Khái quát
Ung thư tuyến tụy là khối u ác tính phát sinh từ các tổ chức của tuyến tụy, thường gặp nhất là ung thư biểu mô tuyến có nguồn gốc từ biểu mô ống tụy. Bệnh có thể xuất hiện ở đầu tụy, thân tụy, đuôi tụy hoặc lan rộng toàn bộ tuyến tụy; trong đó, ung thư đầu tụy chiếm tỷ lệ cao hơn cả.
Tuyến tụy nằm sâu phía sau phúc mạc, gần dạ dày, tá tràng, đường mật, gan và nhiều đám rối thần kinh quan trọng. Do vị trí tương đối kín đáo, tổn thương ở giai đoạn đầu thường không biểu hiện rõ ràng. Khi xuất hiện đau bụng, vàng da, gầy sút hoặc rối loạn tiêu hóa thì bệnh có thể đã tiến triển khá lâu.
Ung thư tụy có thể lan trực tiếp sang đường mật, tá tràng, dạ dày, đại tràng, mạch máu và các đám rối thần kinh lân cận; đồng thời có thể di căn theo đường bạch huyết hoặc đường máu đến gan, phổi và những cơ quan khác.
Những yếu tố liên quan
Nguyên nhân trực tiếp gây ung thư tụy hiện vẫn chưa được xác định hoàn toàn. Tuy nhiên, nguy cơ mắc bệnh có thể tăng lên ở người hút thuốc lâu năm, thường xuyên uống nhiều rượu, mắc viêm tụy mạn tính, đái tháo đường, bệnh lý đường mật hoặc duy trì lâu dài chế độ ăn có quá nhiều chất béo và protein động vật.
Tuổi cao cũng là một yếu tố cần lưu ý. Ngoài ra, một số trường hợp đái tháo đường mới xuất hiện ở tuổi trung niên hoặc lớn tuổi có thể là biểu hiện liên quan đến tổn thương tuyến tụy, nhất là khi đồng thời có gầy sút, đau bụng hoặc chán ăn.
Ung thư tụy có thể gây tiêu chảy không?
Ung thư tụy có thể gây tiêu chảy, đặc biệt khi khối u làm tắc ống tụy hoặc phá hủy một phần lớn nhu mô tuyến tụy.
Tuyến tụy tiết ra nhiều enzym giúp tiêu hóa thức ăn, trong đó lipase có vai trò phân giải chất béo, còn các enzym tiêu protein giúp tiêu hóa thịt và những thực phẩm giàu đạm. Khi chức năng ngoại tiết của tuyến tụy suy giảm, chất béo và protein không được tiêu hóa đầy đủ, từ đó xuất hiện tiêu chảy phân mỡ, phân có mùi khó chịu, nổi trên mặt nước, khó rửa sạch hoặc lẫn nhiều thức ăn chưa tiêu hóa.
Khối u xâm lấn đám rối thần kinh và các cơ quan tiêu hóa lân cận còn có thể gây đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, nôn, táo bón hoặc tiêu chảy xen kẽ. Nếu xâm lấn vào dạ dày hoặc ruột, người bệnh có thể nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen.
Biểu hiện thường gặp
Đau vùng bụng trên
Đau thường âm ỉ, khó xác định rõ vị trí, có thể lan ra sau lưng hoặc sang hai bên sườn. Một số trường hợp đau tăng khi nằm ngửa hoặc về ban đêm, giảm nhẹ khi ngồi cúi người ra trước, nằm sấp hoặc đi lại.
Vàng da
Ung thư đầu tụy dễ chèn ép ống mật chủ, làm mật không xuống ruột được, từ đó gây vàng da, vàng mắt, nước tiểu sẫm màu, phân bạc màu và ngứa toàn thân. Vàng da thường có tính chất tiến triển, ngày càng rõ hơn.
Chán ăn và gầy sút
Người bệnh có thể thấy ăn uống không ngon, nhanh no, buồn nôn, đầy bụng, tiêu hóa kém và sút cân không rõ nguyên nhân. Sự gầy sút có thể liên quan đến giảm ăn, rối loạn tiêu hóa, suy giảm chức năng tụy và quá trình tiêu hao do khối u.
Rối loạn đại tiện
Có thể xuất hiện tiêu chảy phân mỡ, phân nhạt màu, phân có thức ăn chưa tiêu hóa, táo bón hoặc thói quen đại tiện thay đổi không rõ nguyên nhân.
