biểu hiện lâm sàng và giai đoạn bệnh.
Bệnh vị chủ yếu ở Can, mật thiết liên quan đến Tỳ, Vị và Thận. Bệnh mới phát thường thiên về thấp nhiệt, Can uất và khí trệ; bệnh kéo dài thường xuất hiện Tỳ hư, âm huyết hao tổn, khí trệ huyết ứ hoặc Tỳ Thận dương hư. Trên lâm sàng thường là hư thực xen kẽ, tà chính cùng tồn tại, không nên chỉ thanh nhiệt giải độc hoặc chỉ bổ hư trong thời gian dài.
Nguyên nhân và bệnh cơ
Thấp nhiệt, dịch độc lưu lại
Ngoại cảm thấp nhiệt, dịch độc hoặc tà độc từ bệnh viêm gan xâm nhập cơ thể, lưu lại ở Can Đởm và Trung tiêu. Thấp có tính nặng đục, dính trệ; nhiệt có tính hun đốt và bức bách. Thấp nhiệt kết lại làm Can mất sơ tiết, Đởm dịch không theo đường bình thường, Tỳ Vị vận hóa suy giảm, từ đó xuất hiện mệt mỏi, chán ăn, miệng đắng, bụng đầy, vàng da và tiểu vàng.
Can khí uất kết
Bệnh kéo dài, tinh thần căng thẳng hoặc tình chí không thư thái làm Can khí uất trệ. Can mất điều đạt thì khí cơ vùng hạ sườn không thông, gây đau tức hai bên sườn, ngực bụng đầy, hay thở dài, ăn uống kém và cảm xúc dễ thay đổi.
Can uất lâu ngày có thể ảnh hưởng đến Tỳ, tạo thành Can uất Tỳ hư; cũng có thể hóa hỏa, tổn thương âm huyết.
Tỳ hư thấp trệ
Bệnh lâu ngày, ăn uống kém hoặc dùng thuốc đắng lạnh kéo dài làm Tỳ khí suy yếu. Tỳ không vận hóa thủy thấp, thấp trọc tích tụ ở Trung tiêu, biểu hiện bằng bụng đầy, phân lỏng, mệt mỏi, tay chân nặng, lưỡi nhạt to và rêu nhớt.
Tỳ hư còn khiến nguồn sinh hóa khí huyết suy giảm, làm người bệnh gầy yếu, sắc mặt kém tươi và khả năng hồi phục chậm.
Can Thận âm hư
Bệnh kéo dài làm âm huyết hao tổn. Can âm không đủ thì Can mất nhu dưỡng; Thận âm hư thì nguồn sinh hóa âm huyết suy giảm. Người bệnh có thể đau âm ỉ hạ sườn, miệng họng khô, hoa mắt, ù tai, nóng trong lòng bàn tay bàn chân, mất ngủ, lưỡi đỏ ít rêu và mạch tế sác.
Khí trệ huyết ứ
Can khí uất lâu ngày làm huyết hành không thông. Thấp nhiệt kéo dài, tổn thương mạch lạc hoặc bệnh lâu nhập lạc cũng có thể hình thành huyết ứ.
Biểu hiện thường là đau hạ sườn cố định, đau như châm chích, gan lách to hoặc cứng, sắc mặt tối, môi tím, trên da có thể xuất hiện các mạch nhỏ giãn, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ huyết.
Tỳ Thận dương hư
Bệnh kéo dài làm tổn thương Tỳ dương, sau đó liên lụy đến Thận dương. Dương khí không đủ ôn hóa thủy thấp khiến bụng trướng, sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn ít, phân lỏng, phù hoặc tiểu ít.
Đây thường là giai đoạn bệnh tương đối nặng, có thể gặp ở người viêm gan mạn tiến triển, xơ gan hoặc suy giảm chức năng gan rõ rệt.
Biện chứng luận trị
Can uất khí trệ
Biểu hiện
Đau tức hoặc căng vùng hạ sườn, vị trí đau thay đổi, ngực bụng đầy, hay thở dài, ăn uống giảm, ợ hơi, cảm xúc dễ căng thẳng, lưỡi hơi đỏ hoặc bình thường, rêu mỏng, mạch huyền.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, khí cơ uất trệ, ảnh hưởng đến sự thăng giáng của Tỳ Vị.
Phép trị
Sơ Can lý khí, hòa Vị, giảm đau.
Phương thang
Sài Hồ Sơ Can Tán hoặc Tứ Nghịch Tán gia giảm.
Sài hồ, Chỉ xác, Bạch thược, Xuyên khung, Hương phụ, Trần bì, Uất kim, Cam thảo.
