Viêm chu vi vai
Tham khảo tư liệu
Viêm chu vi vai là gì?
Viêm chu vi vai là các tổ chức mềm ở vai như cơ bắp, cơ gân, hoạt nang (túi trơn), nang khớp cải biến thoái hoá, dẫn đến phản ứng viêm chứng rộng khắp. Bệnh này có đặc trưng chủ yếu là mạn tính đau khớp và hoạt động bị hạn chế, bệnh thường phát ở tuổi trung niên (khoảng 40 tuổi trở lên). Nữ giới nhiều hơn nam giới, vai trái nhiều hơn vai phải, ít khi phát bệnh cả hai bên vai. Biểu hiện của thời kỳ đầu chủ yếu là đau, hoặc đau nhẹ hoặc chỉ có cảm giác không thoải mái và có cảm giác vai bị bó lại; Tiếp theo cơn đau vai dần dần tăng nặng, đau nhiều về ban đêm, thường ảnh hưởng đến giấc ngủ, hoạt động của vai cũng dần dần bị hạn chế; Cuối cùng hình thành “ Đỗng kết trạng thái” (冻结状态)Trạng thái đóng băng. Bệnh này thuộc “Chứng tí” của Trung y, còn gọi là Ngũ thập kiên, lậu kiên phong, kiên ngưng chứng, đỗng kết kiên.
Nhận thức của Trung y đối với viêm chu vi vai như thế nào?
Trung y cho rằng, con người khi qua tuổi trung niên, khí huyết hư nhược, doanh vệ không điều hoà, nên dương khí suy yếu, Chính khi đang suy dần, tạng can và thận không còn đầy đủ, cân mạch cơ bắp không được nuôi dưỡng đầy đủ, bị phong hàn thấp từ bên ngoài xâm nhập, dễ khiến khí huyết ngưng trệ, dương khí không phân bố, mạch lạc không thông mà hình thành bệnh này.
1/ Chính khí suy: “Thất thất thận khí suy” (七七肾气衰) bảy nhân bảy là 49 thận khí suy, con người khoảng 50 tuổi, tinh khí can thận bắt đầu suy thoái, hoặc làm việc hoặc an nhàn quá độ, hoặc thân thể hư nhược sau khi bị bệnh, khí huyết không đủ, cân mạch không được nuôi dưỡng, lâu ngày cân mạch co cứng, doanh vệ không điều hoà. 《Trung tàng kinh ᵒ Ngũ tí》 viết: Thận khí nội tiêu….. tinh khí nhật suy, tắc tà khí vọng nhập” (肾气内消……精气日衰,则邪气妄入) Thận khí khí bên trong tiêu dần…. Tinh khí suy giảm từng ngày nên tà khí xâm nhập. Thời Tống Vương Hoài Ẩn viết trong 《Thái bình thánh huệ phương》 : “Phu lao quyện chi nhân, biểu lý đa hư, huyết khi suy nhược, tấu lý sơ tiết, phong tà dị xâm…..Tuỳ kỳ sở cảm, nhi chúng tí sinh yên” (夫劳倦之人,表里多虚,血气衰弱,腠理疏泄, 风邪易侵……随其所惑,而众痹生焉) Người làm việc quá độ mỏi mệt, biểu lý hư tổn nhiều, huyết khí suy nhược, tấu lý (thớ thịt) lỏng lẻo, phong tà dễ xâm nhập, tuỳ theo loại cảm thụ mà sinh ra các chứng đau tê. Y gia hiện đại Lưu Độ Châu viết trong {Kim quỹ yếu lược thuyên giải, huyết tí hư lao bệnh mạch chứng tính trị}: “Phàm tôn vinh chi nhân, tắc dưỡng tôn xử ưu, hảo dật ố lao, đa thực phì cam, nhi cơ nhục phong thịnh, bất sự lao động tắc cân cốt thuý nhược, dĩ chí can thận hư nhược …..dương khí hư, huyết hành không thông sướng, gặp khi mỏi mệt xuất hãn (mồ hôi), thể khí càng mỏi mệt, lúc này cộng thêm gặp gió, gió và huyết tương bác (đấu tranh), dương khí bị trở ngại, huyết hành không thư sướng.” (凡尊荣之人,则养尊处优,好逸恶劳,多食肥甘,而 肌肉丰盛,不事劳动则筋骨脆弱,以致肝肾虚弱……阳气虚,血行不畅,重因疲劳则汗出,体气愈疲**此时加被微风,遂得而干之,则风与血相搏,阳气痹阻,血 行不畅。) Tất cả những người có địa tôn quý đều nuông chiều bản thân, thích nhàn hạ ghét lao động, ăn nhiều chất béo ngọt, cơ bắp dồi dào, không làm việc thì cơ xương yếu, dẫn đến gan thận hư nhược… Dương khí hư suy, khí huyết lưu thông kém, cộng thêm khi mệt mỏi ra mồ hôi, khí của cơ thể càng kém Lúc này cơ thể mệt mỏi tiếp xúc với gió dẫn đến phong và huyết tranh nhau, dương khí bị tắc nghẽn, và máu lưu thông không tốt.
2/ Tà khí xâm phạm từ bên ngoài: Ở nơi ẩm thấp, thường xuyên ở nơi mưa gió, ngủ để hở vai, đều có thể dẫn đến ngoại tà xâm phạm, hàn thấp lưu trệ ở cân mạch, huyết gặp lạnh thì ngưng trệ, gân mạch co thắt nên đau, hàn thấp ngấm vào gân cơ xương khớp, làm cho khớp xương co duỗi không thuận lợi, Như Trương Tử Hoà thời Kim viết trong {Nho môn sự thân}: “Thử tật chi tác, đa tại tứ thời âm vũ chi thời, cập tam nguyệt cửu nguyệt, cố thảo khô thuỷ hàn như thậm, hoặc tần thuỷ chi địa, lao lực chi nhân, tân khổ thất độ, xúc mạo phong vũ, tầm xử triều thấp, tí tòng ngoại nhập”(此疾之作,多在四时阴雨之时,及三月九月,太阴寒水用事之月,故草枯水寒如甚,或濒水之地,劳力之 人,辛苦失度,触冒风雨,寝处潮湿、痹从外入.)Bệnh này thường phát tác khi trời âm u mưa gió trong cả 4 mùa, và tháng 3 tháng chín là những tháng thái âm hàn thuỷ cỏ khô nước lạnh, hoặc ở nơi có nhiều nước, người lao lực, vất vả quá độ, tiếp xúc mưa gió, ngủ nơi ẩm thấp, là những cơ hội để bệnh xâm nhập). Lại như Chu Túc viết trong {Phổ tế phương}: “Thử bệnh cái nhân cửu toạ thấp địa, cập tăng kinh lãnh xử thuỵ ngoạ nhi đắc” (此病盖因久坐湿地,及曾经冷处睡卧而得.) (Nguyên nhân bị bệnh là ở lâu nơi ẩm thấp, và ngủ ở nơi lạnh lẽo)
Nguyên nhân bệnh lý viêm chu vi vai theo tây y là gì?
1/ Nguyên nhân bệnh
Nguyên nhân bệnh hiện nay chưa hoàn toàn rõ ràng, nhưng căn cứ theo quan sát lâm sàng và những nghiên cứu thực nghiệm. Bệnh này có khả năng liên quan đến các nhân tố sau.
① Thoái hoá ở người lớn tuổi: Bệnh này thường gặp ở nữ giới tuổi trung lão niên 40~50 tuổi, hiển nhiên có liên quan đến chứng thoái hoá ở người già.
② Xâm nhập của phong hàn thấp: Tương đương với tiền sử phát bệnh của một bộ phận phát bệnh trước đó, như ở nơi ẩm thấp, thân thể bị gió mưa, ngủ để lộ vai…cho thấy phong hàn thấp là nguyên nhân hàng đầu từ bên ngoài xâm phạm gây ra bệnh viêm chu vi vai.
③ Giảm hoạt động của vai : Đặc điểm lâm sàng của bệnh, thường gặp hoạt động của vai giảm dần ở bệnh nhân nữ tuổi trung niên, mà tần suất phát bệnh ở vai trái nhiều hơn vai phải, tần suất phát bệnh ở người làm việc đầu óc nhiều hơn những người lao động chân tay, hoặc có các nguyên nhân khác (tay bị gẫy các tổ chức mềm bị tổn thương) sau khi khiến hoạt động của vai giảm, thường có thể kế phát viêm chu vi vai, những đặc điểm này đều gợi ý cho thấy việc giảm thiểu hoạt động của vai có liên quan đến bệnh này.
2/ Bệnh lý
① Các mô ở vai, chẳng hạn như sụn khớp, hoạt nang, bao gân và gân dài ở đầu bắp tay, có thể cho thấy các mức độ thay đổi thoái hóa khác nhau.
② Viêm vô trùng xảy ra ở bao khớp và các mô mềm xung quanh. Các chất trung gian gây viêm được giải phóng trong quá trình viêm gây ra các thay đổi huyết động học và tiết dịch. Cuối cùng gây ra hiện tượng co cứng khớp, hình thành nên cái gọi là “ Kiên ngưng” (肩凝) vai ngưng trệ, hiện nay người ta coi viêm bao gân đầu dài bắp tay là một trong những diễn biến bệnh lý hàng đầu của bệnh.
Biểu hiện lâm sàng của viêm chu vi vai là gì?
1/ Đau vai: Sơ khởi vai đau từng trận, đa số là phát tác mạn tính, sau đó đau tăng dần hoặc đau đột ngột, đau như dao cắt, đau có tính liên tục, đau khi thời tiết thay đổi hoặc sau khi làm việc mệt mỏi, thường khiến đau đớn tăng nặng, đau có thể lan đến cổ gáy hoặc cánh tay đặc biệt là khuỷu tay, Khi vai vô tình bị va đập hoặc bị kéo, nó thường có thể gây đau dữ dội như bị rách cơ, một đặc điểm lớn khác của bệnh là ban đêm đau nhiều hơn ban ngày, đa số bệnh nhân đều kể rằng sau nửa đêm thường do đau mà tỉnh giấc và sau đó không ngủ lại được, nhất là không thể nằm nghiêng về phía vai bị đau, tình huống này càng rõ rệt hơn nếu bệnh do khí huyết hư gây ra; Nếu nguyên nhân bệnh do bị lạnh, thì bệnh nhân đặc biệt mẫn cảm với biến hoá của khí hậu.
