Tổng quan
Ung thư đại trực tràng là ung thư phát sinh ở kết tràng hoặc trực tràng. Phần lớn trường hợp thuộc ung thư biểu mô tuyến, bắt nguồn từ các tế bào tuyến của niêm mạc ruột.
Nhiều ung thư đại trực tràng phát triển qua quá trình kéo dài từ niêm mạc bình thường đến polyp tuyến hoặc tổn thương răng cưa, sau đó xuất hiện loạn sản và chuyển thành ung thư. Vì vậy, phát hiện và cắt bỏ polyp tiền ung thư qua nội soi có thể góp phần ngăn ngừa bệnh. (Cancer.gov)
Ung thư đại trực tràng là một trong những ung thư thường gặp nhất trên thế giới. Bệnh chủ yếu gặp ở người lớn tuổi, nhưng tỷ lệ mắc ở người trẻ đang tăng tại một số quốc gia. Bệnh có thể được điều trị khỏi khi phát hiện ở giai đoạn sớm; tiên lượng giảm khi khối u đã lan đến hạch hoặc di căn xa. (Tổ Chức Y Tế Thế Giới)
Trong Trung y không có bệnh danh hoàn toàn tương ứng. Căn cứ biểu hiện đau bụng, khối tích, đại tiện ra máu, nhầy, mót rặn, phân nhỏ, táo bón hoặc tiêu chảy, bệnh có thể được quy vào phạm vi Tích tụ (积聚), Trưng hà (癥瘕), Tràng đàm (肠覃), Tạng độc (脏毒), Tiện huyết (便血), Lỵ tật (痢疾), Tỏa giang trĩ (锁肛痔) và Phúc thống (腹痛).
Theo nhận thức Trung y, bệnh thường lấy Tỳ hư làm gốc; thấp nhiệt, đàm trọc, khí trệ, huyết ứ và độc tà kết tụ ở Đại trường làm ngọn. Bệnh lâu ngày, sau phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị có thể xuất hiện khí huyết lưỡng hư, Tỳ Thận dương hư, khí âm lưỡng thương hoặc Can Thận âm hư.
Chú ý
Ung thư đại trực tràng phải được chẩn đoán bằng nội soi, sinh thiết mô bệnh học và đánh giá giai đoạn. Thuốc Trung y, châm cứu và dược thiện không thể làm thay công việc này.
Không trì hoãn phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, thuốc đích hoặc liệu pháp miễn dịch để thử thuốc dân gian.
Nếu đi ngoài ra nhiều máu, đau bụng dữ dội, bụng chướng tăng, nôn, không trung tiện hoặc đại tiện được, sốt, choáng hay ngất, cần đi cấp cứu.
DẤU HIỆU CẢNH BÁO
Ung thư đại trực tràng giai đoạn đầu có thể không gây triệu chứng. Khi có biểu hiện, người bệnh có thể gặp:
Thay đổi thói quen đại tiện kéo dài.
Táo bón hoặc tiêu chảy mới xuất hiện.
Tiêu chảy xen kẽ táo bón.
Cảm giác đi ngoài chưa hết.
Mót rặn liên tục.
Máu tươi hoặc máu sẫm trong phân.
Phân lẫn nhầy.
Phân nhỏ hoặc dẹt kéo dài.
Đau hoặc đầy bụng.
Thiếu máu thiếu sắt không rõ nguyên nhân.
Mệt mỏi.
Ăn kém.
Sụt cân ngoài ý muốn.
Khối bất thường trong bụng.
Đau trực tràng hoặc vùng xương cùng.
Ở người trẻ, chảy máu trực tràng, đau bụng, tiêu chảy và thiếu máu thiếu sắt cũng có thể là những dấu hiệu cần được kiểm tra, không nên mặc nhiên quy cho bệnh trĩ hoặc rối loạn tiêu hóa. (Cancer.gov)
UNG THƯ ĐẠI TRÀNG PHẢI VÀ ĐẠI TRÀNG TRÁI
Ung thư đại tràng phải
Đại tràng phải có lòng rộng và phân còn lỏng nên tắc nghẽn thường xuất hiện muộn hơn. Biểu hiện có thể gồm thiếu máu thiếu sắt, mệt, sụt cân, đau âm ỉ bụng phải, phân sẫm hoặc sờ thấy khối.
Ung thư đại tràng trái
Đại tràng trái có lòng hẹp và phân đã đặc hơn nên khối u dễ gây hẹp. Người bệnh có thể đau quặn, chướng bụng, táo bón xen tiêu chảy, phân nhỏ và tắc ruột.
Ung thư trực tràng
Thường gây máu trong phân, nhầy, mót rặn, cảm giác đi chưa hết, đau trực tràng hoặc thay đổi khuôn phân. Khám trực tràng bằng tay có thể phát hiện một số khối u thấp nhưng không thay thế nội soi.
CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
Tuổi
Nguy cơ tăng theo tuổi, dù bệnh vẫn có thể xảy ra ở người trẻ.