Gia giảm
Đầy bụng, ăn kém có thể gia Sơn tra, Mạch nha, Kê nội kim.
Đau hạ sườn rõ có thể gia Diên hồ sách, Phật thủ.
Miệng đắng, lưỡi đỏ có thể gia Chi tử, Đan bì.
Mất ngủ, phiền táo có thể gia Toan táo nhân, Dạ giao đằng.
Can uất Tỳ hư
Biểu hiện
Hạ sườn đau tức, mệt mỏi, ăn ít, bụng đầy sau ăn, phân nhão hoặc lỏng, sắc mặt vàng nhạt, tinh thần uất ức, lưỡi nhạt có dấu răng, rêu trắng mỏng, mạch huyền nhược.
Bệnh cơ
Can khí uất trệ khắc Tỳ, Tỳ khí vốn hư nên vận hóa càng suy yếu.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, ích khí hòa Trung.
Phương thang
Tiêu Dao Tán hoặc Sài Thược Lục Quân Tử Thang gia giảm.
Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Đảng sâm, Trần bì, Bán hạ chế, Cam thảo, Sinh khương.
Gia giảm
Phân lỏng rõ có thể gia Sơn dược, Biển đậu, Liên nhục.
Ăn kém có thể gia Sa nhân, Mạch nha.
Mệt nhiều có thể gia Hoàng kỳ.
Đau tức hạ sườn có thể gia Phật thủ, Uất kim.
Thấp nhiệt trở trệ Trung tiêu
Biểu hiện
Mệt mỏi nặng nề, ăn uống kém, buồn nôn, bụng đầy, miệng dính hoặc đắng, đại tiện không điều hòa, tiểu vàng, có thể vàng da nhẹ, lưỡi đỏ hoặc hơi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch nhu sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt lưu lại ở Trung tiêu, làm Tỳ mất kiện vận, Can Đởm sơ tiết không lợi.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, phương hương hóa trọc, điều hòa Tỳ Vị.
Phương thang
Cam Lộ Tiêu Độc Đan, Nhân Trần Ngũ Linh Tán hoặc Chi Tử Bá Bì Thang gia giảm.
Nhân trần, Hoắc hương, Bội lan, Hoàng cầm, Liên kiều, Hoạt thạch, Phục linh, Trư linh, Trạch tả, Bạch truật, Chi tử.
Gia giảm
Miệng đắng, hạ sườn trướng rõ có thể gia Uất kim, Kim tiền thảo.
Buồn nôn có thể gia Trúc nhự, Bán hạ chế.
Tiểu vàng ít có thể gia Bạch mao căn, Xa tiền tử.
Bệnh kéo dài, Tỳ khí suy yếu thì không nên dùng thuốc đắng lạnh quá lâu.
Thấp nhiệt Can Đởm
Biểu hiện
Vàng mắt, vàng da, màu vàng tươi, miệng đắng, buồn nôn, chán ăn, đau tức hạ sườn phải, tiểu vàng sẫm, đại tiện táo hoặc khó chịu, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uất kết ở Can Đởm, Đởm dịch không theo đường bình thường mà tràn ra ngoài.
Phép trị
Thanh lợi Can Đởm, hóa thấp thoái hoàng.
Phương thang
Nhân Trần Hao Thang hoặc Long Đởm Tả Can Thang gia giảm.
Nhân trần, Chi tử, Đại hoàng, Long đởm thảo, Hoàng cầm, Trạch tả, Xa tiền tử, Sinh địa, Đương quy, Sài hồ, Cam thảo.
Chú ý
Đại hoàng và Long đởm thảo có tính đắng lạnh tương đối mạnh, chỉ nên dùng khi thấp nhiệt thực chứng rõ. Người bệnh mạn tính, ăn kém, phân lỏng hoặc thể trạng suy yếu không nên tự sử dụng kéo dài.
Can uất hóa hỏa
Biểu hiện
Hạ sườn đau tức, dễ cáu, bứt rứt, miệng đắng, họng khô, mất ngủ, mặt đỏ, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch huyền sác.
Bệnh cơ
Can khí uất lâu ngày hóa hỏa, Can hỏa quấy nhiễu Tâm thần và ảnh hưởng Tỳ Vị.
Phép trị
Sơ Can giải uất, thanh Can tả hỏa.
Phương thang
Đan Chi Tiêu Dao Tán hoặc Việt Cúc Hoàn gia giảm.
Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Đan bì, Chi tử, Uất kim, Hương phụ, Cam thảo.