2/ Hoạt động của khớp vai bị hạn chế: Các hướng hoạt động của khớp vai đều bị hạn chế, giang tay, đưa tay lên cao, xoay ra ngoài hay vào trong càng rõ rệt tuỳ theo tình trạng tiến triển của bệnh, do không sử dụng lâu ngày gây dính bao khớp và mô mềm quanh vai, sức cơ suy giảm dần, cộng với sự cố định của dây chằng khớp vai ở vị trí xoay trong bị rút ngắn và các yếu tố khác, hạn chế vận động chủ động và thụ động của khớp vai theo mọi hướng. Hiện tượng “Giang kiên” (扛肩) là khi người bệnh co khuỷu tay lại thì không thể chạm đến vai cùng bên, điển hình xảy ra trong quá trình thoái hóa khớp, đặc biệt là các động tác như chải đầu, mặc quần áo, rửa mặt, chống nạnh rất khó thực hiện, trường hợp nặng còn có thể ảnh hưởng đến chức năng khớp khuỷu tay. Đặc biệt không thể hoàn thành động tác ngoái tay ra phía sau rồi gập khuỷu tay.
3/ Sợ lạnh : Bên vai bị viêm sợ lạnh, không ít bệnh nhân dùng bông để bao vai, tức là dù trong mùa hè, vùng vai cũng phải tránh gió.
4/Ấn đau: Hầu hết bệnh nhân có thể cảm thấy các điểm đau rõ ràng xung quanh khớp vai, hầu hết là ở rãnh gân đầu dài của cơ nhị đầu cánh tay. Bao hoạt dịch dưới mỏm cùng, Coracoid, điểm bám trên gai, v.v., đặc biệt là rãnh gân đầu dài của gân cơ nhị đầu, một số ít có điểm đau ở mô mềm quanh vai, số ít không có điểm đau.⑸Cơ bị co cứng và teo nhỏ: Cơ tam giác, cơ cương thượng là những cơ ở chung quanh vai thời kỳ đầu có thể xuất hiện co rút, thời kỳ cuối có thể phát sinh theo cơ phế dụng (tàn phế không sử dụng được) xuất hiện đỉnh vai gồ lên, giơ tay cao bất tiện, vòng tay ra phía sau không thuận lợi là những chứng trạng điển hình, lúc này chứng trạng đau đớn lại giảm nhẹ.
⑹ Kiểm tra bằng X quang và hoá nghiệm: Chụp ảnh thông thường, phần lớn đều thấy bình thường, thời kỳ cuối một bộ phận bệnh nhân thường thấy loãng xương, nhưng không thấy xương bị phá hoại, có thể thấy ở đầu vai âm ảnh vôi hoá, kiểm tra trong phòng thực nghiệm phần lớn thấy bình thường.
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm chu vi vai có các điểm sau:
⑴ Trung lão niên tuổi từ 40~50 tuổi trở lên, thường có tiền sử bệnh phong hàn thấp hoặc ngoại thương.
⑵ Đau vai và đau khi hoạt động, đau ban đêm nhiều hơn, có thể đau phóng xạ đến tay, nhưng không có cảm giác dị thường.
⑶ Hoạt động của khớp vai nhất là giơ tay cao, giang tay, xoay vào trong xoay ra ngoài đều bị hạn chế.
⑷ Chu vi vai ấn đau, đặc biệt ở rãng cơ hai đầu dài.
⑸ Cơ vai bị co rút hoặc teo nhỏ.
⑹ Kiểm tra bằng X quang thường không phát hiện dị thường.
Chẩn đoán phân biệt viêm chu vi vai và các bệnh khác
1/ Lao khớp vai: ①Thường kèm theo bệnh lao phổi. ② Kèm theo các chứng trạng toàn thân như sốt nhẹ, sút cân. ③ Thường phát ở người trưởng thành, cũng có thể phát ở mọi lứa tuổi. ④ Độ lắng máu nhanh có thể đạt 50mm/h trở lên. ⑤ X quang cho thấy loãng xương rõ rệt, hình thành xương bị phá hoại và hoại tử, thậm chí xuất hiện khớp vai bị bán thoát vị (bong khớp).
⑵ Chứng thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ: ① Phát tác cấp tính. ② Đau kích liệt chủ yếu có tính chất đau thần kinh căn, tức là đau men theo khu phân bố thần kinh phóng xạ đến cánh tay và bàn tay, đồng thời kèm theo lực cơ cải biến. ③ Hoạt động của cổ bị hạn chế mà hoạt động của vai bình thường.
⑶ Bướu xương: ① Bướu xương nguyên phát thường gặp ở tuổi thanh thiếu niên, bệnh nhân tuổi già thường là ung thư di căn, nên chứng trạng toàn thân rõ rệt. ②Kiểm tra máu thường là dương tính. ③ X quang giám định phân biệt.
⑷ Tổn thương trục vai: Bệnh phát ở thanh tráng niên, có tiền sử ngoại thương rõ rệt, khớp vai hoạt động thụ động bình thường.
Trung y biện chứng luận trị viêm chu vi vai như thế nào?
Lâm sàng đông y chia viêm chu vi vai thành 4 loại hình sau:
1/ Phong hàn xâm nhập
Chủ chứng: Vai đau khá nhẹ, bệnh trình ngắn, đau giới hạn cục bộ, đau âm ỉ, đau ngầm ngầm, hoặc có cảm giác tê, không ảnh hưởng hoạt động của chi trên, lạnh cục bộ, chườm nóng hoặc xoa nắn thì cảm giác đau giảm, rêu lưỡi trắng, mạch phù hoặc khẩn, thường thuộc viêm chu vi vai thời kỳ đầu.
Phân tích chủ chứng: Người thân thể hư yếu, vệ dương của cơ thể không kiên cố, cộng thêm khi xuất mồ hôi gặp gió, phong hàn nhân lúc cơ thể hư yếu xâm nhập da thịt kinh lạc, bệnh gây trở ngại vùng vai, khiến cho khí huyết của vai vận hành bất lợi, không thông nên đau, nên xuất hiện đau nhức, cục bộ vai bị lạnh, vì bệnh trình ngắn, phong hàn chỉ xâm phạm phần ngoài, nên đau tương đối nhẹ, Rêu lưỡi trắng mạch phù hoặc khẩn đều là đặc trưng của bệnh tại cơ biểu (bên ngoài).
Trị pháp: Khứ phong tán hàn, thông lạc chỉ thống.
Xử phương Quyên tí thang gia giảm.
Khương hoạt 10g, Độc hoạt 10g, Quế chi 10g, Tần giao 10g, Hải phong đằng 10g, Tang chi 10g, Đương quy 10g, Xuyên khung 10g, Mộc hương 10g, Nhũ hương 10g, Cam thảo 6g.
Phương giải: Trong phương có Khương hoạt, Độc hoạt, Quế chi, Tần giao, Hải phong đằng, Tang chi có tác dụng khứ phong tán hàn, hoá thấp thông lạc; Phối với Đương quy, Xuyên khung, Mộc hương, Nhũ hương hoạt huyết lý khí, hợp lại có thể giảm đau; Cam thảo điều hoà các vị thuốc. Tất cả các vị thuốc cộng lại có công dụng khứ phong tán hàn, thông lạc giảm đau. Bệnh thiên về hàn chứng gia Chế Xuyên ô (sắc trước 1 giờ) Tế tân; Thiên về phong, trọng dụng Khương hoạt, tái gia Phòng phong.
2/ Hàn thấp ngưng trệ
Chủ chứng: Vai và gân cơ chung quanh đau kịch liệt và đau phóng xạ ra xa, ngày nhẹ đêm nặng, bệnh trình khá dài, vì đau nên không thể nâng vai. Vai có cảm giác lạnh, tê, nặng nề, sợ lạnh, chườm nóng chứng trạng giảm chút ít. Lưỡi nhạt và to, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch huyền hoạt.
Phân tích chủ chứng: Tuổi già can thận suy yếu, lực đề kháng kém, hoặc vì gặp mưa lội nước, ngủ không đủ, bệnh tà hàn thấp bên ngoài xâm nhập, ngưng đọng cục bộ, lâu ngày kết lại ở trong, khiến cho kinh mạch bị bế tắc trở ngại, xuất hiện đau nhức tê dại cục bộ; Hàn ngưng trệ là bệnh tà thực chứng nên đau kịch liệt, sợ lạnh; Tính của thấp là nặng nề, nên có cảm giác trầm trọng, chườm nóng đau giảm. Chất lưỡi nhạt và to, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch huyền hoạt đều là biểu hiện của hàn thấp.
Trị pháp: Tán hàn trừ thấp, hoá ứ thông lạc.
Xử phương Ô đầu thang gia giảm.
Ma hoàng 10g, chế Xuyên ô 12g (sắc trước 1h 30’), Bạch thược 15g, Hoàng kỳ 30g, Toàn trùng 12g, Khương hoạt 12g, Tế tân 6g, Cam thảo 6g.
Phương giải: Trong phương có Xuyên ô, Khương hoạt, Tế tân, Toàn trùng ôn kinh tán hàn, trừ thấp thông lạc giảm đau; Dùng Ma hoàng tán ngoại hàn biểu thấp; Thược dược, Cam thảo hoãn cấp thư cân (hoãn cấp: Hoà hoãn sự cấp bách); Hoàng kỳ ích khí cố biểu, đồng thời hoà hoãn tính mãnh liệt của Ma hoàng, Ô đầu, đề đề phòng chính khí bị tổn thương. Các vị thuốc phối ngẫu, khiến co bệnh tà hàn thấp theo mồ hôi (vi hãn=ít mồ hôi) mà được giải trừ, trừ khứ mà không tổn thương chính khí, đạt được công dụng ôn kinh tán hàn, khứ thấp trị đau.
3/ Ứ huyết trở ngại lạc mạch
Chủ chứng: Sau khi bị ngoại thương hoặc bệnh lâu ngày đau vai, có điểm đau, đau kịch liệt cục bộ, đau dạng châm thích (đau nhói), không thích ấn nắn, hoạt động của vai bị hạn chế. Hoặc cục bộ sưng trướng, sắc da tím tối, chất lưỡi tím tối, mạch huyền sáp.
Phân tích chủ chứng: Nội thương tổn hại bên trong, cục bộ kinh lạc bị tổn thương, khí huyết nghịch loạn; Hoặc đau lâu ngày ảnh hưởng lạc mạch, huyết mạch ứ trệ trở ngại, nên cục bộ đau kịch liệt, đau dạng châm thích (nhói) mà cố định, không thích ấn nắn, hoặc sưng trướng. Sắc da và chất lưỡi tím tối, mạch huyền sáp đều là biểu hiện của ứ huyết.
Trị pháp: Hoạt huyết hoá ứ, thông lạc chỉ thống.
Xử phương: Hoạt lạc hiệu linh đan với Đào hồng tứ vật thang hợp tính gia giảm.
Đương quy 15g, Đan sâm 15g, Sinh Nhũ Một đều 15g, Đào nhân 10g, Hồng hoa 10g, Thục địa 10g, Xuyên khung 10g, Quế chi 10g, Bạch thược 10g, Kê huyết đằng 15g, Tang chi 20g.