Polyp tiền ung thư
Polyp tuyến và một số tổn thương răng cưa có khả năng tiến triển thành ung thư. Cắt bỏ polyp giúp giảm nguy cơ. (Cancer.gov)
Tiền sử cá nhân
Người từng mắc ung thư đại trực tràng hoặc có adenoma nguy cơ cao có nguy cơ xuất hiện tổn thương mới cao hơn.
Tiền sử gia đình
Có cha mẹ, anh chị em hoặc con mắc ung thư đại trực tràng làm nguy cơ tăng, nhất là khi người thân mắc bệnh khi còn trẻ hoặc gia đình có nhiều người mắc. (Cancer.gov)
Hội chứng di truyền
Các hội chứng quan trọng gồm:
Bệnh đa polyp tuyến gia đình.
Hội chứng Lynch.
Hội chứng Peutz–Jeghers.
Hội chứng đa polyp thiếu niên.
Một số hội chứng đa polyp khác.
Người có rất nhiều polyp, ung thư xuất hiện sớm hoặc nhiều người thân mắc ung thư nên được tư vấn di truyền.
Bệnh viêm ruột
Viêm đại tràng loét và bệnh Crohn ở đại tràng kéo dài có thể làm nguy cơ ung thư tăng. Nguy cơ phụ thuộc thời gian mắc bệnh, phạm vi và mức độ viêm.
Lối sống
Hút thuốc, uống nhiều rượu, béo phì, ít hoạt động thể lực, ăn nhiều thịt chế biến và ít rau quả có liên quan đến nguy cơ cao hơn. Hoạt động thể lực, duy trì cân nặng phù hợp, không hút thuốc và hạn chế rượu là những biện pháp có lợi. (Tổ Chức Y Tế Thế Giới)
Chế độ ăn chỉ là một thành phần trong tổng thể nguy cơ. Không nên khẳng định táo bón, thịt bò, một loại vi khuẩn hoặc một món ăn riêng lẻ là nguyên nhân trực tiếp gây ung thư.
HÌNH THÁI VÀ MÔ BỆNH HỌC
Ung thư đại trực tràng có thể biểu hiện dưới dạng:
Khối lồi vào lòng ruột.
Khối dạng polyp.
Tổn thương loét.
Tổn thương thâm nhiễm gây hẹp vòng.
Khối tiết nhiều chất nhầy.
Về mô bệnh học, dạng thường gặp nhất là ung thư biểu mô tuyến. Các dạng khác có thể gồm:
Ung thư tuyến nhầy.
Ung thư tế bào nhẫn.
Ung thư tuyến biệt hóa kém.
Ung thư tuyến – vảy.
Ung thư tế bào vảy ở vùng ống hậu môn hoặc vị trí đặc biệt.
Loại mô học, độ biệt hóa, độ sâu xâm lấn, tình trạng hạch và đặc điểm phân tử đều ảnh hưởng đến lựa chọn điều trị và tiên lượng.
CÁC ĐƯỜNG XÂM LẤN VÀ DI CĂN
Xâm lấn trực tiếp
Khối u phát triển qua các lớp thành ruột rồi xâm lấn mô xung quanh như thành bụng, ruột non, bàng quang, tử cung, tuyến tiền liệt hoặc các cấu trúc vùng chậu.
Di căn hạch
Tế bào ung thư lan theo hệ bạch huyết đến các hạch vùng rồi có thể lan xa hơn.
Di căn theo đường máu
Gan là vị trí di căn thường gặp vì máu từ đại tràng chủ yếu trở về qua hệ tĩnh mạch cửa. Phổi, xương, não, buồng trứng và những cơ quan khác cũng có thể bị ảnh hưởng.
Gieo rắc phúc mạc
Tế bào ung thư có thể bong vào ổ bụng, tạo các nốt phúc mạc và cổ trướng ác tính.
CHẨN ĐOÁN
Nội soi đại tràng
Nội soi giúp quan sát khối u, xác định vị trí, đánh giá mức độ hẹp và lấy sinh thiết. Đây là phương pháp quan trọng để xác định chẩn đoán.
Sinh thiết mô bệnh học
Mẫu mô cho biết loại ung thư và mức độ biệt hóa. Chẩn đoán ung thư không nên chỉ dựa vào hình ảnh nội soi hoặc xét nghiệm máu.
Khám trực tràng
Có giá trị đối với tổn thương trực tràng thấp và giúp đánh giá vị trí, độ di động, hẹp lòng trực tràng hoặc máu nhầy.
Xét nghiệm máu
Có thể gồm:
Công thức máu.
Sắt và ferritin.
Chức năng gan, thận.
Điện giải.
Albumin.
CEA.
CEA không đủ độ chính xác để dùng một mình nhằm tầm soát hoặc xác định ung thư. Xét nghiệm này chủ yếu hỗ trợ theo dõi sau điều trị và đánh giá diễn biến.
Chụp cắt lớp vi tính
CT ngực, bụng và chậu giúp đánh giá xâm lấn, hạch, gan, phổi và các vị trí di căn.