Đái tháo đường mới xuất hiện
Khối u phá hủy tế bào đảo tụy có thể làm đường huyết tăng. Vì vậy, người trung niên hoặc cao tuổi đột ngột xuất hiện đái tháo đường, nhất là khi kèm gầy sút, đau bụng hoặc chán ăn, cần được thăm khám kỹ.
Những biểu hiện cần đặc biệt chú ý
Người trên 40 tuổi cần đi khám khi có đau vùng bụng trên kéo dài hoặc tái phát không rõ nguyên nhân; đau bụng lan ra lưng; chán ăn và gầy sút nhanh; vàng da tắc mật tiến triển; tiêu chảy phân mỡ; viêm tụy tái phát nhiều lần; đái tháo đường mới xuất hiện; hoặc viêm tĩnh mạch huyết khối không giải thích được.
Những biểu hiện trên không đồng nghĩa chắc chắn là ung thư tụy, nhưng cần được kiểm tra bằng các phương pháp thích hợp để tìm nguyên nhân.
Nhận thức của Trung y
Trong y học cổ truyền, ung thư tụy không có một bệnh danh hoàn toàn tương ứng. Căn cứ vào những biểu hiện như đau vùng bụng trên, đau dưới sườn, vàng da, bụng trướng, khối tích trong bụng, nôn mửa, ăn uống kém, gầy sút và đại tiện bất thường, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi các chứng Hoàng đản, Phúc thống, Hiếp thống, Trưng hà, Tích tụ, Phản vị và Tiết tả.
Bệnh thường liên quan mật thiết với công năng của Tỳ, Vị, Can, Đởm và Thận.
Tỳ chủ vận hóa. Khi Tỳ khí suy yếu, thủy thấp và thức ăn không được vận hóa đầy đủ, lâu ngày sinh Đàm, Thấp và tích trệ.
Can chủ sơ tiết. Can khí uất kết khiến khí cơ không thông, huyết hành trở ngại, lâu ngày hình thành khí trệ, huyết ứ và khối tích.
Đởm chứa và bài tiết mật. Thấp nhiệt hoặc độc tà uất kết ở Can Đởm có thể làm mật không theo đường thường mà tràn ra da và mắt, hình thành Hoàng đản.
Bệnh kéo dài làm tổn thương khí huyết và âm dịch, khiến chính khí ngày càng suy, cơ thể gầy yếu, mệt mỏi và khả năng chống đỡ bệnh tà giảm sút.
Nói tóm lại, bệnh cơ thường là bản hư tiêu thực. Bản hư chủ yếu thuộc Tỳ khí hư, khí huyết suy hoặc âm dịch hao tổn; tiêu thực thường gồm khí trệ, huyết ứ, Đàm thấp, thấp nhiệt và nhiệt độc kết tụ.
Nguyên tắc điều trị
Điều trị cần căn cứ vào từng giai đoạn và thể bệnh cụ thể. Những phép thường được sử dụng gồm kiện Tỳ ích khí, lý khí hòa Vị, thanh nhiệt lợi thấp, giải độc tán kết, hoạt huyết hóa ứ, hóa Đàm nhuyễn kiên và dưỡng âm sinh tân.
Ở giai đoạn đầu và giữa, khi tà thực còn rõ, có thể chú trọng sơ Can lý khí, thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết hóa ứ và giải độc tán kết.
Ở giai đoạn muộn, cơ thể suy yếu, khí huyết và tân dịch hao tổn, cần chú ý phù chính, kiện Tỳ, ích khí, dưỡng âm và điều hòa Vị khí, đồng thời phối hợp các phép khu tà thích hợp.
Biện chứng luận trị
Thể thấp nhiệt độc thịnh
Biểu hiện
Sốt hoặc phiền nhiệt, miệng khát, bụng trên trướng đầy, đau dưới sườn như kim châm, vàng da đậm, da ngứa, buồn nôn, nôn, đại tiện khô hoặc phân bạc màu, tiểu tiện ít và đỏ; rêu lưỡi vàng, nhớt hoặc khô, mạch huyền sác.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, giải độc, thoái hoàng, tán kết.
Phương dược tham khảo
Long đởm thảo, Sơn chi tử, Hoàng cầm, Hoàng liên, Nhân trần, Sinh địa, Sài hồ, Đan sâm, Đại hoàng, Bồ công anh, Bạch hoa xà thiệt thảo, Thổ phục linh, Ý dĩ nhân, Phục linh, Uất kim.