Phương giải: Trong phương có Đương quy, Đan sâm, Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên khung hoạt huyết khứ ứ giảm đau, Thục địa phối Đương quy để dưỡng huyết; Bạch thược dưỡng huyết giảm đau, Nhũ hương, Một dược hoạt huyết hành khí giảm đau; Dùng Quế chi, Tang chi, Kê huyết đằng khứ phong thông lạc. Tất cả các vị thuốc phối hợp có hiệu quả hoạt huyết khứ ứ, thông lạc mạch giảm đau.
4/ Khí huyết suy hư
Chủ chứng: Vai đau ê ẩm tê dại, chi thể mềm yếu không có lực, da thịt không tươi nhuận, tinh thần mỏi mệt yếu sức, hoặc cục bộ cơ nhục co quắp, đầu vai nhô lên, chất lưỡi nhạt, mạch tế nhược vô lực.
Phân tích chủ chứng: Bệnh lâu ngày thân thể hư nhược, khí huyết suy hư, bệnh tà bên ngoài thừa cơ hội thân thể hư yếu mà xâm nhập, gây trở ngại kinh lạc, cục bộ cân lạc không được nuôi dưỡng, nên vai đau ê ẩm tê dại, chân tay mềm yếu không có lực, da thịt không tươi nhuận, cơ bắp co quắp, tinh thần mỏi mệt yếu sức. Chất lưỡi nhạt, mạch tế nhược vô lực đều là biểu hiện của khí huyết hư nhược.
Trị pháp: Ích khí dưỡng huyết, khứ phong thông lạc
Xử phương: Tần Quế tứ vật thang, hoặc dùng phương này gia vị để điều trị.
Tần giao 12g, Quế chi 12g, Đương quy 12g, Xuyên khung 10g, Bạch thược 12g, Sinh địa 12g, Hoàng kỳ 15g. Hàn nặng gia Khương hoạt, Độc hoạt, Phụ tử; Thấp nặng gia Dĩ mễ, Hải đồng bì; Gân co thắt không thuận lợi gia Mộc qua, Kê huyết đằng, Nhẫn đông đằng; Đau nhiều gia Toàn trùng.
Phương giải: Trong phương có Đương quy, Xuyên khung, Sinh địa, Bạch thược dưỡng huyết mềm gân, với Tần giao khứ phong tán hàn, với Quế chi, Hoàng kỳ ích khí ôn kinh, thông lạc tán hàn, Tất cả các vị thuốc có hiệu quả Ích khí dưỡng huyết, khai thông kinh mạch tán hàn.
Các loại thành dược trị chứng viêm chu vi vai:
1/ Côn Minh Sơn Hải Đường phiến
Có tác dụng thông kinh hoạt lạc, tiêu viêm giảm đau
Chủ trị; Đau gân xương, phong thấp hàn tí, tê dại, viêm chu vai vai thời kỳ đầu
Sử dụng: Uống mỗi lần 2~3 phiến, mỗi ngày 3 lần.
2/ Phong thấp hàn thống phiến
Thành phần: Xem ở chương viêm khớp dạng thấp.
Công hiệu: Khứ phong tán hàn, lợi thấp thông lạc, phù chính cố bản.
Chủ trị: Các kỳ viêm chu vi vai.
Dụng pháp: Uống một lần 6 phiến, ngày 2,3 lần.
3/ Phong thống an giao nang
Thành phần:Phong kỷ, Mộc qua, Quế chi, Thạch cao sống, Khương hoàng, Hải đồng bì, Nhẫn đông đằng (Kim ngân đằng), Liên kiều, Thông thảo, Hoàng bá.
Công hiệu: Thanh nhiệt lợi thấp, Hoạt huyết thông lạc.
Chủ trị: Viêm chu vi vai thời kỳ đầu và giữa có hiện tượng nhiệt.
Dụng pháp: Mỗi lần uống 4,5 viên, mỗi ngày 3 lần.
4/ Tí khổ nãi đình phiến
Thành phần: Chế xuyên ô, chế Thảo ô, chế Nhũ, Một, chế Mã tiền tử, hoài Sinh địa, Ý rĩ nhân.
Công hiệu: Khứ phong tán hàn, hoạt huyết hoá ứ, thư cân thông lạc.
Chủ trị: Các kỳ viêm chu vi vai.
Dụng pháp: Mỗi lần uống 5~7 phiến, mỗi ngày 4 lần, uống liên tiếp 3 tháng là một liệu trình.
5/ Tí long thanh an phiến
Thành phần: Tỳ giải, hoài Sinh địa, chế Mã tiền, chế Nhũ hương, chế Một dược, Ý rĩ nhân.
Công hiệu: Trừ thấp tiêu phù thũng, hoạt huyết hoá ứ, thư cân hoạt lạc.
Chủ trị: Các thời kỳ viêm chu vi vai có hiện tượng nhiệt.
Dụng pháp: Mỗi lần uống 5~7 phiến, mỗi ngày 4 lần, uống liên tiếp 3 tháng là một liệu trình.
Các phương kinh nghiệm điều trị bệnh viêm chu vi vai:
1/ Thang Xuyên Khương hoạt
Thành phần: Khương hoạt, Tần giao, Hải phong đằng, Mộc qua, Ngũ gia bì, Xuyên đoạn, Phòng phong, Tế tân, Đan sâm, Tang chi.
Công hiệu: Khứ phong tán hàn, thư cân thông lạc.
Chủ trị: Viêm chu vi vai thời kỳ đầu.
Dụng pháp: Sắc uống, ngày 1 thang.
2/ Thang Tứ vật gia vị
Thành phần: Thục địa, Đương quy, Xuyên khung, Bạch thược, Quế chi, Sinh khương, Cam thảo.
Công hiệu: Dưỡng huyết hoạt huyết, ôn kin tán hàn.
Chủ trị: Viêm chu vi vai các thời kỳ,
Dụng pháp: Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
3/ Phương Hoá đàm hành khí
Thành phần: Phục linh 5g, Khương Bán hạ 12g, Chỉ xác 10g, Phong hoá tiêu 6g, Bạch truật 12g, Bạch giới tử 12g, Khương hoàng 10g, Tang chi 12g, Sinh khương 8g
Công hiệu: Hoá đàm hành khí, thư cân chỉ thống.
Chủ trị: Viêm chu vi vai loại hình thấp gây trở ngại mạch lạc.
Dụng pháp: Sắc uống, ngày 1 thang.
4/ Thang Ngọc trúc
Thành phần: Ngọc trúc 30g, Ký sinh 30g, Lộc hàm thảo 15g, Bạch truật 15g, Phục linh 15g, Ngưu tất 15g, Bạch thược 15g, Cam thảo chích 9g.
Công hiệu: Kiện tỳ trừ thấp, Bổ thận thông lạc.
Chủ trị: Viêm chu vi vai, một cánh tay hoặc 2 cánh tay bị đau, không thể giơ cao hoặc vận động không linh hoạt, bất luận bệnh mới phát hoặc đã lâu.
Dụng pháp: Mỗi ngày sắc 1 thang, sắc 2 lần chia uống.
Những thuốc cao dán ngoài điều trị viêm chu vi vai
1/ Kiên niêm linh
Thành phần và phép chế: Hùng hoàng, Chương não, Cấp tính tử, Công đinh hương, Bán hạ sống, Ô xà, Ngô công, Phàn sĩ lâm (Vaseline). Tán bột các vị thuốc, dùng Phàn sĩ lâm trộn với bột thuốc thành cao.
Công hiệu: Ôn kinh thông lạc, tán hàn giảm đau.
Chủ trị: Viêm chu vi vai do phong hàn kèm theo ứ trệ.
Dụng pháp: Lấy một lượng thuốc mỡ thích hợp, phết lên băng và dán vào vùng bị ảnh hưởng.
2/ Kiên ngưng cao
Thành phần và phép chế: Ngưu bàng tử 1599g, Bạch phượng tiên 120g, Xuyên khung 120g, Quế chi 60g, Đại hoàng 60g, Đương quy 60g, Bạch liễm 60g, Quế chi 60g, Thảo ô 60g, Địa long 60g, Cương tàm 60g, Xích thược 60g, Bạch cập 60g, Nhũ hương 60g, Một dược 60g, Tục đoạn 120g, Phòng phong 120g, Kinh giới 120g, Mộc hương 120g, Tô hợp hương du 120g, Phong thố (sáp ong) 3000g, Hương du 5000g.
Các vị thuốc trên cho vào nồi chiên ngập dầu, lọc bỏ bã, thêm sáp ong khuấy đều thành hỗn hợp sền sệt, mùa hè lượng sáp ong tăng, mùa đông giảm, 1 tuần sau lấy ra dùng.
Công hiệu: Ôn kinh thông lạc, khứ phong tán hàn, hoá ứ giảm đau.
Chủ trị: Các loại hình viêm chu vi vai
Dụng pháp: Trải một lượng thuốc mỡ thích hợp lên tấm vải bông, trải đều, dán vào vùng bị ảnh hưởng và thay thế nó cứ sau 3 đến 5 ngày một lần.
3/ Cao tiêu tán
Thành phần và phép chế: Trạch tất thảo trước tiết thanh minh 2500g, Sinh thái du 7500g, Ma hoàng sống,Bán hạ sống, Nam tinh sống, Cam toại mỗi vị 180g, Bạch giới tử, Đại kích, Cương tàm mỗi vị 240g, Hoàng đằng 90g, Hoả tiêu 30g, Hoàng diên phấn sao 1500g. Đầu tiên cho Trạch tất thảo vào dầu đun sôi đến cạn bỏ bã, sau đó thêm Ma hoàng, Nam tinh, Cam toại, Bạch giới tử, Đại kích, Cương tàm vào, đun sôi bỏ bã,khi nào nhỏ thuốc vào nước thành dạng như hạt châu thì cho Hoàng đằng, Hoả tiêu vào đun cạn lọc lấy dầu trong, cho Hoàng diên phấn vào để thành cao và phết thuốc mỡ lên giấy kraft.
Công hiệu: Ôn kinh tán hàn, trừ đàm trị đau.
Chủ trị: Viêm chu vi vai loại hình đàm trọc.
Dụng pháp: Rửa sạch vùng bị ảnh hưởng, hòa tan thuốc mỡ, dán lên vùng bị ảnh hưởng và thay đổi 5 ngày một lần.