Cộng hưởng từ vùng chậu
MRI đặc biệt quan trọng trong đánh giá ung thư trực tràng, quan hệ với mạc treo trực tràng, cơ thắt và các cấu trúc vùng chậu.
Siêu âm nội trực tràng
Có thể hữu ích trong một số ung thư trực tràng sớm để đánh giá độ sâu xâm lấn.
Xét nghiệm phân
FIT hoặc xét nghiệm máu ẩn trong phân được dùng để tầm soát ở người chưa có triệu chứng. Kết quả dương tính cần được nội soi, không đồng nghĩa đã mắc ung thư. (Cancer.gov)
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM PHÂN TỬ
Khối u có thể được xét nghiệm những đặc điểm như:
Tình trạng sửa chữa bắt cặp sai và bất ổn vi vệ tinh.
Đột biến RAS.
Đột biến BRAF.
HER2 trong một số trường hợp.
Các dấu ấn phân tử khác khi cần.
Những kết quả này giúp nhận biết hội chứng Lynch, dự đoán đáp ứng và lựa chọn thuốc đích hoặc liệu pháp miễn dịch trong bệnh tiến triển.
PHÂN GIAI ĐOẠN
Hiện nay, giai đoạn thường được xác định theo hệ thống TNM:
T mô tả độ sâu khối u xâm lấn tại chỗ.
N mô tả tình trạng hạch vùng.
M mô tả di căn xa.
Có thể khái quát:
Giai đoạn 0: Tổn thương còn ở lớp biểu mô.
Giai đoạn I: Khối u đã xâm lấn thành ruột nhưng chưa đến hạch.
Giai đoạn II: Khối u xâm lấn sâu hơn hoặc ra ngoài thành ruột nhưng chưa phát hiện hạch.
Giai đoạn III: Đã có hạch vùng.
Giai đoạn IV: Đã di căn xa.
Phân loại Dukes là hệ thống cũ, có giá trị lịch sử nhưng không còn mô tả đầy đủ các yếu tố đang dùng để lập kế hoạch điều trị.
ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Điều trị phải được cá thể hóa theo vị trí khối u, giai đoạn, đặc điểm phân tử, thể trạng và mong muốn của người bệnh.
Phẫu thuật
Phẫu thuật là phương pháp điều trị căn bản đối với ung thư khu trú có khả năng cắt bỏ. Bác sĩ cắt đoạn ruột mang khối u cùng mạc treo và hạch liên quan, sau đó nối ruột hoặc tạo hậu môn nhân tạo khi cần.
Một số ung thư rất sớm nằm trong polyp có thể được điều trị bằng cắt nội soi nếu đạt đầy đủ tiêu chuẩn mô bệnh học an toàn.
Hóa trị
Hóa trị có thể được dùng:
Sau phẫu thuật để giảm nguy cơ tái phát.
Trước phẫu thuật trong một số trường hợp.
Điều trị bệnh tái phát hoặc di căn.
Thuốc và phác đồ hiện nay được lựa chọn theo giai đoạn, sinh học khối u và tình trạng người bệnh. Không nên sử dụng lại liều 5-FU hoặc những phác đồ cũ trong tư liệu để tự điều trị.
Xạ trị
Xạ trị được sử dụng nhiều hơn trong ung thư trực tràng so với ung thư kết tràng. Xạ trị có thể phối hợp với hóa trị trước mổ để giảm tái phát tại chỗ hoặc dùng giảm đau, cầm máu và kiểm soát triệu chứng trong bệnh tiến triển.
Thuốc đích
Một số người bệnh di căn có thể phù hợp với thuốc nhắm vào VEGF, EGFR, BRAF, HER2 hoặc những đích khác, tùy kết quả xét nghiệm phân tử.
Liệu pháp miễn dịch
Có thể đem lại hiệu quả rõ ở một số khối u có thiếu hụt sửa chữa bắt cặp sai hoặc bất ổn vi vệ tinh cao.
Điều trị di căn
Người có di căn gan hoặc phổi giới hạn đôi khi vẫn có cơ hội điều trị tích cực bằng phẫu thuật, đốt u, xạ trị định vị hoặc phối hợp nhiều phương pháp. Di căn không phải lúc nào cũng chỉ điều trị giảm nhẹ.
Chăm sóc giảm nhẹ
Có thể bắt đầu từ sớm nhằm kiểm soát đau, buồn nôn, tắc nghẽn, chảy máu, mệt mỏi, dinh dưỡng và tâm lý. Chăm sóc giảm nhẹ không đồng nghĩa với ngừng điều trị ung thư.
CẤP CỨU VÀ BIẾN CHỨNG
Tắc ruột
Chứng trạng: Đau quặn từng cơn, bụng chướng, nôn, giảm hoặc ngừng trung tiện và đại tiện.
Xử trí: Ngừng ăn uống và đi cấp cứu. Người bệnh có thể cần đặt ống giải áp, stent, phẫu thuật hoặc tạo hậu môn nhân tạo.
Thủng ruột
Chứng trạng: Đau bụng dữ dội đột ngột, bụng cứng, sốt, mạch nhanh, choáng.