Thể khí huyết ứ trệ
Biểu hiện
Đau vùng bụng trên hoặc dưới sườn, vị trí đau tương đối cố định, đau như kim châm, dưới sườn có thể sờ thấy khối, sắc mặt sạm tối, cơ thể gầy yếu, buồn nôn, ăn uống kém; chất lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ huyết, mạch tế sáp hoặc huyền.
Phép trị
Hành khí, hoạt huyết, hóa ứ, tán kết, chỉ thống.
Phương dược tham khảo
Sinh địa, Đào nhân, Hồng hoa, Chỉ xác, Xích thược, Ngưu tất, Xuyên khung, Hương phụ, Thủy hồng hoa tử, Nga truật, Thiên long, Cam thảo.
Thể Tỳ hư thấp trở
Biểu hiện
Tinh thần mệt mỏi, chân tay yếu sức, ăn uống kém, bụng và ngực trướng đầy, đau âm ỉ dưới sườn, đại tiện lỏng hoặc tiêu chảy, cơ thể gầy sút; rêu lưỡi trắng nhớt, mạch tế nhu hoặc tế huyền.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa thấp, lý khí hòa Vị.
Phương dược tham khảo
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Trần bì, Sơn tra sao cháy, Thần khúc sao cháy, Mộc hương, Sa nhân, Chỉ xác, Câu quất, Ý dĩ nhân.
Thể âm hư nội nhiệt
Biểu hiện
Sốt nhẹ kéo dài, miệng khô, tân dịch ít, vùng bụng trên trướng đầy, đại tiện khô, nước tiểu vàng, ăn uống kém, cơ thể gầy yếu; lưỡi đỏ, ít rêu hoặc không rêu, mạch tế sác.
Phép trị
Dưỡng âm sinh tân, thanh nhiệt, giải độc, hòa Vị.
Phương dược tham khảo
Sa sâm, Mạch môn, Sinh địa, Thiên hoa phấn, Tri mẫu, Địa cốt bì, Bạch hoa xà thiệt thảo, Thổ phục linh, Phục linh, Sơn tra sao cháy, Thần khúc sao cháy, Đại hoàng, Cam thảo.
Một số phương thuốc tham khảo
Phương kiện Tỳ lợi thấp, giải độc tán kết
Phương thang
Đảng sâm hoặc Thái tử sâm, Bạch truật sao, Phục linh, Cam thảo, Trư linh, Trạch tả, Xa tiền tử, Đan bì, Kim ngân hoa, Sơn giáp chế, Miết giáp chế, Địa miết trùng, Bát nguyệt trát, Hồng đằng, Qua lâu, Nhân trần.
Công dụng
Kiện Tỳ ích khí, lợi thấp, thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết và nhuyễn kiên tán kết.
Phương hành khí hoạt huyết, hóa ứ chỉ thống
Phương thang
Đại hoàng chế giấm 6 g, Hồng hoa 6 g, Diên hồ sách 6 g, Hương phụ chế 6 g, Phật thủ phiến 6 g, Tam thất 3 g nghiền bột uống riêng, Kinh tam lăng 3 g, Bồng nga truật 3 g, Thanh bì 4,5 g, Trần bì 4,5 g, Ô dược 4,5 g, Quảng mộc hương 4,5 g, Vương bất lưu hành tử 12 g.
Công dụng
Hành khí, hoạt huyết, hóa ứ, tiêu tích và giảm đau.
Phương này được dùng tham khảo trong trường hợp khí trệ huyết ứ, biểu hiện đau bụng lan sang hai bên sườn, ăn ít, mệt mỏi, đại tiện không thông, lưỡi tím đỏ hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền.
Thực dưỡng hỗ trợ
Thực dưỡng chỉ có vai trò hỗ trợ cung cấp dinh dưỡng và cải thiện khả năng ăn uống, không thay thế điều trị chuyên khoa. Món ăn cần căn cứ vào tình trạng tiêu hóa, đường huyết, chức năng gan mật và thể trạng của người bệnh.
Cháo Bạch biển đậu Liên nhục
Thành phần
Bạch biển đậu 30 g, Liên nhục 20 g, Ý dĩ nhân 40 g, gạo tẻ 50 g, Đại táo 10 quả, Trần bì 10 g.
Cách chế biến
Rửa sạch các nguyên liệu, cho vào nồi đất, thêm lượng nước thích hợp rồi nấu thành cháo loãng.