Can Vị bất hòa
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn, đầy vùng thượng vị, buồn nôn, ợ hơi, ăn kém, miệng đắng, bụng trướng sau ăn, lưỡi rêu mỏng hoặc hơi nhớt, mạch huyền.
Bệnh cơ
Can khí phạm Vị, Vị mất hòa giáng.
Phép trị
Sơ Can hòa Vị, lý khí tiêu trướng.
Phương thang
Sài Bình Thang gia giảm.
Sài hồ, Hoàng cầm, Bán hạ chế, Đảng sâm, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo, Thương truật, Hậu phác, Trần bì.
Thấp trọc khốn Tỳ
Biểu hiện
Người nặng nề, mệt mỏi, đầu như bị quấn, ngực bụng đầy, ăn không ngon, miệng nhạt dính, buồn nôn, phân lỏng, lưỡi nhạt, rêu trắng dày nhớt, mạch nhu hoãn.
Bệnh cơ
Thấp trọc lưu lại ở Trung tiêu, Tỳ dương bị trở ngại, thanh dương không thăng.
Phép trị
Phương hương hóa thấp, kiện Tỳ hòa Trung.
Phương thang
Hoắc Hương Chính Khí Tán hoặc Hương Sa Bình Vị Tán gia giảm.
Hoắc hương, Tô diệp, Hậu phác, Trần bì, Bán hạ chế, Phục linh, Bạch truật, Sa nhân, Mộc hương, Cam thảo.
Can âm hư
Biểu hiện
Đau âm ỉ hạ sườn, miệng họng khô, mắt khô, hoa mắt, ù tai, mất ngủ, nóng trong lòng bàn tay bàn chân, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế hoặc tế sác.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài làm hao tổn Can âm, Can mất nhu dưỡng, khí cơ không được điều hòa.
Phép trị
Tư dưỡng Can âm, sơ Can hòa lạc.
Phương thang
Nhất Quán Tiễn gia giảm.
Sinh địa, Bắc sa sâm, Mạch môn, Đương quy, Kỷ tử, Xuyên luyện tử.
Gia giảm
Mắt khô, hoa mắt có thể gia Nữ trinh tử, Cúc hoa.
Mất ngủ có thể gia Toan táo nhân, Dạ giao đằng.
Đau hạ sườn rõ có thể gia Uất kim, Bạch thược.
Can Thận âm hư
Biểu hiện
Đau âm ỉ hạ sườn và lưng gối, hoa mắt, ù tai, mất ngủ, miệng khô, nóng âm ỉ về chiều, lòng bàn tay bàn chân nóng, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Can Thận đồng nguyên, bệnh lâu làm tinh huyết cùng suy, Can mất nuôi dưỡng, Thận âm không đủ.
Phép trị
Tư bổ Can Thận, dưỡng âm, nhu Can.
Phương thang
Lục Vị Địa Hoàng Hoàn hợp Nhất Quán Tiễn gia giảm.
Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Phục linh, Trạch tả, Đan bì, Sa sâm, Mạch môn, Kỷ tử, Đương quy.
Tỳ Thận dương hư
Biểu hiện
Mệt mỏi nhiều, sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn ít, bụng trướng, phân lỏng, đau lưng mỏi gối, phù nhẹ hoặc tiểu ít, lưỡi nhạt to, rêu trắng trơn, mạch trầm tế hoặc trầm trì.
Bệnh cơ
Bệnh lâu tổn thương Tỳ dương, sau đó liên lụy Thận dương. Dương khí suy không vận hóa được thủy thấp.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, trợ dương hóa thấp.
Phương thang
Lý Trung Thang hợp Hữu Quy Hoàn gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Can khương, Chích cam thảo, Thục địa, Sơn dược, Sơn thù du, Đỗ trọng, Phụ tử chế, Nhục quế.
Chú ý
Phụ tử và Nhục quế chỉ được dùng khi có biểu hiện dương hư rõ và phải do người có chuyên môn chỉ định. Người còn thấp nhiệt, vàng da tươi, miệng đắng hoặc rêu vàng nhớt không thích hợp dùng thuốc ôn bổ mạnh.
Khí trệ huyết ứ
Biểu hiện
Đau hạ sườn cố định, đau như châm chích, về đêm đau rõ hơn, gan hoặc lách to, sắc mặt tối, môi tím, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Can khí uất lâu ngày, huyết hành không thông, bệnh lâu nhập lạc, hình thành huyết ứ.
Phép trị
Sơ Can lý khí, hoạt huyết hóa ứ, thông lạc giảm đau.