Xử trí: Cấp cứu ngoại khoa.
Xuất huyết
Chứng trạng: Đi ngoài nhiều máu, chóng mặt, mệt lả, tim nhanh, tụt huyết áp.
Xử trí: Đến bệnh viện để đánh giá mất máu và cầm máu.
Thiếu máu
Có thể do mất máu mạn, viêm, thiếu dinh dưỡng hoặc điều trị. Cần xét nghiệm và bổ sung sắt hoặc truyền máu theo chỉ định.
Nhiễm trùng và giảm bạch cầu
Người đang hóa trị có sốt phải liên hệ cơ sở điều trị ngay, vì sốt giảm bạch cầu có thể diễn tiến nhanh.
TẦM SOÁT
Tầm soát dành cho người chưa có triệu chứng. Người đang đi ngoài ra máu, thiếu máu hoặc thay đổi đại tiện cần khám chẩn đoán, không nên chỉ làm xét nghiệm tầm soát tại nhà.
Các phương pháp tầm soát có thể gồm:
FIT hoặc xét nghiệm máu ẩn trong phân.
Xét nghiệm phân kết hợp dấu ấn phân tử.
Nội soi đại tràng.
Nội soi đại tràng sigma.
Chụp đại tràng CT trong trường hợp phù hợp.
Hướng dẫn của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ năm 2026 tiếp tục khuyến nghị người nguy cơ trung bình bắt đầu tầm soát từ 45 tuổi và tiếp tục đều đặn đến 75 tuổi nếu sức khỏe và tuổi thọ dự kiến phù hợp. Chương trình cụ thể tại mỗi quốc gia có thể khác nhau; người có nguy cơ cao thường phải bắt đầu sớm hơn và nội soi thường xuyên hơn. (ACS Publications)
Nhóm nguy cơ cao gồm:
Tiền sử gia đình đáng chú ý.
Đã từng có polyp nguy cơ cao.
Đã từng mắc ung thư đại trực tràng.
Bệnh viêm ruột kéo dài.
Hội chứng di truyền.
Tiền sử xạ trị vùng bụng hoặc chậu trong một số hoàn cảnh.
PHÒNG NGỪA
Tầm soát và cắt polyp
Đây là biện pháp có hiệu quả rõ trong giảm tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư đại trực tràng. (Cancer.gov)
Không hút thuốc
Thuốc lá làm nguy cơ nhiều loại ung thư tăng, trong đó có ung thư đại trực tràng.
Hạn chế rượu bia
Uống nhiều rượu liên quan đến nguy cơ cao hơn.
Duy trì cân nặng phù hợp
Béo phì là một yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh.
Vận động đều
Hoạt động thể lực có liên quan với nguy cơ thấp hơn. (Cancer.gov)
Ăn uống cân đối
Nên ưu tiên rau, quả, ngũ cốc nguyên hạt, đậu và thực phẩm ít chế biến; hạn chế thịt chế biến, thực phẩm quá nhiều năng lượng và chất béo bão hòa.
Không có căn cứ để giới hạn cứng chất béo ở 60 g hoặc rau ở 250 g cho mọi người. Khẩu phần nên phù hợp với thể trạng và nhu cầu năng lượng.
Không tự dùng aspirin
Aspirin có thể giảm nguy cơ ở một số nhóm nhưng cũng gây loét và xuất huyết. Không nên dùng aspirin chỉ để phòng ung thư khi chưa được bác sĩ đánh giá lợi ích và nguy cơ. NCI cũng lưu ý vai trò dự phòng của aspirin phải được cân nhắc cùng nguy cơ tác dụng phụ. (Cancer.gov)
Không tự bổ sung canxi hoặc vitamin liều cao
Canxi, vitamin A, vitamin E, beta-carotene và vitamin C liều cao không phải phương pháp điều trị hoặc phòng ung thư đại trực tràng áp dụng chung. Việc bổ sung chỉ nên căn cứ nhu cầu dinh dưỡng và chỉ định chuyên môn.
NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y
Trong Trung y, Tỳ chủ vận hóa, Đại trường chủ truyền đạo, Can chủ sơ tiết và Thận chủ đóng mở.
Ăn uống không điều độ, béo ngọt quá mức hoặc bệnh đường ruột kéo dài có thể làm Tỳ mất kiện vận, thủy thấp đình tụ.
Thấp uất lâu ngày hóa nhiệt, kết với độc tà ở Đại trường.
Tình chí không thư thái làm Can khí uất kết, khí cơ Trường phủ không thông.
Khí trệ kéo dài làm huyết ứ.
Đàm thấp, khí trệ, huyết ứ và độc tà kết lại có thể hình thành khối.
Bệnh kéo dài làm chính khí suy, khí huyết và âm dương hao tổn.
Bệnh cơ có thể khái quát:
Tỳ hư là gốc.
Thấp nhiệt, đàm độc, khí trệ và huyết ứ là ngọn.
Bệnh tiến triển lâu ngày thường hư thực xen lẫn.