4/ Ngũ chi cao
Thành phần và phép chế: Tang thụ chi, Hoè thụ chi, Du thụ chi, Đào thụ chi, Liễu thụ chi mỗi thứ đều 36cm (Đường kính 12mm), nên hái vào cuối mùa thu, đầu mùa đông. Cắt thành từng đoạn mỗi đoạn 3cm, cho vào 500g dầu mè, chiên ngập dầu cho cháy (vàng), vớt ra, Nhũ hương và mộc dược mỗi thứ 15g xay nhỏ, cho vào dầu, vừa đảo vừa khuấy ( khuấy theo một hướng), trộn đều, sau đó thêm 250g Chương đan, tiếp tục khuấy cho đến khi thành hỗn hợp sền sệt, để ấm rồi phết lên 25-30 miếng giấy kraft để sử dụng sau.
Công dụng: Thông kinh hoạt lạc, hoá ứ giảm đau.
Chủ trị: Viêm chung quanh khớp vai.
Dụng pháp: Rửa sạch chỗ bị đau, lấy thuốc mỡ bôi lên chỗ bị đau, cứ 5 ngày lại thay băng một lần. Đồng thời, bệnh nhân được hướng dẫn các bài tập tăng cường chức năng của khớp vai.
Các liệu pháp châm kim điều trị viêm chu vi vai là gì?
1/ Liệu pháp châm kim
Liệu pháp 1
a/ Dùng các huyệt: Loại hình hàn tính dùng Du, Kiên tam châm huyệt, A thị, Khúc trì, phối huyệt dùng Can du, Cách du. Chủ huyệt cho loại hình thấp thắng gồm A thị, tí, Khúc trì; Phối huyệt Tỳ du, Thận du, Tam âm giao, Túc tam lý, Khí hải. Loại hình phong nhiệt chủ huyệt dùng Tí, Khúc trì, Hợp cốc; Phối huyệt dùng Đại chuy, Thương dương, Can du, Cách du.
b/ THủ pháp: Loại hình hàn thắng và thấp thắng dùng bình bổ bình tả hoặc cứu sau khi châm hoặc giác hơi; Loại hình phong nhiệt dùng phép tả.
Liệu pháp 2
a/ Dùng huyệt: Kiên trinh (châm sâu), Kiên tỉnh huyệt.
b/ Thủ pháp: Yêu cầu bệnh nhân để thõng cánh tay và co khuỷu tay, đồng thời dùng kim số 28, dài 4 inch đâm vào vai khoảng 2 inch, sao cho đầu kim hơi nghiêng ra ngoài; để có cảm giác đau cục bộ, tê và sưng lan xuống cẳng tay và các ngón tay. Sau đó dùng kim cùng cỡ đâm từ vai xuyên xuống qua lớp cơ đến huyệt cánh tay, khớp vai có cảm giác đau nhức, tê bì và sưng tấy khá mạnh. Châm vào huyệt Kiên tỉnh từ 5 đến 8 phút. Sau khi giữ lại kim, làm ấm bằng điếu ngải trong 10-15 phút, mỗi ngày một lần.
Liệu pháp
a/ Dùng huyệt; Châm Điều khẩu thấu Thừa sơn
b/ Thủ pháp: Người bệnh đứng, lấy bên trái dùng bên phải, bên phải dùngbên trái, dùng phương pháp đả thông, cảm giác kim châm truyền lên trên, sau khi đắc khí, dặn người bệnh nhấc chi bị đau lên. hướng lên trên một cách mạnh mẽ, di chuyển khớp vai, không lưu kim.
Liệu pháp 4
a/ Dùng huyệt: Chủ huyệt dùng Kiên lăng, phối huyệt dùng Trung chử, Đại chuy, Kiên trung.
b/ THủ pháp: Phương pháp chính là xoắn, bổ sung bằng cách nâng và chèn. Tùy theo tình trạng mà áp dụng phương pháp bổ hư tả thực hoặc bình bổ bình tả. Điểm chính là Mâu thích pháp. Ngày 1 lần, một liệu trình 7 lần.
Liệu pháp 5
a/ Dùng huyệt: Huyệt Trung bình (Từ Túc tam lý xuống 1 thốn, từ Thượng cự hư lên 2 thốn, lệch về phía bắp chân).
b/ Thủ pháp: Sử dụng kim số 28 từ 2,5 đến 4 thốn để châm thẳng, nhấc, chèn và vê với lực lớn, chủ yếu sử dụng phương pháp tả.
Cảm giác kim là dẫn truyền đường dài kiểu sét. Ở giai đoạn đầu, cơn đau biến mất sau khi kim đâm và có thể không lưu kim. Đối với những bệnh nhân bị dính khớp vai nặng ở giai đoạn cuối, nên lưu kim trong 30 phút và châm cứ sau 5 đến 10 phút, cách ngày châm một lần, thực hiện 7 lần là một liệu trình. bên bị bệnh nên châm huyệt Trung bình của bên bị bệnh, hai bên bị bệnh nên châm huyệt cả hai bên.
6/ Liệu pháp cứu
① Ôn cứu khí cứu (cứu bằng dụng cụ cứu chuyên dụng)
a/ Dùng huyệt: Kiên trinh, Kiên tỉnh.
b/ Phương pháp: Cho bột cứu ngải và bột y học cổ truyền Trung Quốc (tùy theo tình trạng bệnh) vào thiết bị châm cứu rồi đốt cùng nhau, cố định chúng vào các điểm mềm và huyệt trên vai để châm cứu, có thể lót vài lớp gạc để ngăn thiết bị châm cứu quá nóng làm bỏng da. Cứu mỗi lần 30 phút, cách ngày cứu một lần, mỗi lần cứu 3 đến 4 huyệt, một liệu trình 10 lần.
② Ôn châm cứu
a/ Dùng huyệt: Chủ huyệt dùng Kiên tam châm (Trước vai, sau vai), Thiên tôn, Kiên trung du, Thân thiết; Phối huyệt dùng cánh tay, Kiên ngoại du, Kiên tỉnh, Khúc trì, A thị.
b/ Phương pháp: Lấy các huyệt ở bên bị bệnh, chủ yếu là huyệt chính, mỗi lần châm từ 4 đến 6 huyệt, châm đắc khí xong áp dụng phương pháp bình bổ bình tả, giữ yên kim, đặt đoạn ngải cứu lên cán kim, chiều dài châm. Đoạn ngải cứu 2 cm, đường kính 1 đến 2 cm, đầu dưới có đốt, mỗi đoạn cứu 1 tráng, mỗi huyệt cứu 2 đến 3 tráng. Mỗi ngày 1 lần hoặc cách ngày, một liệu trình 10 lần.
7/ Liệu pháp châm mới
① Tiêm vào huyệt
a/ Dùng huyệt: Tìm phản ứng dương tính ở điểm đau.
b/ Thuốc và phương pháp: Dùng dịch tiêm Đương quy, trước tiên sát trùng vai, dùng kim số 5 trích dịch thuốc và tiêm vào điểm đau cục bộ, mỗi lần tiêm 0,5-1,0ml mỗi điểm. 1 lần mỗi tuần.
② Điện châm
a/ Dùng huyệt: Huyệt Giáp tích ở hai bên đốt sống cổ thứ 5.
b/ Phương pháp: Sau khi khử trùng các huyệt theo quy định, Y sinh giữ các huyệt ở một bên bằng ngón cái và ngón trỏ tay trái để nâng nhẹ da lên. Giữ cây kim hiệu 28 dài 3 thốn trong tay phải và nhanh chóng đâm vào huyệt đạo. Sau khi đâm kim, thân kim song song với cột sống, áp sát vào da và mũi kim đâm dọc theo da xuống dưới. Sau khi đắc khí, tiếp tục di chuyển kim để cảm giác kim có thể lan tỏa đến vai hoặc lưng. Dùng cách tương tự đâm vào huyệt bên kia. Sau đó kết nối tay cầm kim ở cả hai bên với dây dẫn của máy điện trị liệu G6805 và điều chỉnh theo dải sóng liên tục, tần số là 1000-1500 lần / phút và mức hiện tại dựa trên khả năng chịu đựng của bệnh nhân. Lưu kim 15-30 phút, ngày 1 lần.
Phép thôi nã (xoa bóp) điều trị bệnh viêm chu vi vai như thế nào?
Các phương pháp xoa bóp để điều trị bệnh đau vai gáy là gì?
Phép thôi nã 1 (Xoa bóp 1)
1/ Chọn huyệt: Liên tỉnh, Bỉnh phong, Thiên tông, Kiên trinh, Khúc trì, Hợp cốc.
2/Kỹ thuật thực hiện: a/Người bệnh ngồi thẳng, chi bị bệnh thả lỏng và chùng xuống. Y sinh đứng ở bên vai bị bệnh, một tay giữ cánh tay của bệnh nhân để hơi dạng ra, tay còn lại sử dụng phương pháp day hoặc phương pháp đẩy một ngón tay để tiến hành kỹ thuật, tập trung vào phía trước vai, cơ delta và mặt trong của cánh tay trên. Khi thực hiện động tác lăn phía trước vai và cơ delta, tay còn lại có thể phối hợp với chi bị ảnh hưởng để thực hiện động tác giạng thụ động và xoay ngoài. Nếu bệnh nhân sợ đau và cơ vai và cánh tay bị căng trong quá trình thực hiện động tác, bệnh nhân có thể thực hiện ở tư thế nằm ngửa, chi bị bệnh hơi dang ra, khuỷu tay gập 90* Y sinh dùng một tay giữ cổ tay, tay kia áp dụng phương pháp lăn lên phía trước vai, mặt trong của bắp tay và cơ delta. Hai tay phối hợp và phối hợp làm cho khớp vai xoay trong và xoay ngoài. b. Ngồi xuống và di chuyển lên. Y sinh sử dụng một tay để lăn ở mặt ngoài của vai bị ảnh hưởng và mặt sau của nách, tay còn lại có thể phối hợp với việc duỗi và xoay thụ động của chi bị đau, đồng thời uốn cong khuỷu tay để nâng mu bàn tay lên dọc theo cột sống đi lên. Cần lưu ý, động tác nâng phải đều đặn, nhẹ nhàng, phạm vi tăng dần, không nên tránh những động tác thô bạo, kẻo gây đau dữ dội khiến người bệnh không chịu nổi. c) Y sinh đứng phía sau bên bị ảnh hưởng và lần lượt xoa các huyệt Kiên tĩnh, Bỉnh Phong, Thiên Tông, Kiên trinh và Kiên nội lăng. Đối với những người hay bị đau về đêm, có thể dùng huyệt Thiên tông như một phương pháp xoa bóp chính. d) Thầy thuốc đứng bên bệnh, một tay giữ vai bệnh, tay kia nắm cổ tay, đồng thời xoay lắc quanh khớp vai làm trục, từ nhỏ đến lớn. Sau đó thực hiện động tác đưa và kéo cánh tay bị đau: bác sĩ đứng phía sau bệnh nhân, ấn bụng vào lưng bệnh nhân để ổn định cơ thể, sau đó dùng một tay đỡ vai bị đau, tay kia giữ khuỷu tay bị đau và kéo hướng về phía khớp vai bên lành. Phương pháp này phù hợp với những người bị rối loạn vận động khớp vai rõ rệt. e. Phương pháp kéo về phía sau và kéo khớp vai: Thầy thuốc đứng phía trước và bên ngoài bên đau, một tay giữ cổ tay bên đau, tay kia đỡ lưng bên lành và kéo bên bị đau. cánh tay từ trước ra sau với bàn tay nắm lấy cổ tay, càng xa càng tốt, sau khi kéo dài, phạm vi có thể dần dần tăng lên. f/ Phương pháp kéo trong xoay khớp vai: Thầy thuốc đứng phía sau bên lành của bệnh nhân, một tay giữ vai bên lành không cho nửa thân trên của bệnh nhân chúi về phía trước, nắm lấy cổ tay của bệnh nhân, tay kia kéo chi bị ảnh hưởng về phía bệnh nhân từ phía sau. Sau khi thả lỏng và siết chặt, hãy tăng dần phạm vi chuyển động. Phương pháp này phù hợp với những người có rối loạn xoay trong khớp vai rõ ràng. g/Phương pháp lắc khớp vai: Thầy thuốc đứng trước mặt bệnh nhân, dùng hai tay nắm cổ tay bên bị đau. Nâng nó lên từ từ, đồng thời kéo và lắc. Khi nâng rung, chi bị ảnh hưởng phải được thả lỏng hoàn toàn, tần suất rung phải nhanh và tăng dần biên độ. h/ Dùng phương pháp xoa lên xuống nhiều lần từ vai xuống cẳng tay để làm giãn khớp vai. Day Kiên nội lăng, Khúc trì và Hợp cốc. Phương pháp này được sử dụng như thủ pháp kết thúc xoa bóp vai.
