Khái quát
Ung thư thực quản là khối u ác tính phát sinh từ biểu mô niêm mạc hoặc các tuyến của thực quản. Bệnh có thể xuất hiện ở đoạn cổ, đoạn ngực hoặc đoạn bụng của thực quản, trong đó ung thư biểu mô tế bào vảy là loại thường gặp.
Do thực quản nằm gần khí quản, phế quản, phổi, màng phổi, màng ngoài tim, động mạch chủ và nhiều hạch bạch huyết trong trung thất, khối u khi tiến triển có thể nhanh chóng xâm lấn các cơ quan lân cận hoặc di căn đến những vị trí khác.
Các con đường lan rộng và di căn
Lan rộng trực tiếp
Khối u thường bắt đầu từ niêm mạc, sau đó xâm nhập xuống lớp dưới niêm mạc và lớp cơ.
Thực quản không có lớp thanh mạc bao bọc như nhiều đoạn khác của đường tiêu hóa. Vì vậy, khi khối u đã xuyên qua lớp cơ, tổn thương dễ lan ra ngoài thực quản và xâm lấn những cơ quan lân cận.
Ung thư đoạn trên có thể xâm lấn vùng cổ, thanh quản và khí quản.
Ung thư đoạn giữa có thể xâm lấn khí quản, phế quản, phổi, màng phổi và những cấu trúc trong trung thất.
Ung thư đoạn dưới có thể lan đến tâm vị, dạ dày, cơ hoành, màng ngoài tim và các mô trong ổ bụng.
Khi xâm lấn đường hô hấp, người bệnh có thể ho, sặc khi uống nước, viêm phổi tái phát hoặc hình thành rò thực quản – khí quản, thực quản – phế quản.
Khi xâm lấn các mạch máu lớn, bệnh có thể gây xuất huyết nghiêm trọng.
Di căn theo đường bạch huyết
Di căn hạch có thể xuất hiện tương đối sớm do mạng lưới bạch huyết dưới niêm mạc thực quản rất phong phú.
Ung thư đoạn trên thường di căn đến các hạch vùng cổ và trên xương đòn.
Ung thư đoạn giữa thường di căn đến hạch cạnh thực quản, hạch trung thất và hạch rốn phổi.
Ung thư đoạn dưới có thể di căn đến hạch vùng tâm vị, dưới cơ hoành và các hạch trong ổ bụng.
Di căn theo đường bạch huyết thường gặp hơn ở ung thư biệt hóa thấp hoặc không biệt hóa.
Di căn theo đường máu
Di căn theo đường máu thường xuất hiện ở giai đoạn muộn. Gan và phổi là những vị trí thường gặp nhất.
Ngoài ra, khối u còn có thể di căn đến xương, thận, tuyến thượng thận, màng phổi, phúc mạc, tụy và những cơ quan khác.
Biểu hiện lâm sàng
Biểu hiện giai đoạn sớm
Ở giai đoạn đầu, triệu chứng thường không rõ ràng và dễ bị bỏ qua. Người bệnh có thể cảm thấy:
Nuốt thức ăn hơi vướng hoặc nghẹn.
Thức ăn đi xuống chậm, có cảm giác dừng lại sau xương ức.
Đau hoặc cọ xát nhẹ khi nuốt.
Cảm giác có dị vật trong họng hoặc thực quản.
Họng khô, căng hoặc khó chịu.
Đầy tức phía sau xương ức.
Đau dưới mũi ức hoặc vùng bụng trên.
Những triệu chứng này có thể lúc có lúc không. Tuy nhiên, khi kéo dài hoặc tăng dần, đặc biệt ở người trung niên và cao tuổi, cần được nội soi sớm.
Biểu hiện giai đoạn tiến triển
Khó nuốt tăng dần là biểu hiện điển hình nhất.
Ban đầu, người bệnh khó nuốt thức ăn đặc. Sau đó, thức ăn mềm cũng khó đi qua và cuối cùng có thể khó nuốt cả nước.
Các biểu hiện khác gồm:
Nuốt đau.
Nôn trớ thức ăn và nước bọt.
Đau sau xương ức hoặc đau lan ra lưng.
Khàn tiếng.