Sau phẫu thuật và điều trị ung thư, trọng tâm Trung y thường chuyển sang kiện Tỳ hòa Vị, ích khí dưỡng huyết, dưỡng âm sinh tân và hỗ trợ phục hồi, chứ không nên chỉ dùng thuốc công phá hoặc “giải độc tán kết”.
BIỆN CHỨNG HỖ TRỢ
Bệnh cơ
Tỳ vận hóa suy, thấp tích lại hóa nhiệt; thấp nhiệt và độc tà uẩn kết ở Đại trường, làm khí huyết không thông và huyết lạc tổn thương.
Chứng trạng: Đau và đầy bụng, đại tiện nhiều lần, phân lẫn nhầy, mủ hoặc máu, mót rặn, hậu môn nóng rát, miệng đắng nhớt, tiểu tiện vàng, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, giải độc, lý khí hòa huyết.
Phương thang: Bạch đầu ông thang hợp Hoàng liên giải độc thang gia giảm gồm bạch đầu ông, hoàng liên, hoàng bá, tần bì, hoàng cầm và chi tử; tùy chứng có thể phối bạch hoa xà thiệt thảo, bán chi liên, bại tương thảo, ý dĩ nhân và mộc hương.
Gia giảm
Máu trong phân: gia địa du, hòe hoa theo biện chứng.
Mót rặn: gia mộc hương, binh lang lượng thích hợp.
Đầy trướng: gia hậu phác, chỉ xác.
Chú ý
Đi ngoài ra máu không thể chỉ dựa vào thuốc thanh nhiệt hoặc cầm máu. Cần đánh giá khối u, thiếu máu và nguy cơ tắc nghẽn.
Bệnh cơ
Can khí uất hoặc khối u làm khí cơ Trường phủ bế tắc; khí trệ dẫn đến huyết ứ, ứ độc kết lại.
Chứng trạng: Đau bụng cố định, đau như kim châm, khối cứng, đại tiện khó hoặc không hết, phân nhỏ, máu sẫm, sắc mặt tối, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp.
Phép trị
Hành khí hoạt huyết, hóa ứ thông lạc.
Phương thang: Cách hạ trục ứ thang hoặc Thiếu phúc trục ứ thang gia giảm gồm đương quy, xuyên khung, xích thược, đào nhân, hồng hoa, hương phụ, chỉ xác, diên hồ sách và uất kim.
Chú ý
Không dùng thuốc hoạt huyết khi đang xuất huyết nhiều, tiểu cầu thấp, mới phẫu thuật hoặc đang dùng thuốc chống đông. Thuốc hoạt huyết không làm thay phẫu thuật giải quyết khối u gây hẹp.
Bệnh cơ
Tỳ hư không vận hóa được thủy thấp, thấp tụ thành đàm, đàm và khí kết lại trong Trường phủ.
Chứng trạng: Bụng đầy nặng, có thể sờ thấy khối, ăn kém, buồn nôn, cơ thể nặng nề, đại tiện không điều hòa, lưỡi nhạt hoặc tím nhạt, rêu trắng dày nhớt, mạch hoạt.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa đàm, lý khí tán kết.
Phương thang: Nhị trần thang hợp Bình vị tán gia giảm gồm bán hạ, trần bì, phục linh, chích cam thảo, thương truật, hậu phác, chỉ xác, mộc hương và ý dĩ nhân.
Gia giảm
Khí hư: gia đảng sâm, hoàng kỳ.
Đau bụng: gia diên hồ sách, bạch thược.
Táo bón: cần loại trừ tắc ruột trước; không tự dùng thuốc công hạ.
Bệnh cơ
Can khí không thư, hoành nghịch khắc Tỳ; Tỳ hư làm vận hóa suy, khí cơ Đại trường rối loạn.
Chứng trạng: Đau bụng, đầy hơi, đại tiện thay đổi theo tình chí, tiêu chảy và táo bón xen kẽ, ăn kém, hay thở dài, mệt, lưỡi hồng nhạt rêu trắng, mạch huyền nhược.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, lý khí hòa trung.
Phương thang: Tiêu dao tán hợp Thống tả yếu phương gia giảm gồm sài hồ, bạch thược, bạch truật, phục linh, trần bì, phòng phong, đương quy và cam thảo.
Gia giảm
Đầy trướng: gia chỉ xác, hậu phác.
Đau: gia uất kim, diên hồ sách.
Mất ngủ và lo âu: gia hợp hoan bì, dạ giao đằng.
Bệnh cơ
Bệnh lâu ngày, ăn uống kém hoặc sau phẫu thuật, hóa trị làm Tỳ khí suy, vận hóa và sinh hóa khí huyết giảm.
Chứng trạng: Mệt mỏi, ăn kém, đầy bụng sau ăn, đại tiện phân nát hoặc nhiều lần, hơi thở ngắn, sắc mặt nhợt hoặc vàng nhạt, lưỡi nhạt có dấu răng, mạch tế nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị trợ vận.
Phương thang: Sâm linh bạch truật tán hoặc Hương sa lục quân tử thang gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, phục linh, hoài sơn dược, bạch biển đậu, liên tử, ý dĩ nhân, trần bì, bán hạ, mộc hương, sa nhân và chích cam thảo.
