Khái quát
Ung thư gan là bệnh lý ác tính phát sinh từ tế bào gan hoặc biểu mô đường mật trong gan. Bệnh thường tiến triển âm thầm; khi xuất hiện đau vùng hạ sườn phải, gan to, ăn kém, gầy sút, vàng da hoặc cổ trướng thì bệnh có thể đã ở giai đoạn tương đối muộn.
Trong Trung y không có bệnh danh hoàn toàn tương ứng với ung thư gan. Căn cứ biểu hiện lâm sàng, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi các chứng “Hiếp thống” 脅痛, “Tích tụ” 積聚, “Trưng hà” 癥瘕, “Hoàng đản” 黃疸, “Cổ trướng” 鼓脹 và “Hư lao” 虛勞.
Bệnh vị chủ yếu ở Can, Đởm và Tỳ, về sau liên lụy đến Thận. Bệnh cơ thường lấy chính khí suy hư làm gốc, khí trệ, huyết ứ, đàm thấp, thấp nhiệt và độc tà kết tụ làm ngọn.
Trung y có thể được vận dụng để hỗ trợ giảm đau, cải thiện ăn uống, điều hòa đại tiện, giảm mệt mỏi và nâng đỡ thể trạng. Tuy nhiên, Trung dược không thay thế phẫu thuật, đốt u, nút mạch, xạ trị, điều trị toàn thân hoặc ghép gan khi các phương pháp này có chỉ định.
Nguyên nhân và bệnh cơ
Can khí uất trệ
Can chủ sơ tiết. Tình chí uất kết kéo dài, bệnh gan mạn tính hoặc đau đớn lâu ngày có thể làm Can khí không điều đạt.
Khí trệ làm vùng hạ sườn đầy tức, đau lan, ăn uống giảm và ảnh hưởng chức năng vận hóa của Tỳ.
Tỳ hư sinh đàm thấp
Bệnh gan kéo dài, ăn uống thất thường hoặc điều trị kéo dài làm Tỳ khí suy yếu. Thủy cốc không được vận hóa đầy đủ, thấp tụ thành đàm.
Đàm thấp lưu lại ở Can lạc và vùng hạ sườn, kết hợp với khí trệ và huyết ứ mà hình thành khối tích.
Khí trệ huyết ứ
Khí hành thì huyết hành. Can khí uất lâu ngày làm huyết vận hành không thông, ứ kết trong Can lạc.
Người bệnh thường đau cố định, đau như châm chích, gan cứng, sắc mặt tối, môi tím và lưỡi có điểm ứ huyết.
Thấp nhiệt độc kết
Bệnh gan mạn, thấp trọc lâu ngày hóa nhiệt hoặc tà độc tích tụ có thể làm thấp nhiệt và độc tà uẩn kết Can Đởm.
Biểu hiện thường là vàng da, miệng đắng, tiểu vàng, bụng đầy, sốt nhẹ, rêu lưỡi vàng nhớt.
Can âm và huyết hao tổn
Bệnh kéo dài, khối u tiêu hao, sốt, xuất huyết hoặc điều trị công phạt làm âm huyết hao tổn.
Người bệnh gầy sút, miệng khô, mất ngủ, lòng bàn tay nóng, đau âm ỉ và lưỡi đỏ ít rêu.
Tỳ Thận dương hư
Giai đoạn muộn, chính khí suy, Tỳ mất vận hóa và Thận mất khí hóa, thủy dịch đình tụ.
Người bệnh có thể cổ trướng, phù chân, tiểu ít, sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn ít và phân lỏng.
Biện chứng luận trị
Can uất khí trệ
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn phải, đau tăng khi căng thẳng, ngực bụng đầy, hay thở dài, ăn uống kém, ợ hơi, lưỡi rêu mỏng, mạch huyền.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, khí cơ uất trệ, Tỳ Vị không hòa.
Phép trị
Sơ Can lý khí, hòa Vị, chỉ thống.
Phương thang
Sài Hồ Sơ Can Tán gia giảm.
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác, Trần bì, Bạch thược, Uất kim, Xuyên khung, Cam thảo.
Đau rõ có thể gia Diên hồ sách, Phật thủ.
Ăn kém có thể gia Kê nội kim, Mạch nha.
Chú ý
Đau tăng nhanh hoặc đau đột ngột dữ dội ở người có khối u gan cần được đánh giá ngay để loại trừ xuất huyết hoặc vỡ u.
Khí trệ huyết ứ
Biểu hiện
Đau vùng gan cố định, đau như châm, gan cứng hoặc có khối vùng hạ sườn, sắc mặt tối, môi tím, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Khí trệ làm huyết ứ, Can lạc bị trở ngại, khối tích khó tiêu.