Ho hoặc sặc khi ăn uống.
Gầy sút nhanh.
Mệt mỏi, thiếu máu và suy mòn.
Xuất hiện hạch vùng cổ hoặc trên xương đòn.
Biểu hiện của các ổ di căn ở gan, phổi, xương hoặc những cơ quan khác.
Chẩn đoán
Nội soi thực quản – dạ dày kết hợp sinh thiết là phương pháp quan trọng để xác định tổn thương và chẩn đoán mô bệnh học.
Chụp cắt lớp vi tính, siêu âm nội soi và các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác giúp đánh giá độ sâu xâm lấn, hạch bạch huyết và các ổ di căn.
Chụp thực quản có thuốc cản quang có thể hỗ trợ nhận biết vị trí, chiều dài đoạn hẹp và hình thái tổn thương, nhưng không thay thế nội soi và sinh thiết.
Điều trị
Điều trị cần căn cứ vào vị trí khối u, loại mô học, giai đoạn bệnh, tình trạng dinh dưỡng và thể lực của người bệnh.
Những phương pháp có thể được lựa chọn gồm:
Cắt tổn thương qua nội soi đối với một số ung thư rất sớm.
Phẫu thuật cắt thực quản.
Xạ trị.
Hóa trị.
Hóa xạ trị phối hợp.
Điều trị miễn dịch hoặc điều trị toàn thân khác trong những trường hợp thích hợp.
Đặt giá đỡ thực quản, mở thông dạ dày hoặc những biện pháp hỗ trợ dinh dưỡng khi người bệnh không thể ăn uống đầy đủ.
Chăm sóc giảm nhẹ và kiểm soát triệu chứng ở giai đoạn tiến triển.
Phòng ngừa và phát hiện sớm
Nên tránh sử dụng thực phẩm bị nấm mốc, ôi hỏng hoặc bảo quản không đúng cách.
Hạn chế thức ăn quá nóng, hun khói, muối chua và chiên rán thường xuyên.
Ngừng hút thuốc, hạn chế rượu và duy trì chế độ ăn cân đối với rau, trái cây, chất đạm và năng lượng phù hợp.
Các bệnh lý gây viêm thực quản kéo dài, hẹp thực quản, co thắt tâm vị hoặc thực quản Barrett cần được theo dõi và điều trị thích hợp.
Giữ tinh thần điều hòa có ý nghĩa hỗ trợ đối với ăn uống, giấc ngủ và chất lượng sống, nhưng không thay thế việc tầm soát hoặc điều trị chuyên khoa.
Ung thư thực quản có thể gây táo bón không?
Một số người mắc ung thư thực quản có thể xuất hiện táo bón, mặc dù đây không phải là triệu chứng trực tiếp và điển hình nhất của khối u.
Táo bón thường hình thành do nhiều yếu tố phối hợp.
Ăn uống giảm sút
Khó nuốt và nuốt đau khiến người bệnh ăn ít, uống ít, đồng thời giảm lượng rau, trái cây và thực phẩm giàu chất xơ.
Khi lượng thức ăn đi vào đường ruột quá ít, khối lượng phân giảm và tác động kích thích lên nhu động đại tràng cũng giảm theo.
Thiếu nước
Người khó nuốt có thể hạn chế uống nước vì sợ nghẹn hoặc đau. Cơ thể thiếu nước làm phân khô cứng và khó bài xuất.
Ít vận động
Mệt mỏi, suy yếu và nằm nhiều làm nhu động ruột chậm lại. Phân lưu lại lâu trong đại tràng, nước tiếp tục được hấp thu, khiến táo bón nặng hơn.
Thuốc điều trị
Một số thuốc giảm đau, đặc biệt thuốc opioid, thuốc chống nôn, thuốc kháng cholinergic, thuốc sắt và một số thuốc điều trị khác có thể làm nhu động ruột suy giảm.
Rối loạn điện giải và chuyển hóa
Mất nước, tăng calci máu, giảm kali máu hoặc suy chức năng các cơ quan cũng có thể góp phần gây táo bón.
Nhận thức của Trung y
Ung thư thực quản thuộc phạm vi chứng ế cách 噎膈 trong Trung y.