Gia giảm
Tiêu chảy: gia khiếm thực, ô mai theo chứng.
Buồn nôn: gia trúc nhự, sinh khương.
Thiếu sức: gia hoàng kỳ.
Bệnh cơ
Khối u, chảy máu, phẫu thuật và điều trị kéo dài làm khí huyết hao tổn, Tỳ mất nguồn sinh hóa.
Chứng trạng: Mệt rõ, sắc mặt nhợt, chóng mặt, hồi hộp, ăn kém, hơi thở ngắn, ngủ kém, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Phép trị
Ích khí dưỡng huyết, kiện Tỳ hòa Vị.
Phương thang: Bát trân thang hoặc Quy tỳ thang gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, phục linh, chích cam thảo, đương quy, bạch thược, thục địa hoàng và xuyên khung; tùy chứng phối hoàng kỳ, long nhãn nhục, toan táo nhân.
Chú ý
Thiếu máu phải được xét nghiệm để xác định mất máu, thiếu sắt, thiếu vitamin hoặc suy tủy. Thuốc bổ huyết không thay thế sắt, truyền máu hoặc điều trị nguyên nhân.
Bệnh cơ
Sốt, tiêu chảy, phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị làm khí và tân dịch cùng hao tổn.
Chứng trạng: Mệt, hơi thở ngắn, khô miệng, khát, ăn kém, buồn nôn, đại tiện khô hoặc lỏng, người gầy, lưỡi đỏ nhạt ít rêu, mạch tế nhược hoặc tế sác.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, sinh tân hòa Vị.
Phương thang: Sinh mạch tán hợp Ích vị thang gia giảm gồm thái tử sâm hoặc đảng sâm, mạch môn đông, ngũ vị tử, bắc sa sâm, ngọc trúc, thạch hộc và sinh địa hoàng.
Gia giảm
Buồn nôn: gia trúc nhự, tỳ bà diệp chế.
Miệng khô: gia thiên hoa phấn, huyền sâm.
Táo bón: gia hỏa ma nhân.
Bệnh cơ
Bệnh lâu ngày làm Tỳ Thận dương suy, trung hạ tiêu mất ôn dưỡng, vận hóa và đóng mở rối loạn.
Chứng trạng: Tiêu chảy gần sáng, phân lỏng, bụng lạnh đau âm ỉ, thích ấm, tay chân lạnh, mệt, lưng gối mỏi, lưỡi nhạt bệu rêu trắng, mạch trầm trì.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, cố trường chỉ tả.
Phương thang: Tứ thần hoàn hợp Lý trung thang gia giảm gồm bổ cốt chỉ, nhục đậu khấu, ngô thù du, ngũ vị tử, đảng sâm, bạch truật, can khương và chích cam thảo.
Chú ý
Không dùng phép ôn bổ khi sốt, miệng khát, lưỡi đỏ, phân mủ máu hoặc có nhiễm trùng.
HỖ TRỢ TRONG TỪNG GIAI ĐOẠN
Trước phẫu thuật
Trọng tâm là duy trì dinh dưỡng, điều chỉnh thiếu máu, kiểm soát đau, bảo đảm đại tiện và chuẩn bị theo hướng dẫn của đội phẫu thuật.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết, công hạ, thảo dược gây độc gan hoặc ảnh hưởng đông máu trước mổ.
Sau phẫu thuật
Có thể biện chứng theo Tỳ khí hư, khí huyết lưỡng hư hoặc khí âm lưỡng hư.
Cần tuân thủ hướng dẫn về ăn uống, chăm sóc vết mổ, hậu môn nhân tạo và vận động.
Trong hóa trị
Trung y có thể hỗ trợ các triệu chứng như ăn kém, mệt, buồn nôn hoặc đại tiện không điều hòa, nhưng phải thông báo toàn bộ dược liệu cho bác sĩ ung thư để tránh tương tác.
Không tự uống thuốc thanh nhiệt giải độc liều cao khi bạch cầu giảm, tiêu chảy hoặc tổn thương gan.
Trong xạ trị vùng chậu
Có thể xuất hiện tiêu chảy, mót rặn, đau rát hậu môn, viêm bàng quang hoặc mệt.
Cần đánh giá mất nước, nhiễm trùng và tổn thương niêm mạc trước khi dùng thuốc Trung y.
Giai đoạn bệnh tiến triển
Mục tiêu có thể gồm giảm đau, giảm buồn nôn, hỗ trợ ăn uống, đại tiện, giấc ngủ và tinh thần.
Không nên dùng thuốc công phá mạnh với mục đích “đánh khối u” ở người gầy yếu, tắc ruột, suy gan, suy thận hoặc tủy xương suy.
CHÂM CỨU HỖ TRỢ
Châm cứu không điều trị trực tiếp khối ung thư nhưng có thể hỗ trợ buồn nôn, đau, mệt và rối loạn đại tiện ở người bệnh ổn định.