Phép trị
Hành khí hoạt huyết, hóa ứ, thông lạc, nhuyễn kiên.
Phương thang
Cách Hạ Trục Ứ Thang hoặc Huyết Phủ Trục Ứ Thang gia giảm.
Đan sâm, Uất kim, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Chỉ xác, Miết giáp.
Chú ý
Người giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu, nôn ra máu, đại tiện phân đen hoặc đang dùng thuốc chống đông không được tự dùng thuốc hoạt huyết mạnh.
Tỳ hư đàm thấp
Biểu hiện
Mệt mỏi, ăn ít, bụng đầy, buồn nôn, phân lỏng, cơ thể nặng nề, có thể phù nhẹ; lưỡi nhạt to có dấu răng, rêu trắng nhớt, mạch nhu nhược.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư, vận hóa suy, đàm thấp nội tụ.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa đàm, trừ thấp.
Phương thang
Hương Sa Lục Quân Tử Thang hoặc Sâm Linh Bạch Truật Tán gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Trần bì, Bán hạ chế, Mộc hương, Sa nhân, Sơn dược, Ý dĩ nhân.
Buồn nôn có thể gia Trúc nhự, Sinh khương.
Phù nhẹ có thể gia Trạch tả, Xa tiền tử.
Thấp nhiệt độc kết
Biểu hiện
Đau hoặc tức hạ sườn, vàng da, miệng đắng, khát, tiểu vàng ít, bụng đầy, có thể sốt nhẹ; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt và độc tà uẩn kết Can Đởm, khí cơ và Đởm dịch không thông.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, giải độc, sơ Can lợi Đởm.
Phương thang
Nhân Trần Hao Thang hoặc Cam Lộ Tiêu Độc Đan gia giảm.
Nhân trần, Chi tử, Hoàng cầm, Hoắc hương, Phục linh, Trạch tả, Uất kim, Liên kiều.
Có thể phối hợp Bán chi liên, Bạch hoa xà thiệt thảo khi phù hợp với biện chứng, nhưng không nên xem các vị này là thuốc tiêu diệt khối u.
Đại hoàng chỉ được cân nhắc khi thực nhiệt và đại tiện bí rõ.
Can âm huyết hư
Biểu hiện
Người gầy sút, đau hạ sườn âm ỉ, miệng họng khô, mất ngủ, chóng mặt, lòng bàn tay nóng, da khô, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế.
Bệnh cơ
Bệnh lâu và điều trị kéo dài làm Can âm, Can huyết hao tổn, Can lạc mất nuôi dưỡng.
Phép trị
Dưỡng âm nhu Can, dưỡng huyết, hòa lạc.
Phương thang
Nhất Quán Tiễn gia giảm.
Sinh địa, Bắc sa sâm, Mạch môn, Câu kỷ tử, Đương quy, Bạch thược, Xuyên luyện tử.
Mất ngủ có thể gia Dạ giao đằng, Toan táo nhân.
Không nên dùng thuốc dưỡng âm quá nê trệ khi bụng đầy, rêu lưỡi dày nhớt và ăn kém rõ.
Khí âm lưỡng hư
Biểu hiện
Mệt lả, hơi thở ngắn, tự ra mồ hôi, khô miệng, gầy sút, ăn ít, tinh thần suy giảm, lưỡi nhạt đỏ, ít rêu, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Bệnh lâu làm khí và âm cùng hao tổn.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, sinh tân, kiện Tỳ.
Phương thang
Sinh Mạch Tán hợp Sâm Linh Bạch Truật Tán gia giảm.
Đảng sâm hoặc Thái tử sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược, Hoàng kỳ.
Tỳ Thận dương hư, thủy thấp đình tụ
Biểu hiện
Bụng trướng hoặc cổ trướng, phù chân, tiểu ít, sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt mỏi, ăn ít, phân lỏng; lưỡi nhạt to, rêu trắng trơn, mạch trầm nhược.
Bệnh cơ
Tỳ dương không vận hóa, Thận dương không khí hóa, thủy dịch đình tụ.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, hóa khí hành thủy.
Phương thang
Chân Vũ Thang hợp Thực Tỳ Ẩm gia giảm.
Phụ tử chế, Bạch truật, Phục linh, Bạch thược, Sinh khương, Đảng sâm, Đại phúc bì, Trạch tả.
Chú ý
Phụ tử có độc. Người suy thận, rối loạn điện giải, rối loạn nhịp tim hoặc đang dùng nhiều thuốc không được tự sử dụng.