Ế là thức ăn bị nghẹn ở phía trên, khó nuốt xuống.
Cách là thức ăn tuy có thể nuốt vào nhưng bị ngăn trở ở vùng ngực hoành hoặc cửa Vị, lâu sau lại trào ra.
Bệnh cơ căn bản là thực quản bị ngăn trở, Vị khí mất hòa giáng. Phần tiêu thường gồm khí trệ, đàm trở, huyết ứ và sự kết hợp của những yếu tố này. Phần bản thường là tân dịch hao tổn, huyết hư, khí hư hoặc Âm Dương suy yếu.
Táo bón trong ung thư thực quản thường liên quan đến ba thể chính:
Huyết ứ nội kết.
Âm hư tân khô.
Tỳ Thận dương hư.
Cơ chế thường là tân dịch không đủ, trường đạo mất sự nhuận dưỡng; hoặc khí và dương hư suy, không đủ sức thúc đẩy phân đi xuống. Táo bón do thực nhiệt đơn thuần ít gặp hơn.
Thể huyết ứ nội kết
Triệu chứng
Đại tiện khô kết, phân nhỏ hoặc đóng thành viên, bụng trướng, vùng ngực hoành đau cố định và không chịu được khi ấn.
Khó nuốt tăng dần, thức ăn và nước khó đi xuống, ợ hơi khó chịu, sắc mặt tối sạm, da khô ráp.
Chất lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ, ban ứ; mạch huyền sáp hoặc tế sáp.
Bệnh cơ
Khí trệ lâu ngày làm huyết hành không thông. Huyết ứ kết lại ở vùng thực quản và ngực hoành, gây nghẹn và đau.
Huyết ứ đồng thời làm tân dịch không được vận hành và phân bố đầy đủ đến trường đạo, khiến phân khô và khó bài xuất.
Phép trị
Hoạt huyết hóa ứ, lý khí, dưỡng huyết nhuận táo, thông tiện.
Phương thang
Thang Thông u gia giảm.
Phương dược tham khảo
Thục địa, Sinh địa, Đương quy, Đào nhân, Hồng hoa, Tam lăng, Nga truật, Sinh mẫu lệ, Hạnh nhân, Thăng ma, Chỉ thực, Hà thủ ô, Nhục thung dung.
Phương nghĩa
Sinh địa, Thục địa, Đương quy và Hà thủ ô dưỡng huyết, tư âm, nhuận táo.
Đào nhân, Hồng hoa, Tam lăng và Nga truật hoạt huyết, hóa ứ, phá kết.
Hạnh nhân giáng khí và nhuận trường.
Nhục thung dung ôn nhuận, giúp đại tiện thông mà không quá công hạ.
Chỉ thực hành khí, tiêu bĩ và hỗ trợ đẩy phân xuống dưới.
Sinh mẫu lệ nhuyễn kiên, tán kết.
Chú ý
Tam lăng, Nga truật, Đào nhân và Hồng hoa có tác dụng hoạt huyết, phá ứ tương đối mạnh. Không dùng khi đang xuất huyết, tiểu cầu thấp, dùng thuốc chống đông hoặc chuẩn bị phẫu thuật nếu chưa được thầy thuốc trực tiếp đánh giá.
Trường hợp khó nuốt nhiều, thuốc sắc khó đi xuống, cần được bác sĩ đánh giá tình trạng tắc nghẽn và lựa chọn đường dùng thuốc thích hợp. Không nên cố uống từng lượng lớn vì có nguy cơ sặc.
Thể Âm hư tân khô
Triệu chứng
Đại tiện khô cứng, nhiều ngày không đi được, miệng khát, họng khô, da khô, cơ thể gầy sút.
Khó nuốt rõ, thức ăn và nước khó đi xuống; sau khi ăn dễ nôn ra đàm dính, nước dãi hoặc bọt.
Có thể kèm ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, ra mồ hôi trộm; chất lưỡi đỏ sẫm, ít tân dịch, ít rêu hoặc không rêu; mạch tế sác.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài, ăn uống giảm sút và nhiệt tà hao tổn Âm dịch, khiến thực quản và đại trường đều mất sự nhu dưỡng.