Công dụng
Kiện Tỳ hóa thấp, hòa Vị, hỗ trợ người ăn uống kém, bụng trướng và đại tiện lỏng thuộc Tỳ hư thấp trở.
Cháo Câu kỷ tử Mộc nhĩ
Thành phần
Câu kỷ tử 20 g, Mộc nhĩ đen 10 g, đậu đen 20 g, Phật thủ 20 g, gạo tẻ 100 g, đường phèn hoặc mật ong lượng thích hợp.
Cách chế biến
Ngâm Mộc nhĩ cho nở rồi thái nhỏ. Nấu gạo tẻ và đậu đen thành cháo; khi gần chín cho Câu kỷ tử, Mộc nhĩ và Phật thủ vào, tiếp tục nấu đến khi mềm.
Công dụng
Tư dưỡng Can Thận, lý khí hòa Vị. Người tiêu hóa yếu hoặc thường đầy bụng nên dùng lượng vừa phải.
Cháo Nhân trần Phụ tử
Thành phần
Nhân trần 20 g, Phụ tử chế 10 g, Sinh khương 15 g, Cam thảo 10 g, Đại táo 5–10 quả, gạo tẻ 100 g, đường đỏ lượng thích hợp.
Cách chế biến
Phụ tử chế phải được sắc kỹ trước cùng Nhân trần và Cam thảo. Sau đó bỏ bã, lấy nước nấu với gạo tẻ, Đại táo và Sinh khương thành cháo.
Công dụng
Ôn dương, hóa thấp, lợi Đởm, thoái hoàng, phù hợp hơn với trường hợp dương khí suy, hàn thấp ngăn trở.
Chú ý
Phụ tử có độc tính, tuyệt đối không tự ý sử dụng hoặc tự chế biến. Món cháo này chỉ được dùng khi có thầy thuốc Trung y trực tiếp kê đơn và theo dõi.
Nước Sơn tra và lá Bố tra
Thành phần
Sơn tra 40 g, lá Bố tra 40 g, mật ong lượng thích hợp.
Cách chế biến
Sắc Sơn tra và lá Bố tra với nước khoảng một giờ, bỏ bã, lấy nước thuốc. Khi nước còn ấm, thêm lượng mật ong thích hợp.
Công dụng
Tiêu thực hóa tích, lý khí, hỗ trợ người đầy bụng, ăn uống chậm tiêu và không muốn ăn.
Người mắc đái tháo đường cần hạn chế hoặc không dùng mật ong.
Chăm sóc và ăn uống
Người bệnh nên lựa chọn thức ăn mềm, dễ tiêu hóa, chia thành nhiều bữa nhỏ để giảm gánh nặng cho hệ tiêu hóa. Khi có suy chức năng ngoại tiết tụy, bác sĩ có thể chỉ định enzym tụy dùng cùng bữa ăn nhằm cải thiện sự tiêu hóa chất béo và protein.
Cần bảo đảm đủ năng lượng và chất đạm tùy theo khả năng dung nạp. Không nên tự ý kiêng khem quá mức vì có thể làm cơ thể suy yếu nhanh hơn. Thức ăn quá nhiều dầu mỡ, rượu, thuốc lá và những món gây đầy bụng nên được hạn chế.
Khi có vàng da, nôn nhiều, đau tăng, sốt, đại tiện phân đen, nôn ra máu, mất nước hoặc không thể ăn uống, người bệnh cần được đưa đến cơ sở y tế sớm.
Chú ý
Ung thư tụy là bệnh lý ác tính cần được chẩn đoán và điều trị tại cơ sở chuyên khoa. Phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, điều trị giảm nhẹ, kiểm soát đau, bổ sung enzym tụy và hỗ trợ dinh dưỡng cần được lựa chọn căn cứ vào vị trí khối u, giai đoạn bệnh và thể trạng của từng người.
Các phương thuốc Trung y trong bài chỉ mang tính chất tham khảo học thuật. Những vị như Phụ tử, Đại hoàng, Tam lăng, Nga truật, Sơn giáp, Miết giáp và các thuốc hoạt huyết, công hạ hoặc phá tích có thể không thích hợp với một số người bệnh, đặc biệt khi đang xuất huyết, suy gan thận, dùng thuốc chống đông, chuẩn bị phẫu thuật hoặc đang hóa trị. Việc sử dụng cần có thầy thuốc Trung y đủ chuyên môn trực tiếp biện chứng và phối hợp với bác sĩ điều trị ung thư.
Trường Xuân biên soạn