Phương thang
Huyết Phủ Trục Ứ Thang hoặc Cách Hạ Trục Ứ Thang gia giảm.
Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy, Sinh địa, Xích thược, Xuyên khung, Sài hồ, Chỉ xác, Uất kim, Đan sâm, Ngưu tất, Cam thảo.
Chú ý
Người có tiểu cầu giảm, rối loạn đông máu, xuất huyết tiêu hóa hoặc đang dùng thuốc chống đông không được tự dùng thuốc hoạt huyết mạnh.
Khí hư huyết ứ
Biểu hiện
Mệt mỏi, hơi thở ngắn, tiếng nói nhỏ, đau hạ sườn cố định, sắc mặt nhợt tối, gan lách to, lưỡi nhạt tím, mạch tế sáp.
Bệnh cơ
Khí hư không đủ thúc đẩy huyết hành, huyết lưu thông chậm và hình thành ứ trệ.
Phép trị
Ích khí hoạt huyết, hóa ứ thông lạc.
Phương thang
Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang gia giảm.
Hoàng kỳ, Đương quy vĩ, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Địa long, Đan sâm.
Khí huyết lưỡng hư
Biểu hiện
Mệt mỏi, sắc mặt nhợt, chóng mặt, hồi hộp, ăn uống kém, ngủ không yên, chân tay yếu, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài làm Tỳ khí suy yếu, nguồn sinh hóa khí huyết không đủ.
Phép trị
Ích khí dưỡng huyết, kiện Tỳ hòa Trung.
Phương thang
Bát Trân Thang hoặc Quy Tỳ Thang gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Đương quy, Bạch thược, Thục địa, Xuyên khung.
Khí âm lưỡng hư
Biểu hiện
Mệt mỏi, hơi thở ngắn, miệng khô, tự ra mồ hôi hoặc ra mồ hôi trộm, ăn kém, mất ngủ, lưỡi đỏ nhạt hoặc khô, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Bệnh lâu làm khí và âm cùng tổn thương, Tỳ Phế khí hư, Can Thận âm huyết không đủ.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, sinh tân, kiện Tỳ.
Phương thang
Sinh Mạch Tán hoặc Nhân Sâm Dưỡng Vinh Thang gia giảm.
Đảng sâm, Hoàng kỳ, Mạch môn, Ngũ vị tử, Sa sâm, Thục địa, Đương quy, Bạch truật, Phục linh.
Đan sâm trong điều trị bệnh gan
Đan sâm có vị đắng, tính hơi hàn, quy kinh Tâm và Can, có công năng hoạt huyết hóa ứ, lương huyết tiêu ung, trừ phiền an thần.
Trong bệnh gan mạn tính, Đan sâm thường được sử dụng khi có biểu hiện khí trệ huyết ứ như đau hạ sườn cố định, gan lách to, sắc mặt tối hoặc lưỡi tím.
Đan sâm có thể phối hợp Uất kim, Xích thược, Đào nhân, Hồng hoa, Kê huyết đằng hoặc Tam lăng, Nga truật tùy mức độ huyết ứ.
Chú ý
Đan sâm có tác dụng hoạt huyết. Người có xuất huyết, tiểu cầu thấp, rối loạn đông máu, kinh nguyệt quá nhiều hoặc đang dùng thuốc chống đông cần được đánh giá thận trọng.
Không nên xem Đan sâm là thuốc có thể trực tiếp loại bỏ virus viêm gan hoặc thay thế điều trị kháng virus.
Nguyên tắc sử dụng thuốc Trung y
Biện chứng luận trị
Không nên dùng một bài thuốc cố định cho mọi người bệnh viêm gan mạn tính. Cần căn cứ biểu hiện hàn nhiệt, hư thực, thấp, uất, ứ và tình trạng Tỳ Vị để lựa chọn phương pháp phù hợp.
Không dùng quá nhiều thuốc
Gan là cơ quan tham gia chuyển hóa nhiều loại thuốc. Dùng nhiều loại thuốc hoặc thực phẩm bổ sung cùng lúc có thể làm tăng gánh nặng cho gan và gây tổn thương gan do thuốc.
Không nên tự phối hợp nhiều thành dược Trung y, thuốc sắc, thuốc Tây, vitamin và thực phẩm bổ sung khi chưa được đánh giá đầy đủ.
Không chỉ căn cứ men gan
Men gan giảm không nhất thiết có nghĩa virus đã được kiểm soát hoặc tổn thương gan đã hồi phục hoàn toàn. Cần theo dõi đồng thời tải lượng virus, chức năng tổng hợp của gan, hình ảnh học, mức độ xơ hóa và các chỉ số chuyên môn khác.