Tân dịch khô cạn làm thức ăn khó đi xuống, đồng thời phân mất sự nhuận trơn và trở nên khô kết.
Phép trị
Dưỡng Âm sinh tân, nhuận táo, thông tiện, hòa Vị.
Phương dược tham khảo
Huyền sâm, Sinh địa, Mạch môn.
Ba vị phối hợp có tác dụng tăng tân dịch, dưỡng Âm và nhuận táo, thích hợp với trường hợp tân khô tương đối rõ.
Nếu nhiệt ở phần Dinh và tân dịch hao tổn rõ
Có thể tham khảo thang Thanh dinh gia giảm.
Phương dược
Thủy ngưu giác, Huyền sâm, Mạch môn, Sinh địa, Kim ngân hoa, Liên kiều, Hoàng liên, Trúc diệp, Đan sâm.
Phương nghĩa
Thủy ngưu giác, Sinh địa, Huyền sâm và Mạch môn thanh nhiệt, lương huyết, dưỡng Âm sinh tân.
Kim ngân hoa và Liên kiều thanh nhiệt giải độc.
Hoàng liên thanh nhiệt táo thấp.
Trúc diệp thanh tâm trừ phiền, sinh tân.
Đan sâm lương huyết, hoạt huyết.
Phương không chuyên dùng thuốc công hạ nhưng thông qua thanh nhiệt và phục hồi tân dịch mà giúp đại tiện điều hòa trở lại.
Nếu khí và tân dịch đều hư
Triệu chứng thường gồm mệt mỏi, hơi thở ngắn, tiếng nói nhỏ, ăn uống ít, đại tiện khô và khó rặn.
Phép trị nên ích khí, sinh tân, nhuận trường.
Phương dược có thể căn cứ vào tình trạng để phối hợp Hoàng kỳ, Đảng sâm, Huyền sâm, Mạch môn, Bạch truật, Qua lâu nhân, Đào nhân và những vị nhuận trường thích hợp.
Thể Tỳ Thận dương hư
Triệu chứng
Đại tiện khó, phân thường khô ở đoạn đầu nhưng có thể mềm hoặc lỏng về sau; bụng lạnh đau, thích ấm, thích xoa và ấn.
Khó nuốt, ăn uống ít, hơi thở ngắn, ít nói, sợ lạnh, tay chân lạnh, tiểu tiện trong dài hoặc tiểu khó, chi dưới có thể phù.
Chất lưỡi nhạt, to, có dấu răng, rêu trắng; mạch trầm trì hoặc trầm nhược.
Bệnh cơ
Tỳ dương hư khiến thủy cốc không được vận hóa. Thận dương suy làm trung tiêu và hạ tiêu mất sự ôn ấm.
Dương khí không đủ, đại trường thiếu sức truyền tống, vì vậy dù phân không quá khô vẫn khó đẩy ra ngoài.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, ích khí, nhuận trường và thông tiện.
Phương thang
Ngũ ế hoàn gia giảm.
Phương dược tham khảo
Phụ tử chế, Can khương, Nhục quế, Ngô thù du, Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Bạch truật, Sa nhân, Bạch thược, Trần bì, Nhục thung dung, Đương quy, Hà thủ ô.
Phương nghĩa
Phụ tử chế, Can khương, Nhục quế và Ngô thù du ôn dương, tán hàn.
Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Bạch truật kiện Tỳ ích khí.
Sa nhân, Trần bì lý khí, hòa Vị.
Nhục thung dung, Đương quy và Hà thủ ô dưỡng huyết, ôn nhuận và thông tiện.
Bạch thược dưỡng huyết, điều hòa Can Tỳ.
Chú ý
Phụ tử là vị thuốc có độc, phải được chế biến đúng quy cách và sắc đủ thời gian. Không được tự mua về sắc uống.
Không dùng phương ôn nhiệt khi người bệnh có sốt, miệng khát nhiều, lưỡi đỏ, rêu vàng hoặc táo bón do Âm hư, nhiệt kết.
Không nên dùng lưu huỳnh để tự điều trị táo bón
Lưu huỳnh từng được một số tài liệu cổ ghi dùng với mục đích ôn dương thông tiện. Tuy nhiên, dược tính rất nóng, có nguy cơ gây độc và không thích hợp để người bệnh tự sử dụng.