Huyệt thường dùng
Nhâm-12 Trung quản
Tâm bào-6 Nội quan
Vị-36 Túc tam lý
Vị-25 Thiên khu
Vị-37 Thượng cự hư
Nhâm-6 Khí hải
Tỳ-6 Tam âm giao
Tỳ-9 Âm lăng tuyền
Bàng quang-20 Tỳ du
Bàng quang-25 Đại trường du
Can-3 Thái xung
Phối huyệt tham khảo
Buồn nôn: Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ khí hư: Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du, Nhâm-6 Khí hải.
Tiêu chảy: Vị-25 Thiên khu, Vị-37 Thượng cự hư, Vị-36 Túc tam lý.
Táo bón: Tam tiêu-6 Chi câu, Tỳ-15 Đại hoành, Vị-37 Thượng cự hư.
Can uất: Can-3 Thái xung, Tâm bào-6 Nội quan, Tỳ-6 Tam âm giao.
Không châm cứu khi:
Sốt giảm bạch cầu.
Tiểu cầu thấp.
Đang chảy máu.
Nhiễm trùng da.
Đau bụng nghi tắc hoặc thủng.
Vừa phẫu thuật khi chưa được cho phép.
Không châm vào khối u, vết mổ, vùng xạ trị tổn thương hoặc vùng có hậu môn nhân tạo.
CỨU NGẢI VÀ GIÁC HƠI
Cứu ngải chỉ cân nhắc ở thể hư hàn, người bệnh ổn định, không sốt, không chảy máu và không tổn thương da.
Không cứu trực tiếp lên bụng có khối u, vết mổ hoặc vùng xạ trị.
Không giác hơi lên vùng vết mổ, khối u, bụng đau chưa rõ nguyên nhân hoặc khi tiểu cầu thấp. Giác hơi không điều trị được dính ruột hoặc tắc ruột sau mổ.
ĐIỀU DƯỠNG DINH DƯỠNG
Dinh dưỡng phải được cá thể hóa theo vị trí khối u, phương pháp điều trị, hậu môn nhân tạo, tình trạng tắc nghẽn và khả năng tiêu hóa.
Trước điều trị
Duy trì đủ năng lượng và chất đạm.
Điều trị thiếu sắt, thiếu máu và mất nước theo chỉ định.
Không tự kiêng thịt, trứng, cá hoặc sữa khi vẫn dung nạp được.
Sau phẫu thuật
Bắt đầu ăn theo hướng dẫn của đội điều trị.
Tăng dần từ lỏng đến mềm rồi trở về chế độ đa dạng.
Ăn ít, chia nhiều bữa.
Nhai kỹ.
Theo dõi chướng, đau, nôn và hoạt động của hậu môn nhân tạo.
Trong hóa trị
Ưu tiên thức ăn dễ ăn, giàu đạm và năng lượng.
Ăn từng lượng nhỏ khi buồn nôn.
Bảo đảm an toàn thực phẩm khi bạch cầu thấp.
Uống đủ nước nếu không có chống chỉ định.
Khi tiêu chảy
Tạm giảm chất xơ thô và thức ăn nhiều dầu.
Bù nước và điện giải.
Báo cơ sở điều trị nếu tiêu chảy nhiều, có máu, sốt hoặc đau bụng.
Khi táo bón
Uống đủ nước, vận động phù hợp và tăng chất xơ nếu không có hẹp hoặc tắc ruột.
Người có khối u gây hẹp không nên tự ăn lượng lớn rau xơ, vỏ quả hoặc ngũ cốc thô để “thông ruột”.
DƯỢC THIỆN THAM KHẢO
Các món ăn chỉ nhằm cung cấp dinh dưỡng, không có tác dụng chữa ung thư.
Tỳ khí hư, ăn kém
Cháo hoài sơn dược, liên tử, bạch biển đậu, phối thịt nạc hoặc cá theo khả năng tiêu hóa.
Khí huyết hư
Cháo hoài sơn dược, đại táo lượng vừa, thịt nạc và trứng.
Khí âm lưỡng hư
Cháo ngọc trúc hoặc bắc sa sâm lượng vừa, phối nguồn chất đạm dễ tiêu.
Tiêu chảy sau điều trị
Cháo gạo tẻ, hoài sơn dược và liên tử; vẫn phải bù nước, điện giải và tìm nguyên nhân.
Không dùng bán chi liên, bạch hoa xà thiệt thảo, huyết dư thán, Áp đan tử hoặc bột côn trùng như thực phẩm tự chữa ung thư.
NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CẦN LOẠI BỎ
Không dùng Áp đan tử. Hạt này có độc tính, có thể gây tổn thương tiêu hóa, gan, thận và thần kinh.
Không dùng con gián, ốc nung, rượu thuốc hoặc những dược liệu không xác định rõ loài.
Không đắp A ngùy, nhũ hương, hồng hoa hoặc cao thuốc lên bụng để làm tan khối u.
Không tự dùng đại hoàng, tam lăng, nga truật, đào nhân và hồng hoa khi có tắc ruột, xuất huyết hoặc chuẩn bị phẫu thuật.