Không dùng thuốc đắng lạnh kéo dài
Thuốc thanh nhiệt giải độc có thể thích hợp khi thấp nhiệt rõ, nhưng sử dụng kéo dài ở người bệnh mạn tính dễ làm tổn thương Tỳ Vị, gây ăn kém, đầy bụng, tiêu chảy và mệt mỏi.
Không bổ quá sớm khi tà còn thịnh
Nếu còn vàng da rõ, miệng đắng, buồn nôn, rêu vàng nhớt hoặc bụng đầy, không nên dùng thuốc bổ ngọt nê trệ quá sớm vì có thể làm thấp tà lưu lại.
Không dùng thuốc hoạt huyết tùy tiện
Người viêm gan nặng hoặc xơ gan có thể giảm tiểu cầu và rối loạn đông máu. Thuốc hoạt huyết phá ứ mạnh phải được sử dụng đặc biệt thận trọng.
Điều dưỡng
Nghỉ ngơi và vận động
Trong giai đoạn bệnh hoạt động, men gan tăng rõ hoặc người bệnh mệt nhiều, cần nghỉ ngơi thích hợp, tránh lao động nặng và thức khuya.
Khi tình trạng ổn định, nên vận động nhẹ như đi bộ, khí công hoặc các bài tập chậm, tăng dần căn cứ sức khỏe. Không nên nằm bất động kéo dài nếu không có chỉ định.
Ăn uống
Bữa ăn nên điều độ, đủ năng lượng và chất đạm phù hợp với tình trạng gan. Nên dùng thực phẩm tươi, dễ tiêu, tránh ăn quá no.
Không uống rượu bia. Hạn chế thức ăn quá nhiều dầu mỡ, chiên rán, quá cay hoặc thực phẩm không rõ nguồn gốc.
Không tự dùng các loại thuốc bổ gan, thảo dược ngâm rượu hoặc sản phẩm được quảng cáo là thanh lọc gan.
Tinh thần
Can chủ sơ tiết, tình chí uất kết có thể làm khí cơ không điều đạt. Người bệnh nên giữ sinh hoạt ổn định, ngủ đủ, hạn chế căng thẳng kéo dài và duy trì những hoạt động tinh thần nhẹ nhàng phù hợp.
Theo dõi định kỳ
Dù triệu chứng đã giảm và men gan trở lại bình thường, vẫn cần tái khám định kỳ theo hướng dẫn chuyên khoa. Viêm gan mạn tính có thể tiếp tục tiến triển âm thầm.
Cần theo dõi chức năng gan, tải lượng virus, siêu âm gan, mức độ xơ hóa và tầm soát ung thư gan khi có chỉ định.
Chú ý
Viêm gan mạn tính do virus cần được đánh giá điều trị kháng virus theo hướng dẫn chuyên khoa. Thuốc Trung y không thay thế thuốc kháng virus khi đã có chỉ định.
Không tự ý ngừng thuốc kháng virus vì có thể gây virus bùng phát và tổn thương gan nặng.
Cần đến cơ sở y tế ngay nếu xuất hiện vàng da tăng nhanh, bụng trướng, phù chân, nôn ra máu, đại tiện phân đen, lơ mơ, ngủ gà, tiểu ít, sốt cao hoặc đau bụng dữ dội.
Kết luận
Theo Trung y, viêm gan mạn tính có bệnh vị chủ yếu ở Can, liên hệ mật thiết với Tỳ, Vị và Thận. Giai đoạn đầu thường thiên về thấp nhiệt, Can uất và khí trệ; bệnh kéo dài thường phát triển thành Tỳ hư, Can Thận âm hư, khí trệ huyết ứ hoặc Tỳ Thận dương hư.
Điều trị cần căn cứ từng giai đoạn và thể bệnh, phối hợp các phép sơ Can lý khí, thanh nhiệt hóa thấp, kiện Tỳ ích khí, tư dưỡng Can Thận, hoạt huyết hóa ứ hoặc ôn bổ Tỳ Thận. Mục tiêu không chỉ là làm giảm triệu chứng mà còn phải bảo vệ Tỳ Vị, điều hòa khí huyết và hỗ trợ chính khí.
Nói tóm lại, viêm gan mạn tính là bệnh có diễn biến phức tạp và kéo dài. Trung y có thể hỗ trợ cải thiện triệu chứng, thể trạng và chất lượng sống khi được vận dụng đúng biện chứng, nhưng cần phối hợp chặt chẽ với theo dõi và điều trị của y học hiện đại.
Trường Xuân biên soạn