Thôi nã 2
1/ Tư thế bệnh nhân: Để bệnh nhân ngồi, người thi triển thủ thuật đứng bên cạnh, đầu tiên dùng bột hoạt thạch thoa lên vai bệnh nhân với lượng vừa đủ, để có thể thi triển thủ pháp
2/ Thao tác: Các kỹ thuật xoa bóp nên chủ yếu là lắc, véo, nhào, ấn, luân phiên sử dụng, thông thường thao tác kéo dài 20 phút, kỹ thuật cụ thể như sau.
a.Phương pháp véo: Thầy thuốc đặt ngón cái và các ngón trỏ, giữa, áp út vào khớp vai, sau đó thực hiện véo đối xứng xuống dưới, đồng thời dùng ngón tay cái day ấn huyệt Khúc trì. Lặp lại thao tác từ 3 đến 5 lần.
b) Phương pháp gõ: Thầy thuốc giữ tư thế nắm nửa bàn tay, dùng lực ở gò Tiểu ngư tế gõ dọc theo đoạn giữa vai và huyệt Khúc trì, gõ với tiết tấu nhanh để gây chấn động chi thể, lặp lại thao tác này từ 3 đến 5 lần.
c.Phương pháp nắm chặt: Thầy thuốc áp lòng bàn tay phải vào da khớp vai, dùng đại, tiểu ngư tế để tác dụng lực, xoa bóp nhanh theo hình tròn ở huyệt Đại truy và khớp vai, lặp lại thao tác trong 3 đến 5 lần.
d.Lắc: thầy thuốc dùng hai bàn tay nắm chặt bàn tay và năm ngón tay của bệnh nhân, kéo thẳng hết mức chi bị bệnh, sau đó lắc vòng tròn luân phiên từ trong ra ngoài, rồi từ ngoài vào trong, phạm vi có thể thay đổi từ nhỏ. đến lớn, rồi từ lớn đến nhỏ 3~ 5 lần.
e. Ngay sau khi phẫu thuật kết thúc, chiếu xạ cục bộ bằng thiết bị trị liệu hồng ngoại 500W trong 20 phút.
Rượu thuốc nào dùng để điều trị bệnh viêm chu vi vai?
1/ Rượu Bạch hoa xà
Thành phần: Bạch hoa xà 1 con, Rượu trắng 500ml. Ngâm Bạch hoa xà trong rượu 7 ngày là thành.
Công hiệu: Khứ phong thắng thấp, thông lạc chỉ thống.
Chủ trị: Viêm chu vi vai loại hình phong hàn thấp.
Dụng pháp: Mỗi lần uống 1 ly nhỏ, ngày 2 lần.
2/ Rượu Đan sâm
Thành phần: Đan sâm 30g, rượu trắng 500ml. Ngâm Đan sâm vào rượu sau 7 ngày là có thể sử dụng.
Công hiệu: Hoạt h 15guyết hoá ứ.
Chủ trị: Viêm chu vi vai loại hình huyết ứ.
Dụng pháp: Mỗi lần 20ml, ngày 2 lần.
3/ Rượu Cẩu tích
Thành phần: Cẩu tích 20g, Mã tiên thảo 12g, Đỗ trọng 15g, Uy linh tiên 10g, Ngưu tất 6g, Thông thảo 12g, Xuyên đoạn 15g, rượu trắng 1000ml. Ngâm các vị thuốc vào rượu sau 7 ngày có thể sử dụng.
Công hiệu: Mạnh gân xương, khứ phong thông lạc.
Chủ trị: Viêm chu vi vai loại hình hàn thấp ngưng trệ.
Dụng pháp: Mỗi lần 20ml, ngày 2~3 lần.
4/ Rượu Tần giao Mộc qua
Thành phần: Tần giao, Xuyên ô, Thảo ô, Uất kim, Khương hoạt, Xuyên khung mỗi vị 10g, Mộc qua 20g, Toàn yết 2g, Rthaasu cốt thảo, Kê huyết đằng mỗi vị 30g. Rêu lưỡi vàng, mạch sác thì gia thêm Uất kim đến 20g, Từ trường liễu 30g, Lục nguyệt tuyết 15g, Nhẫn đông đằng 20g. Ngâm các vị thuốc vào 1000g rượu 60 độ, sau 15 ngày là có thể uống.
Công hiệu: Khứ phong thông lạc, hoá ứ giảm đau.
Chủ trị: Các loại hình viêm chu vi vai.
Dụng pháp: Mỗi lần 20ml, ngày 2~3 lần.
Các chế độ ăn uống với thuốc để điều trị bệnh viêm chu vi vai gồm các loại gì?
(1) Canh thịt rắn: Ô xà nhục, hồ tiêu, gừng, muối vừa đủ, hầm nhừ thành canh, ăn cả canh và thịt, ngày 2 lần. Nó có tác dụng bồi bổ hư tổn, khứ phong, tán hàn.Thích hợp cho những người viêm chu vi vai vai giai đoạn cuối, thể chất yếu, phong thấp cản trở kinh lạc.
(2) Canh gà tang chi: Cành dâu già (Lão tang chi) 60g, gà mái già 1 con, muối một ít. Cắt nhỏ nhánh dâu tằm, nấu với thịt gà cho đến khi nhừ thành canh đặc, thêm muối vừa ăn, uống canh và ăn thịt. Nó có tác dụng khứ phong thấp, khai thông kinh lạc, bổ khí huyết. Thích hợp cho những người đang ở giai đoạn mạn tính của chứng viêm chu vi vai mà thể chất yếu, phong thấp trở ngại mạch lạc.
(3) Cháo xuyên ô: Xuyên ô đầu khoảng 5g, gạo tẻ 50g, nước cốt gừng khoảng 10 giọt, mật ong lượng thích hợp. Nghiền Xuyên ô và xay thành bột rất mịn. Gạo tẻ nấu trước, sau đó thêm bột Xuyên ô vào khi cháo gần được, đun trên lửa nhỏ từ từ, khi chín cho nước gừng và mật ong vào, quấy đều, nấu một lúc là được. Nó có tác dụng trừ phong hàn, thông lợi khớp xương, làm ấm kinh lạc, giảm đau. Thích hợp cho chứng viêm chu vi vai do phong hàn thấp xâm phạm.
(4) Cháo Bạch thược Đào nhân: Bạch thược dược 20g, Đào nhân 15g, gạo tẻ 60g. Đầu tiên sắc rễ Bạch thược với nước còn khoảng 500ml, sau đó lấy hạt đào nhân bỏ vỏ và đầu nhọn, cho nước vào lấy nước cốt, đun nước sắc hai vị với gạo tẻ nấu thành cháo ăn được. Nó có tác dụng dưỡng huyết, trừ huyết ứ, thông kinh lạc, giảm đau. Thích hợp cho những người bị chứng huyết ứ bế tắc viêm chu vi vai thời kỳ cuối.
Viêm chu vi vai
Chứng trạng:
Quá trình phát bệnh viêm chu vi vai và biểu hiện lâm sàng cần trải qua 3 giai đoạn. Ba giai đoạn này rõ rệt hơn ở những bệnh nhân mắc bệnh mạn tính. Hiểu biết về quá trình phát bệnh này, có ý nghĩa rất lớn đối với việc phòng ngừa và điều trị chứng viêm chu vi vai. Ba giai đoạn như sau.
⒈Thời kỳ đông cứng──Là giai đoạn khởi phát cấp tính của bệnh viêm quanh khớp vai, chủ yếu là những biến đổi bệnh lý như co thắt cơ phản xạ do viêm và đau, không có những biến đổi bệnh lý không hồi phục như dính mô mềm. Các biểu hiện lâm sàng được đặc trưng bởi đau và rối loạn chức năng của khớp vai, đây là giai đoạn ban đầu của bệnh cứng khớp vai.
2. Giai đoạn ổn định – Đây là giai đoạn khởi phát cấp tính của chứng viêm chu vivai chuyển sang giai đoạn khởi phát mãn tính, khi các triệu chứng đau vai thuyên giảm. Tuy nhiên, do sự co rút, tăng sản, phì đại và dính của mô mềm quanh khớp sau phản ứng viêm làm hạn chế vận động khớp vai, giai đoạn này là giai đoạn biến đổi bệnh lý hữu cơ của mô mềm.
⒊Thời kỳ tan băng—quá trình viêm nhiễm tự giảm bớt (nếu phát triển tự nhiên), bệnh lý ngừng phát triển, các triệu chứng thuyên giảm, nếu có thể tiếp tục vận động, chức năng có thể dần hồi phục đến một mức độ nhất định, nếu không, chức năng sẽ thường không tự phục hồi.