Hỗ trợ một số triệu chứng
Đau vùng gan
Đau do khí trệ thường căng tức, vị trí thay đổi, có thể dùng phép sơ Can lý khí.
Đau do huyết ứ thường cố định, đau như châm chích, có thể dùng phép hoạt huyết thông lạc nếu không có nguy cơ xuất huyết.
Đau đột ngột dữ dội, choáng, da lạnh hoặc bụng căng nhanh là dấu hiệu cấp cứu, không được chỉ dùng thuốc giảm đau hoặc Trung dược.
Ăn kém và buồn nôn
Có thể căn cứ Tỳ hư, khí trệ hoặc đàm thấp để dùng Trần bì, Bán hạ chế, Trúc nhự, Sa nhân, Kê nội kim và Mạch nha.
Nên chia nhỏ bữa, tránh mùi thức ăn quá mạnh và lựa chọn món dễ tiêu.
Cổ trướng
Cổ trướng thường liên quan Tỳ hư, khí trệ, huyết ứ và Thận dương suy. Điều trị có thể phối hợp kiện Tỳ, lý khí, hoạt huyết và lợi thủy tùy thể bệnh.
Không tự dùng Cam toại, Đại kích, Nguyên hoa, Hắc sửu, Bạch sửu hoặc các phương trục thủy mạnh. Tiêu chảy và mất dịch có thể gây suy thận, rối loạn điện giải và bệnh não gan.
Vàng da
Thấp nhiệt rõ có thể dùng phép thanh nhiệt lợi thấp. Hàn thấp và Tỳ dương hư cần ôn hóa, không nên dùng thuốc đắng lạnh kéo dài.
Vàng da tăng nhanh, phân bạc màu, sốt hoặc đau bụng cần được đánh giá nguyên nhân tắc mật hoặc nhiễm khuẩn.
Mệt mỏi và suy nhược
Cần xác định mệt mỏi do khí hư, huyết hư, âm hư, thiếu máu, nhiễm khuẩn, suy gan hay tác dụng điều trị.
Không nên tự dùng thuốc bổ mạnh khi thấp nhiệt, bụng đầy và rêu lưỡi dày nhớt còn rõ.
Những phương thuốc cần loại bỏ
Phương có Mã tiền tử
Mã tiền tử có độc tính thần kinh và tim mạch cao, khoảng an toàn hẹp. Không nên sử dụng trong các phương tự chế hoặc dạng bột uống tại nhà.
Phương có Can tất
Can tất có tính kích ứng và độc tính đáng kể, có thể gây tổn thương da, niêm mạc và toàn thân. Không thích hợp cho người bệnh gan suy yếu.
Phương dùng Hỏa tiêu, Minh phàn hoặc khoáng vật liều lớn
Các khoáng vật và muối vô cơ dùng không đúng có thể gây rối loạn điện giải, tổn thương tiêu hóa, thận và thần kinh.
Bài thuốc chứa nhiều vị phá huyết
Nga truật, Tam lăng, Địa miết trùng, Ngũ linh chi, Đào nhân và Hồng hoa phối hợp liều lớn có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết ở người xơ gan hoặc ung thư gan.
Không nên dùng khi chưa đánh giá tiểu cầu, đông máu và tình trạng giãn tĩnh mạch thực quản.
Phương dân gian trị cổ trướng
Tro vỏ bưởi, huyết động vật phơi khô, rượu thuốc, dưa hấu nhồi tỏi hoặc các hỗn hợp đốt tồn tính không có liều lượng và độ an toàn đáng tin cậy.
Không nên dùng những phương này thay cho điều trị cổ trướng, lợi tiểu, tháo dịch hoặc chăm sóc chuyên khoa.
Dinh dưỡng
Nguyên tắc chung
Ăn đủ năng lượng và chất đạm căn cứ chức năng gan, thận và mức độ bệnh não gan.
Chia nhỏ thành nhiều bữa; có thể bổ sung bữa nhẹ vào buổi tối.
Kiêng rượu bia hoàn toàn.
Không ăn thực phẩm mốc, ôi thiu hoặc bảo quản kém.
Hạn chế thức ăn quá mặn khi có cổ trướng và phù.
Không dùng thực phẩm sống hoặc tái khi sức đề kháng suy giảm.
Không kiêng đạm máy móc
Không phải mọi người ung thư gan đều cần hạn chế protein. Kiêng đạm kéo dài làm mất cơ, suy dinh dưỡng và giảm khả năng chịu đựng điều trị.
Chỉ điều chỉnh lượng đạm khi có bệnh não gan hoặc chỉ định cụ thể.
Thận trọng với thực phẩm bổ dưỡng
Gan động vật chứa cholesterol và vitamin A cao, không có tác dụng phòng hoặc chữa ung thư gan.