Trong điều kiện hiện nay, nên lựa chọn những phương pháp an toàn hơn dưới sự hướng dẫn của bác sĩ hoặc thầy thuốc Trung y đủ chuyên môn.
Cách sử dụng Đại hoàng
Đại hoàng có tác dụng tả nhiệt, thông tiện, phá tích và hành ứ. Vị thuốc phù hợp hơn với táo bón do thực nhiệt, bụng trướng đầy, đau cự án, lưỡi đỏ, rêu vàng khô và mạch hữu lực.
Táo bón ở người mắc ung thư thực quản thường thiên về Âm hư, khí hư, huyết hư hoặc hư thực kiêm tạp. Vì vậy, Đại hoàng không nên dùng đơn độc và kéo dài.
Trong trường hợp tân dịch hao tổn nhưng đồng thời có nhiệt kết và phân khô cứng, có thể tham khảo thang Tăng dịch thừa khí.
Phương dược
Huyền sâm, Mạch môn, Sinh địa, Đại hoàng, Mang tiêu và Cam thảo.
Phương nghĩa
Huyền sâm, Mạch môn và Sinh địa tăng tân dịch, dưỡng Âm, nhuận táo.
Đại hoàng và Mang tiêu thông hạ, làm mềm phân và dẫn nhiệt đi xuống.
Cam thảo điều hòa các vị thuốc.
Chú ý
Khi đại tiện đã thông, cần ngừng hoặc điều chỉnh các vị công hạ.
Dùng Đại hoàng kéo dài có thể gây đau bụng, tiêu chảy, mất nước, rối loạn điện giải và làm cơ thể suy yếu hơn.
Người đang mất nước, hạ huyết áp, tắc ruột, xuất huyết tiêu hóa, suy thận hoặc thể trạng suy kiệt không nên tự dùng.
Chăm sóc táo bón
Bổ sung nước và dinh dưỡng cần căn cứ vào khả năng nuốt. Người khó nuốt không nên cố uống nhanh hoặc uống lượng lớn một lần.
Có thể chia chất lỏng thành từng lượng nhỏ, chọn dạng sánh phù hợp nếu có nguy cơ sặc và thực hiện theo hướng dẫn của chuyên viên dinh dưỡng hoặc âm ngữ trị liệu.
Khi có thể ăn qua đường miệng, nên lựa chọn thức ăn mềm, có độ ẩm, dễ tiêu hóa và cung cấp chất xơ hòa tan phù hợp.
Vận động nhẹ nhàng trong khả năng cho phép có thể hỗ trợ nhu động ruột.
Cần xem lại những thuốc có thể gây táo bón, đặc biệt thuốc giảm đau opioid. Bác sĩ có thể chỉ định thuốc làm mềm phân, thuốc nhuận tràng thẩm thấu hoặc phác đồ phòng táo bón ngay từ khi bắt đầu sử dụng opioid.
Người bệnh không thể ăn uống đầy đủ có thể cần được hỗ trợ dinh dưỡng qua ống thông hoặc đường khác, căn cứ vào đánh giá chuyên khoa.
Chú ý
Táo bón ở người mắc ung thư có thể do thiếu nước, ăn ít, thuốc điều trị hoặc suy yếu vận động, nhưng cũng có thể liên quan đến tắc ruột, rối loạn điện giải hoặc di căn trong ổ bụng.
Cần đến cơ sở y tế khi táo bón kèm đau bụng tăng dần, bụng trướng nhiều, nôn mửa, không trung tiện được, đại tiện ra máu, sốt hoặc cơ thể suy yếu nhanh.
Các phương thuốc Trung y trong bài chỉ có giá trị tham khảo học thuật. Việc dùng thuốc cần căn cứ vào thể bệnh, giai đoạn ung thư, chức năng gan thận, khả năng nuốt và các thuốc đang sử dụng.
Không nên dùng thuốc hoạt huyết, công hạ, Phụ tử, Mang tiêu hoặc những vị có tác dụng mạnh khi chưa được thầy thuốc trực tiếp chỉ định.
Trường Xuân biên soạn