Điều trị phục hồi chức năng viêm chu vi vai
Viêm chu vi vai hay còn gọi là viêm quanh khớp vai là bệnh thường gặp ở người cao tuổi. Bởi vì nó chủ yếu xảy ra ở độ tuổi 50, nó còn được gọi là “Ngũ thập kiên” (五十肩). Viêm chu vi vai khiến toàn bộ khớp trở nên cứng và khó cử động, như thể bị viêm chu vilại với nhau, còn được gọi là “Đỗng kết kiên” (冻结肩) Vai đông đá
Viêm vai bắt đầu khi cơn đau ở một vai hoặc cánh tay trên lan xuống khuỷu tay, đồng thời đau lan lên cổ, đau trầm trọng hơn sau khi hoạt động và đau làm người bệnh tỉnh giấc vào ban đêm. Ở giai đoạn sau, cử động của khớp vai chủ yếu bị hạn chế, vai không thể duỗi thẳng hoặc nâng lên, không chỉ ảnh hưởng đến công việc mà còn ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày, ngay cả việc ăn uống, viết lách, mặc quần áo, chải tóc cũng gặp khó khăn.
Mục đích của điều trị phục hồi chức năng cho viêm chu vi là cải thiện lưu thông máu ở vai, tăng cường trao đổi chất, giảm dính cơ, kéo căng và co mô, để giảm đau và phục hồi chức năng bình thường của khớp vai.
l.Ở giai đoạn cấp tính hoặc giai đoạn đầu, tốt nhất là nên áp dụng một số biện pháp cố định và giảm đau ở vai bị bệnh để giảm đau cho người bệnh như treo khăn tam giác, chườm nóng ở vai bệnh, phương pháp điều trị như vật lý trị liệu hoặc liệu pháp phong bế**.
**Liệu pháp phong bế: Dùng thuốc tê hoặc thuốc mê hoặc dược vật kích tố hỗn hợp tiêm vào vị trí đau, để đạt được mục đích tiêu viêm giảm đau.
2. Giai đoạn mạn tính biểu hiện chủ yếu là rối loạn chức năng khớp vai. Tại thời điểm này, các bài tập chức năng và xoa bóp được sử dụng chủ yếu, và vật lý trị liệu được sử dụng để điều trị. Phương pháp điều trị phục hồi chức năng viêm chu vi chủ yếu là thể dục y tế.
(l) Bài thể dục: hai tay cầm gậy thể dục, duỗi thẳng hai cánh tay về phía trước thân người, sau đó liên tục nhấc gậy lên trên, đưa ra sau đầu càng xa càng tốt; Khi gậy ở phía sau người, giữ gậy bằng cả hai tay, và nâng nó lên một cách mạnh mẽ.
(2) Bài tập leo ngón tay: đứng nghiêng hoặc phía trước, nâng cánh tay bên bị đau lên, dán ngón trỏ và ngón giữa vào tường, sau đó từ từ di chuyển dọc theo tường lên trên.
(3) Giơ cánh tay bên bị đau và chạm vào phía sau đầu mình nhiều lần; Đưa tay bị đau ra sau cơ thể và nhấc lên chạm vào lưng. Nếu cánh tay ở bên bị ảnh hưởng không thoải mái khi di chuyển, hãy sử dụng bàn tay không bị bệnh để giúp nâng cánh tay ở bên bị bệnh.
Viêm chu vi vai thường có bệnh trình khá dài, đặc biệt là đối với những người bị hạn chế vận động khớp vai, có thể kéo dài vài tháng, thậm chí cả năm. Vì vậy, người già bị viêm chu vi vai nên tiếp tục thực hiện các bài tập phục hồi chức năng mỗi ngày, đồng thời tăng dần thời gian và tần suất tập để đạt hiệu quả tốt hơn. Tập thể dục nên được thực hiện ở mức độ gây đau nhẹ, nhưng nên tránh gây đau kịch liệt.
Ngoài ra, châm cứu, vật lý trị liệu cũng có hiệu quả nhất định.
Bệnh viêm chu vi vai cũng có thể ngăn ngừa được. Người cao tuổi thường ít hoạt động, nên tình trạng lưu thông máu của các mô xung quanh chi trên và vai khá yếu kém. Vì vậy, bao khớp và bao gân của khớp vai dễ bị thoái hóa, vôi hóa và phát sinh viêm nhiễm. Nếu người cao tuổi chú ý tập thể dục và vận động chi trên và vai, họ có thể tránh được tình trạng cứng vai một cách hiệu quả. Trích từ Doctor Gamma Network.
Viêm khớp chu vi vai do Shuttlecock Studio chế tác
Viêm quanh khớp vai là một bệnh thoái hóa do tuổi già, được gọi là “Kiên chu viêm” (肩周炎) , thường được gọi là “Ngũ thập kiên”. Xảy ra nhiều ở người trung niên và cao tuổi. Nó liên quan đến chấn thương vai nhẹ, làm việc quá sức hoặc tiếp xúc với lạnh, thường không có triệu chứng toàn thân, đặc điểm đặc trưng là vận động khớp vai bị hạn chế, đau vai và đau âm ỉ, rõ rệt nhất là khi nâng vai và đưa cánh tay ra ngoài. Trong trường hợp nghiêm trọng, cơn đau lan sang cùng một bên của cánh tay, cẳng tay và thậm chí lan lên cả cổ và vùng chẩm, ảnh hưởng đến giấc ngủ vào ban đêm.
Những điều cần thiết khi chăm sóc tại nhà
1. Khi bị đau kịch liệt ảnh hưởng đến giấc ngủ, bạn có thể uống thuốc giảm đau, chườm nóng tại chỗ, vật lý trị liệu (điều trị bằng dụng cụ quang phổ) hoặc xông hơi và rửa bằng thuốc đông y.
2. Vận động khớp vai bị hạn chế, đau rõ rệt, có thể điều trị phong bế**, day huyệt, xoa bóp, châm cứu, sau khi điều trị nên được chăm sóc và hỗ trợ trong sinh hoạt như giúp mặc quần áo, chải tóc, v.v.
3. Khuyến khích và hỗ trợ bệnh nhân thực hiện các bài tập chức năng, chẳng hạn như giúp các khớp bị ảnh hưởng nâng lên, dạng ra, xoay trong và ngoài một cách thụ động và các cử động khác. Nó cũng có thể được thực hành dần dần trên cơ sở chủ động.
1/ Liệu pháp leo tường bằng ngón tay. Chạm vào lưng, cổ và vai đối diện bằng bàn tay bên bị bệnh trước. Đứng cách tường khoảng 50 cm, giơ hai tay về phía trước, dùng lòng bàn tay hoặc đầu ngón tay chạm vào tường, dùng ngón tay leo dần lên tường cho đến khi chi bị đau không thể đưa lên được do vai đau hoặc khả năng vận động hạn chế, thực hiện. một dấu ở điểm cao nhất, Sau đó dùng tay leo xuống và lặp lại 10 đến 20 lần. Kiên trì thực hiện 3 đến 4 lần một ngày. Việc trở lại hoàn toàn chức năng bình thường có thể đạt được dần dần khi tập thể dục.
(2) Liệu pháp đong đưa. Cúi người, thả lỏng chi bị ảnh hưởng càng nhiều càng tốt, rủ xuống, xoay trái và phải 10 đến 20 lần, sau đó thực hiện các chuyển động vòng tròn theo chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ 10 đến 20 lần mỗi lần. Với sự gia tăng các hoạt động khớp vai và mức độ giảm đau, phạm vi hoạt động xoay và phạm vi vòng tròn có thể tăng dần.
(3) Liệu pháp gậy thể dục. Gậy thể dục cũng có thể được sử dụng thay cho cọc tre và gậy ngắn dài khoảng một mét. Phương pháp tập luyện như sau.
Phương pháp cầm gậy theo phương ngang: Hai tay cầm gậy trước mặt, đầu tiên giơ về phía bên trái, duỗi thẳng cánh tay trái. Khi gập cánh tay phải đưa về phía trước ngực, sau khi khôi phục lực cầm ở trước người thì nâng ngang về phía bên phải, lặp lại khoảng 10 lần.
Phương pháp nâng gậy: Hai tay cầm gậy trước mặt, đầu tiên nâng phẳng, sau đó nâng lên trên, sau đó lại nâng phẳng, lặp lại khoảng 10 lần.
Phương pháp cầm gậy sau đầu: hai tay cầm gậy, đưa qua đầu, khi cúi gập lại thì đưa gậy ra sau đầu và cổ, sau đó nhấc lên, lặp lại khoảng 10 lần.
Duỗi sau khi cầm gậy: hai tay cầm gậy, duỗi mạnh hai tay ra sau, rồi đưa gậy trở lại phía trước, lặp lại các động tác trên 10 lần.
Các điều cần chú ý
1. Cần tăng cường hoạt động của tất cả các khớp trên cơ thể, tập thể dục ngoài trời, chú ý an toàn, đề phòng tai nạn thương tích.
2. Người cao tuổi nên tăng cường dinh dưỡng, bổ sung canxi như ăn sữa, trứng, các sản phẩm từ đậu nành, canh xương, nấm mèo… hoặc bổ sung canxi bằng đường uống.
3. Việc tập luyện chức năng nên tiến hành từng bước và kiên trì trong thời gian dài, không nên ép buộc bản thân để tránh tái chấn thương. Tần suất và thời gian tập thể dục nên được kiểm soát linh hoạt, và tốt hơn là không nên quá mệt mỏi.
4. Khi chườm nóng và vật lý trị liệu cần chú ý độ ấm nóng của nước và nhiệt độ không được quá cao để tránh bị bỏng.
Vai đóng băng: Theo nghĩa hẹp là viêm chu vi vai, đó là đau khớp vai đột ngột và co rút. Các thay đổi bệnh lý bao gồm sự co rút của bao khớp ở giai đoạn đầu và các mô mềm bên ngoài bao khớp ở giai đoạn muộn (hoặc có thể bao gồm viêm gân cơ trên gai, viêm bao gân cơ nhị đầu dài, viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai, coracoid Thay đổi bệnh lý), cuối cùng liên quan đến khoang khớp xương bả vai.Vai đóng băng là bệnh có nhiều tổn thương, nhiều bộ vị bệnh, thường xảy ra ở độ tuổi khoảng 50 hay còn gọi là “Ngũ thập kiên”. Hầu hết các tài liệu báo cáo rằng tỷ lệ mắc bệnh của phụ nữ cao hơn một chút so với nam giới. Trên lâm sàng, vai bên trái thường gặp hơn vai bên phải, một số bệnh nhân có thể thấy bệnh ở cả hai bên vai.
Giai đoạn cấp tính của đóng băng vai được gọi là giai đoạn đóng băng tiến triển, chủ yếu là đau, đau kịch liệt, co thắt cơ và các triệu chứng trầm trọng hơn vào ban đêm; Ở giai đoạn mãn tính, cơn đau thuyên giảm, co rút và rối loạn vận động khớp dần dần rõ ràng , chuyển động của khớp vai ở tất cả các hướng rõ ràng là bị hạn chế và cứng đơ, ở trạng thái đông cứng, phạm vi đau rất rộng, giai đoạn sau vẫn có thể thấy teo cơ. Không có bất thường nào được tìm thấy trên phim X-quang đơn giản và chụp khớp có giá trị nhất định trong chẩn đoán bệnh này.