Không nên dùng nhau thai người hoặc động vật do nguy cơ nhiễm khuẩn, nguồn gốc không bảo đảm và không có lợi ích điều trị được xác định.
Ba ba, rùa, cua đinh và các món hầm nhiều giờ không phải thuốc chống ung thư. Có thể ăn như thực phẩm nếu bảo đảm vệ sinh và phù hợp tiêu hóa, nhưng không nên sử dụng với kỳ vọng làm tiêu khối u.
Thực phẩm có thể lựa chọn
Cơm, cháo, mì, khoai và ngũ cốc dễ tiêu.
Thịt nạc, cá chín kỹ, trứng, sữa hoặc sản phẩm từ đậu căn cứ khả năng dung nạp.
Rau và trái cây tươi đã rửa sạch.
Dầu thực vật với lượng vừa phải.
Món canh không quá mặn và không quá nhiều dầu mỡ.
Dưỡng sinh và điều tức
Người bệnh ổn định có thể nằm hoặc ngồi thoải mái, thả lỏng vai và bụng, thở chậm, nhẹ, tự nhiên.
Không cần cố kéo dài hơi thở hoặc giữ hơi. Mục đích là giúp thư giãn, giảm căng thẳng và hỗ trợ giấc ngủ, không phải tiêu diệt tế bào ung thư.
Nếu khó thở, chóng mặt, đau tăng hoặc cổ trướng lớn, nên dừng tập và thay đổi tư thế.
Chăm sóc
Bảo vệ vùng gan
Không day ấn, đấm, chườm nóng mạnh hoặc xoa bóp sâu vùng hạ sườn phải.
Khối u lớn hoặc nằm sát bề mặt gan có nguy cơ chảy máu khi bị chấn thương.
Theo dõi xuất huyết
Quan sát nôn ra máu, đại tiện phân đen, chảy máu chân răng, chảy máu mũi, bầm tím và các chấm xuất huyết.
Khi có xuất huyết, không tự dùng thuốc hoạt huyết hoặc rượu thuốc.
Chăm sóc da và phòng loét
Người bệnh giai đoạn muộn cần thay đổi tư thế đều đặn, giữ da sạch và khô, kiểm tra vùng xương cùng, gót chân và khuỷu tay.
Kiểm soát đau
Không nên trì hoãn thuốc giảm đau khi người bệnh có đau. Thuốc giảm đau cần được lựa chọn và chỉnh liều căn cứ chức năng gan.
Mục tiêu kiểm soát đau là giúp người bệnh ăn, ngủ và vận động tốt hơn, không phải chịu đau để tránh “hại gan”.
Tinh thần
Giữ môi trường yên tĩnh, tôn trọng cảm xúc và mong muốn của người bệnh.
Không nên quy bệnh cho nóng giận, lo âu hoặc cho rằng chỉ cần lạc quan là có thể ngăn bệnh tiến triển.
Dấu hiệu cần đi khám ngay
Đau hạ sườn phải đột ngột dữ dội.
Chóng mặt, vã mồ hôi, da lạnh hoặc ngất.
Bụng trướng tăng nhanh.
Nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen.
Sốt, rét run hoặc đau bụng.
Vàng da tăng nhanh.
Tiểu ít rõ.
Khó thở.
Ngủ gà, nói sảng hoặc hành vi bất thường.
Nôn liên tục hoặc không ăn uống được.
Kết luận
Theo Trung y, ung thư gan thường hình thành trên nền chính khí suy hư, Can khí uất trệ, Tỳ hư đàm thấp, huyết ứ và độc tà kết tụ.
Giai đoạn đầu có thể thiên về khí trệ và huyết ứ; bệnh tiến triển thường xuất hiện thấp nhiệt, đàm kết, khí âm lưỡng hư, Tỳ Thận dương hư và thủy thấp đình tụ.
Điều trị Trung y cần căn cứ từng thể bệnh để vận dụng sơ Can lý khí, hoạt huyết thông lạc, kiện Tỳ hóa đàm, thanh nhiệt lợi thấp, dưỡng âm hoặc ôn dương. Phương thuốc phải tinh giản và thường xuyên điều chỉnh theo chức năng gan, thận, đông máu và các phương pháp điều trị ung thư đang thực hiện.
Nói tóm lại, Trung y trong ung thư gan giữ vai trò hỗ trợ điều hòa cơ thể và cải thiện triệu chứng. Không nên dùng các phương độc mạnh, thuốc dân gian không rõ thành phần hoặc thực phẩm bổ dưỡng để thay thế điều trị ung thư chuyên khoa.
Trường Xuân biên soạn