Không uống aspirin nhằm phòng ung thư nếu bác sĩ chưa chỉ định.
Không dùng vitamin, canxi hoặc chất chống oxy hóa liều cao thay cho tầm soát.
Không xem tỏi, kiwi, khổ qua, nấm hoặc một món ăn nào là thuốc điều trị ung thư.
Không dùng thực phẩm sống hoặc chưa bảo đảm vệ sinh khi hệ miễn dịch suy yếu.
CHĂM SÓC HẬU MÔN NHÂN TẠO
Quan sát màu sắc niêm mạc hậu môn nhân tạo.
Giữ da quanh miệng hậu môn sạch và khô.
Cắt túi vừa kích thước, tránh để phân tiếp xúc da.
Theo dõi lượng và tính chất phân.
Uống đủ nước, đặc biệt với hậu môn nhân tạo hồi tràng.
Nhai kỹ và thử từng loại thực phẩm mới với lượng nhỏ.
Đi khám nếu hậu môn nhân tạo tím, đen, sưng nhiều, chảy máu liên tục, không ra phân kèm đau chướng, hoặc tụt sâu vào trong.
THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ
Tái khám đúng lịch.
Theo dõi CEA khi được chỉ định.
Chụp hình ảnh theo kế hoạch.
Nội soi kiểm tra đại tràng còn lại.
Theo dõi tác dụng muộn của hóa trị và xạ trị.
Đánh giá thiếu máu, dinh dưỡng, thần kinh ngoại biên và sức khỏe xương.
Tiếp tục tầm soát các ung thư khác phù hợp.
Người có hội chứng di truyền cần chương trình theo dõi riêng cho bản thân và gia đình.
NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM
Khám sớm khi đi ngoài ra máu hoặc thay đổi đại tiện.
Nội soi và sinh thiết tổn thương nghi ngờ.
Tầm soát đúng độ tuổi và nguy cơ.
Cắt polyp tiền ung thư.
Tuân thủ điều trị đa chuyên khoa.
Thông báo mọi thuốc và dược liệu đang dùng.
Duy trì dinh dưỡng và vận động phù hợp.
Bỏ thuốc lá.
Hạn chế rượu bia.
Đi cấp cứu khi có tắc ruột, thủng hoặc xuất huyết nhiều.
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM
Không quy máu trong phân cho bệnh trĩ khi chưa kiểm tra.
Không dựa vào CEA để tự kết luận có hoặc không có ung thư.
Không trì hoãn sinh thiết.
Không từ chối phẫu thuật để thử thuốc Đông y.
Không tự dùng hóa trị hoặc sao chép liều thuốc từ tài liệu cũ.
Không tự dùng aspirin để phòng bệnh.
Không ăn kiêng cực đoan.
Không dùng thuốc hoạt huyết khi tiểu cầu thấp hoặc đang chảy máu.
Không xoa bóp, giác hơi hoặc cứu ngải lên vùng khối u và vết mổ.
Không cho rằng triệu chứng giảm đồng nghĩa khối u đã biến mất.
Nói tóm lại
Ung thư đại trực tràng là bệnh ác tính phát sinh từ kết tràng hoặc trực tràng. Bệnh thường bắt đầu từ những biến đổi ở niêm mạc, trong đó một phần phát triển qua polyp tuyến hoặc tổn thương răng cưa tiền ung thư. Phát hiện và cắt bỏ polyp cùng tầm soát đúng thời điểm có thể làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong.
Các dấu hiệu cần chú ý gồm máu trong phân, thay đổi đại tiện kéo dài, cảm giác đi chưa hết, phân nhỏ, đau bụng, thiếu máu thiếu sắt, mệt và sụt cân. Chẩn đoán cần nội soi, sinh thiết và đánh giá giai đoạn bằng hình ảnh học; CEA chỉ có vai trò hỗ trợ theo dõi.
Điều trị hiện đại có thể gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, thuốc đích và liệu pháp miễn dịch. Nhiều người bệnh ở giai đoạn sớm có khả năng điều trị khỏi; ngay cả khi đã có di căn giới hạn, một số trường hợp vẫn có thể được điều trị tích cực bằng nhiều phương pháp phối hợp.
Theo Trung y, bệnh thường lấy Tỳ hư làm gốc; thấp nhiệt, đàm trọc, khí trệ, huyết ứ và độc tà kết tụ làm ngọn. Các thể thường gặp gồm thấp nhiệt độc kết, khí trệ huyết ứ, đàm thấp ngưng kết, Can uất Tỳ hư, Tỳ khí hư, khí huyết lưỡng hư, khí âm lưỡng hư và Tỳ Thận dương hư.
Trung y có thể hỗ trợ điều hòa tiêu hóa, dinh dưỡng, giấc ngủ, mệt mỏi và phục hồi sau điều trị khi được phối hợp an toàn. Trung y không thay thế sinh thiết, phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, thuốc đích hoặc liệu pháp miễn dịch, và không nên được giới thiệu như phương pháp làm tan hay chữa khỏi khối ung thư.
Trường Xuân biên soạn