Điều trị cứng khớp vai trong giai đoạn cấp tính dựa trên việc cố định chi bị ảnh hưởng, nghỉ ngơi, xoa bóp tại chỗ, vật lý trị liệu, châm cứu, dùng thuốc và băng bó đều có thể làm giảm các triệu chứng; Trong giai đoạn mãn tính, các phương pháp giải phóng dính và phục hồi chức năng dưới gây mê được sử dụng để thúc đẩy chức năng phục hồi của khớp vai.
Nguyên nhân gây viêm quanh khớp vai
Hầu hết các học giả tin rằng nguyên nhân thực sự của chứng viêm chu vi vai phát sinh trên cơ sở thoái hóa của các mô mềm xung quanh khớp vai.
Bất kỳ sự kích thích nào có thể gây hạn chế chuyển động của khớp vai và cánh tay trên đều có thể dẫn đến tình trạng viêm chu vivai.
Các nguyên nhân dụ phát phổ biến như sau:
I/ Tổn thương quanh khớp vai: Có 3 dạng chính:
(1) Lao tổn hoặc thoái hóa mô mềm xung quanh khớp vai: Có thể gây viêm gân cơ trên đỉnh, viêm gân cơ nhị đầu, viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai, viêm bao khớp và chấn thương chóp xoay. Những viêm và chấn thương mãn tính này có thể ảnh hưởng đến bao khớp và các mô mềm xung quanh, gây viêm mãn tính và dính bao khớp.
(2) Chấn thương cấp tính đối với khớp vai: Chẳng hạn như đụng dập vai, gãy xương cổ phẫu thuật của xương cánh tay và trật khớp vai. Do hiện tượng viêm tiết dịch tại chỗ, đau và co cứng cơ sẽ dẫn đến sự kết dính của bao khớp vai và các mô mềm xung quanh, dẫn đến đóng băng khớp vai.
(3) Hoạt động chức năng của vai hoặc bất động chi trên quá lâu: Hoạt động của vai giảm sút dẫn đến lưu thông máu cục bộ kém, dòng bạch huyết bị tắc nghẽn, ứ đọng dịch viêm, lắng đọng tiêm duy tố (fibrin) lâu ngày, hình thành kết dính, gây co rút bao khớp và xung quanh dính mô mềm; Trật khớp vai, gãy xương chi trên và cố định bên ngoài sau phẫu thuật quá lâu hoặc không chú ý đến các bài tập chức năng khớp vai trong quá trình cố định, đều có thể dẫn đến xuất hiện chứng viêm chu vi vai.
2. Bệnh ngoài khớp vai: Có 3 loại chính:
(1) Viêm chu vi vai do thoái hóa đốt sống cổ: Dùng để chỉ vai bị viêm do thoái hóa đốt sống cổ gây ra. Dữ liệu lâm sàng cho thấy rằng viêm chu vi vai này được đặc trưng bởi các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh thoái hóa đốt sống cổ trước tiên, sau đó xảy ra hiện tượng viêm chu vi vai. Đó là một biểu hiện lâm sàng của bệnh thoái hóa đốt sống cổ, hay còn gọi là một loại lâm sàng hơn là kết quả của những thay đổi thoái hóa ở khớp vai và các mô mềm xung quanh.
(2) Bệnh mạch vành: Cơn đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim hoặc thiếu oxy do cung cấp máu cho mạch vành không đủ gây ra, cơn đau chủ yếu ở vị trí sau xương ức, thường có thể lan ra vai, chi trên hoặc lưng, đặc biệt là vai trái và chi trên bên trái. Nó vẫn có thể gây co thắt cơ, hạn chế chuyển động của khớp vai và có thể dụ phát viêm chu vi vai.
3) Các yếu tố khác: Sự xuất hiện của bệnh này còn liên quan đến yếu tố tinh thần và tâm lý, tổn thương ở vai, tổn thương nhiễm trùng trong cơ thể, rối loạn nội tiết và phản ứng tự miễn dịch. Từ quan sát lâm sàng, người ta thấy rằng viêm chu vi vai thường cùng tồn tại với các bệnh như tiểu đường, liệt nửa người, lao và thoái hóa đốt sống cổ và tỷ lệ mắc bệnh tương đối cao.
Viêm chu vi vai
Một số người trung niên và người cao tuổi mặc dù không bị chấn thương rõ ràng, nhưng họ thường cảm thấy đau vai và không thể nhấc cánh tay lên, cơn đau sẽ dần tăng lên, thậm chí cơn đau có thể lan đến cổ, tai, cẳng tay và bàn tay. Trong trường hợp nghiêm trọng, chỉ cần chạm nhẹ cũng sẽ gây đau nhức không chịu nổi, thậm chí nửa đêm tỉnh giấc vì đau, cử động của vai rõ ràng bị hạn chế, không thể chạm vào túi quần, thắt lưng hay chải tóc. Ở đây là viêm quanh khớp vai, được gọi là viêm chu vi vai. Nó được gọi là “Ngũ thập kiên” ở Nhật Bản. Dân gian ta gọi là lậu kiên phong.
Viêm chu vi vai là tình trạng viêm mạn tính các mô mềm quanh khớp vai, các cơ quanh vai, gân, bao hoạt dịch và bao khớp, tạo thành các tổ chức dính trong và ngoài khớp, cản trở vận động của vai.X-quang có thể thấy loãng xương hoặc vôi hóa. Sự xuất hiện của viêm chu vi vai có thể liên quan đến chấn thương hoặc bị lạnh, hoặc khi cánh tay trên bị gãy, nó liên quan đến việc thiếu hoạt động trong một thời gian dài vì phải cố định bằng thạch cao.
Các biện pháp điều trị chính là các bài tập chức năng cho vai bị bệnh. Chịu đau và vung tay qua lại, hoặc vẽ vòng tròn. Bạn cũng có thể quay mặt vào tường, dùng hai tay chạm vào tường rồi từ từ nhấc lên, mỗi ngày vài lần, đồng thời ghi lại độ cao chạm vào tường, cố gắng dần dần cải thiện chức năng của khớp vai. Nếu đau nhiều có thể chườm nóng, hoặc dùng chai nước nóng, khăn nóng chườm lên vai, kết hợp với châm cứu, xoa bóp, ấn nắn… hoặc uống một số loại thuốc giảm đau, chống viêm thích hợp để giảm đau, tạm thời hạn chế cử động vai. Đối với các điểm ấn đau rõ ràng, có thể tiêm hydrocortisone axetat và procaine tại chỗ để điều trị phong bế.
Ở tuổi trung, lão niên nên chú ý giữ ấm và tập thể dục để ngăn ngừa phát sinh bệnh viêm chu vi vai.
Viêm chu vi vai là gì?
Bệnh viêm quanh khớp vai tên đầy đủ là Viêm chu vi khớp vai, còn được gọi là vai đóng băng, vai ngưng (trệ), do chủ yếu xảy ra ở bệnh nhân khoảng 50 tuổi, nữ nhiều hơn nam nên các học giả Nhật Bản còn gọi bệnh là “Ngũ thập kiên”. Y học cổ truyền Trung Quốc cho rằng bệnh này chủ yếu là do phong hàn ở vai gây ra, vì vậy nó còn được gọi là “Lậu kiên phong” (vai bị phong).
Các đặc điểm của bệnh viêm chu vi vai là gì?
Một chuyển động hoàn chỉnh của khớp vai chủ yếu được hoàn thành bởi bốn khớp, đó là khớp vu hoành (glenohumeral), khớp kiên toả (acromioclavicular), khớp Hung toả và khớp bả vai, và vai bị viêm chu vichủ yếu xảy ra ở khớp vu hoành glenohumeral. Nó được đặc trưng bởi sự xuất hiện dần dần của cơn đau và giới hạn hoạt động của khớp, đây là một quá trình lâm sàng đặc biệt, đó là khi cơn đau và giới hạn hoạt động của khớp vai đạt đến một mức độ nhất định, nó sẽ không tiếp tục phát triển nữa và cơn đau sẽ giảm dần, thậm chí khỏi hẳn, các cơn đau khớp cũng dần biến mất, các hoạt động và chức năng của người bệnh cũng dần hồi phục, nhưng cũng có một số ít bệnh nhân không thể hồi phục hoàn toàn. Một quá trình lâm sàng như vậy có thể kéo dài từ vài tuần đến nhiều năm.
Viêm chu vi vai hiếm khi xảy ra hai lần trên một khớp vai. Độ tuổi mà vai dễ bị viêm chu viphù hợp với độ tuổi mà các thay đổi thoái hóa nghiêm trọng xảy ra ở khớp vai. Những người có thể chất yếu, chẳng hạn như các bệnh chuyển hóa, suy dinh dưỡng, bệnh tim và hội chứng mãn kinh, bị thoái hóa khớp vai nhiều hơn người khỏe mạnh nên dễ mắc bệnh này hơn.
Các biểu hiện lâm sàng chính của viêm chu vi vai là gì?
Bệnh nhân thường không có tiền sử chấn thương, hoặc bị chấn thương rất nhẹ ở vai hoặc cánh tay trên, và dần dần bị đau, yếu và suy giảm khả năng vận động ở khớp vai và các cơ xung quanh. Đau là triệu chứng rõ ràng nhất và kéo dài dai dẳng. Nó có thể trầm trọng hơn một cách có ý thức vào ban đêm và ảnh hưởng đến giấc ngủ. Đau có thể gây co thắt cơ dai dẳng, co thắt cơ có thể từ nhẹ đến nặng, đau và co thắt cơ có thể chỉ giới hạn ở khớp vai hoặc có thể lan lên phía sau đầu, xuống cổ tay và các ngón tay; một số cũng có thể lấy khớp vai làm trục tiến về phía ngực, lùi về vùng xương bả vai, một số tỏa ra vùng cơ tam đầu, cơ delta hoặc vùng cơ nhị đầu, lúc này cần chẩn đoán kỹ lưỡng để phân biệt với bệnh thoái hóa đốt sống cổ và bệnh tim.
Viêm chu vi vai được phân thành các giai đoạn như thế nào?
Toàn bộ quá trình viêm chu vi vai có thể được chia thành ba giai đoạn: Giai đoạn ban đầu, giai đoạn đóng băng và giai đoạn tan băng. Giai đoạn đầu được đặc trưng bởi sự khó chịu và cảm giác co thắt ở khớp vai, cơn đau có thể giới hạn ở mặt trước bên của khớp vai, cũng có thể kéo dài đến điểm chèn của cơ delta. Cứng và đau ở khớp vai dần dần phát triển. Đau trong thời kỳ viêm chu vicó thể nhẹ hoặc nặng, đặc trưng là tăng nặng về đêm, ảnh hưởng đến giấc ngủ của người bệnh, khi vận động khớp vai có thể gây đau dữ dội, co cứng cơ dẫn đến liệt hoàn toàn khớp vai, như thể bàn tay bị ngưng trệ và đóng băng. Thời gian của giai đoạn này dài ngắn khác nhau, có thể là vài tuần, vài tháng thậm chí vài năm và cơn đau từ từ biến mất. Trong thời gian tan băng, cơn đau rất nhẹ, khớp vai bắt đầu lỏng lẻo dần, khớp cánh tay dần phục hồi các hoạt động nhiều hơn, một số bệnh nhân cá biệt chỉ phục hồi một phần chức năng khớp vai hoặc bị cứng không cử động được.
Chụp X-quang khớp vai có thể không thấy bất thường hoặc chỉ có loãng xương ở đầu xương cánh tay. Các xét nghiệm ESR, kháng liên “O” và thí nghiệm giao nhũ (latex) đều cho kết quả âm tính.
Viêm chu vi vai là một tình trạng viêm xảy ra trong khớp vai. Cơ chế gây bệnh của nó là gì?
Sự thay đổi ban đầu của viêm khớp vai là co bóp sợi, làm cho túi khớp co lại và nhỏ lại. Kiểm tra khớp vai bằng cách sử dụng chất màu xanh lá cây để chụp X-quang sẽ cho thấy thể tích của khớp giảm đi, và khi thăm khám bằng tay, ta sẽ thấy túi khớp co lại và rối tương ứng với vùng dưới túi khớp. Những mô mềm khác sẽ trông bình thường. Trong giai đoạn muộn của bệnh, ngoài việc túi khớp co lại nghiêm trọng, những mô mềm khác cũng bị ảnh hưởng, có sự thoái hóa toàn diện của sợi collagen, các mô bị tổn thương tiến triển thành sợi collagen. Một số mạch máu tăng lên, màng nhầy dày hơn, mô mềm mất đi tính đàn hồi, co rút và cứng. Do mô mềm rất giòn, nên khi đưa cẳng tay ra ngoài, có thể gây ra rách nứt.
Vai viêm chu viđược phân loại như thế nào?
Viêm quanh khớp vai có thể chia thành 4 loại sau tùy theo vị trí bệnh và diễn biến bệnh lý khác nhau:
(1) Bệnh biến bao hoạt dịch quanh vai: Bao gồm các thay đổi bệnh lý như viêm tiết dịch, dính, bế tắc và lắng đọng canxi của bao hoạt dịch; nó có thể liên quan đến bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai hoặc bao hoạt dịch dưới cơ delta, và bao hoạt dịch trên bề mặt bao hoạt dịch.
(2) Tổn thương khoang khớp vu quăng (Glenohumeral): “Bệnh khớp vai đóng băng hoặc khớp dính thứ phát” có thể xuất hiện dịch tiết tiêm duy (fibrinous) trong khoang ở giai đoạn đầu, và sự kết dính và giảm thể tích khoang khớp ở giai đoạn muộn.
(3) Các tổn thương thoái hóa của gân và bao gân: Viêm gân cơ nhị đầu dài và viêm bao gân, viêm gân trên gai (hội chứng vòng cung đau), viêm gân vôi hóa, đứt trục vai và đứt một phần cơ chóp xoay, hội chứng va đập, v.v.
(4) Các tổn thương khác quanh vai: Viêm huế đột (coracoid), viêm xơ vai, kẹt dây thần kinh trên vai, tổn thương khớp cùng đòn, v.v.
Các đặc điểm bệnh lý của viêm chu vi vai là gì?
Giữa sự thay đổi sớm và sự thay đổi muộn của vai bị đóng băng, có một quá trình phức tạp mà chúng ta vẫn chưa hiểu rõ lắm. Toàn bộ cơ chế bệnh sinh của viêm chu vi vai có ba đặc điểm sau: ①Các mô mềm xung quanh bao khớp cuối cùng sẽ bị xâm lấn; ②Sự phát triển của các tổn thương không nhất quán và không phải tất cả các mô đều có những thay đổi bệnh lý giống nhau; ③Các thay đổi bệnh lý tiến triển có thể đảo ngược. Sau khi nắm vững các biến đổi bệnh lý và ba đặc điểm trên, chúng ta sẽ hiểu sâu hơn về chứng viêm chu vi vai, đồng thời dễ dàng hiểu được quá trình biến đổi của các triệu chứng lâm sàng của chứng viêm chu vi vai.
Làm thế nào để điều trị viêm chu vi vai?
Để chữa bệnh viêm chu vi vai đạt hiệu quả tốt, trước hết cần phải chẩn đoán rõ ràng thì việc điều trị mới đúng mục tiêu và đạt kết quả tốt. Cần có chẩn đoán phân biệt chi tiết để loại trừ đứt hoàn toàn vòng quay, viêm gân do vôi hóa và viêm gân cơ nhị đầu dài, bởi vì những bệnh này có thể gây đau và hạn chế cử động của khớp vu quăng ( glenohumeral), và rất có thể bị chẩn đoán nhầm. Thứ hai, cần nâng cao tinh thần tự tin của người bệnh để chiến thắng bệnh tật, bởi bệnh viêm chu vi vai có thể tự khỏi, nếu được điều trị đúng cách thì có thể chấm dứt hoàn toàn sự phát triển của bệnh ngay từ đầu hoặc ở giai đoạn bắt đầu đóng băng. Khiến cho bệnh tự đình chỉ phát triển và được chữa khỏi. Phương pháp điều trị viêm chu vi vai quan trọng nhất là kiên trì tự vận động và xoa bóp, đồng thời có thể bổ sung bằng thuốc, vật lý trị liệu và liệu pháp phong bế cục bộ.
Li tử đạo nhập pháp (Iontophoresis) hoặc vật lý trị liệu có thể cải thiện việc cung cấp máu, loại bỏ co thắt cơ, ngăn ngừa dính và có tác dụng giảm đau nhất định. Ở giai đoạn đầu hoặc khi cơn đau dữ dội, bệnh nhân có thể dùng thuốc chống viêm và giảm đau, chẳng hạn như diclofenac, fenbid, Voltaren và các loại thuốc khác, hoặc thuốc làm giãn gân cốt và kích thích tuần hoàn máu, chẳng hạn như Thuốc Cường lực thiên ma đỗ trọng hoàn. Đại hoạt lạc đan, Sơ phong định thống hoàn, v.v., và cũng có thể được sử dụng bên ngoài Thuốc xịt giảm đau, Hồng hoa du, v.v.
Phần lớn bệnh nhân viêm quanh khớp bị đau vai và hạn chế hoạt động là do dính và viêm đầu dài của gân cơ nhị đầu, do đó bệnh nhân bị đau khu trú ở rãnh liên khớp có thể phong bế một phần bằng lidocain 2%.2ml, gia cường thông rồng 0,5ml. Liệu pháp hàn phong kín cục bộ có thể loại bỏ tình trạng viêm nhiễm, tránh kết dính và phá vỡ vòng luẩn quẩn của cơn đau, điều này rất hữu ích cho quá trình hồi phục của vai bị viêm.
Làm thế nào để bệnh nhân bị viêm chu vi vai tự tập thể dục?
Điều trị quan trọng và hiệu quả nhất đối với bệnh nhân bị cứng vai là tự vận động, tuân thủ tập luyện đúng cách và hiệu quả có thể ngăn ngừa và loại bỏ dính, thư giãn gân cốt và kích hoạt tuần hoàn máu, cải thiện tuần hoàn máu cục bộ, ngăn ngừa co thắt cơ, tăng cường và cải thiện chức năng cơ bắp có tác dụng chữa bệnh rõ ràng. Dưới đây là một số phương pháp tập thể dục hiệu quả:
(1) Bài tập leo tường: Leo tường càng nhiều càng tốt. Cố gắng đếm thêm một vạch mỗi ngày, và dần dần tập thể dục để nâng chi bị ảnh hưởng cho đến khi nó trở lại bình thường.
(2) Phương pháp vẽ vòng tròn: Động tác vẽ vòng tròn phải giống như Thái cực quyền, chậm và sâu, các chi trên không được vung mạnh để tránh làm gãy vòng bít. Vòng tròn được chia thành vòng tròn dọc và vòng tròn ngang. Các vòng tròn dọc là các vòng tròn thẳng đứng theo hướng trước và sau, và các vòng tròn nằm ngang là các vòng tròn theo hướng lên, xuống, trái và phải, tương tự như động tác vân thủ trong Thái cực quyền. Bạn có thể vẽ 15 đến 20 vòng tròn theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ mỗi lần, và bạn cũng có thể tăng dần số lượng theo vóc dáng của bản thân. Thực hành 3 đến 5 lần một ngày.
(3) Bài tập kéo: lắp ròng rọc lên tường hoặc cây, luồn một sợi dây qua đó, buộc mỗi đầu một thanh gỗ nhỏ rồi kéo lên kéo xuống để tập.
(4) Động tác chải tóc: Luân phiên hai tay từ trán, đỉnh đầu, sau gối, sau tai, đưa ra phía trước, vuốt dọc quanh đầu theo vòng tròn, tương tự như động tác chải đầu, mỗi lần 15-20 lần thời gian, 3-5 lần một ngày.
(5) Khuỷu tay bắt tay: đứng dựa lưng vào tường hoặc nằm ngửa trên giường, hai cánh tay để sát thân, gập khuỷu tay, lấy khuỷu tay làm điểm tựa xoay ngoài.
(6) Xòe cánh: đứng, hạ thấp chi trên tự nhiên, duỗi thẳng cánh tay, từ từ nâng lòng bàn tay hướng xuống dưới hướng lên trên, đạt đến mức tối đa thì dừng lại khoảng 10 giây, sau đó trở về tư thế ban đầu, lặp lại.
(7) Hai tay ôm sau người: Đứng tự nhiên, chi trên bên bệnh xoay vào trong duỗi ra sau, tay bên lành nắm lấy bàn tay hoặc cổ tay bên bệnh, dần dần kéo về bên lành và trở lên.
(8) Hai tay tựa đầu: tư thế nằm ngửa, hai bàn tay và mười ngón đan vào nhau, lòng bàn tay úp lên sau đầu (chẩm), trước hết khuỷu tay co vào càng nhiều càng tốt, sau đó đưa ra càng xa càng tốt.
(9) Xoay vai: Đứng, chi bị bệnh buông thõng tự nhiên, khuỷu tay duỗi thẳng, cánh tay bị đau vẽ một vòng tròn từ trước ra sau, từ nhỏ đến lớn.
LY Nguyễn Nghị 8/7 2023