Mười hai phương pháp điều trị đau dạ dày của Gs Lưu Độ Châu
Lưu Độ Châu là giáo sư và người là tiến sĩ quá cố của Đại học Y học Trung Hoa Bắc Kinh. Ông ủng hộ lý thuyết của Trọng Cảnh, noi theo lời dạy của Kỳ (Bá) và Hoàng (đế), đồng thời tuân theo lý thuyết của các trường phái khác. Ông học hỏi từ điểm mạnh của người khác và thu được kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm, hình thành tư duy học thuật và phong cách y học đặc biệt. Bài viết này tóm tắt một cách có hệ thống mười hai phương pháp điều trị đau dạ dày của Lưu Độ Châu, nhằm hướng dẫn điều trị lâm sàng tốt hơn.
Phương pháp ôn vị tán hàn hành khí chỉ thống
(PP ấm dạ dày hành khí giảm đau)
Nếu thượng vị và bụng bị cảm lạnh, hoặc ăn quá nhiều đồ sống, lạnh, khiến cảm lạnh tích tụ ở thượng vị, lạnh là âm tà, tính chất ngưng trệ, khiến khí huyết trì sáp, tính chất thu dẫn. gây ra mạch tế cấp, nên gây đau dạ dày.
Triệu chứng: Đau bụng dữ dội, thường do cảm lạnh do lạnh hoặc ăn đồ lạnh, thích ăn thực phẩm nóng, sợ lạnh thích ấm áp, được chườm nóng thì giảm đau. Rêu lưỡi trắng, mạch huyền khẩn hoặc huyền trì.
Trị pháp: Ôn vị tán hàn, hành khí giảm đau.
Xử phương: Lương khương chỉ thống ẩm. Thành phần: Cao lương khương 9g, Sa nhân 6g, Sài hồ 9g, Tử tô 9g, Ngô thù du 9g, chích Cam thảo 6g. Nếu bị đau bụng lạnh, chuột rút cơ bụng hoặc thậm chí đau bụng lạnh, mạch trầm vi, tay chân lạnh, rêu lưỡi trắng thì dùng thang Đại Kiến Trung để chữa trị.
Phương pháp tiêu hóa ứ trệ, thanh lợi thấp nhiệt.
Thức ăn tích tụ lâu ngày sẽ sinh ra thấp nhiệt, thấp nhiệt kết hợp với thức ăn tích tụ ở ruột, dạ dày, sẽ cản trở khí cơ vận chuyển, khiến thượng vị căng trướng và đau.
Triệu chứng: Đầy trướng và đau vùng thượng vị, không muốn ấn nắn, hoặc nôn và ăn khó tiêu, ợ mùi ôi thiu, sau khi nôn đau giảm, chán ăn, tiêu chảy hoặc đại tiện bí kết, nước tiểu vàng, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch trầm có lực, v.v. .
Trị pháp: Tiêu thực trừ trệ, thanh lợi thấp nhiệt. Lưu Đô Châu thường dùng thang Chỉ Thực Đạo Trệ để thanh lý (làm sạch) vị tràng (đường tiêu hóa), khứ thấp và trừ trệ là phép điều trị bệnh của loại hình này.Đối với những trẻ ứ đọng thức ăn, chướng bụng đau vùng thượng vị thì sử dụng phổ biến hơn.
Lưu Du Châu chỉ ra: Bệnh tật của trẻ em ngày nay là phổ biến nhất, nguyên nhân là do nội tạng của trẻ em rất non nớt dễ bị tổn thương, hơn nữa khả năng tự chủ của trẻ kém, được người lớn yêu chiều, có nhiều loại thực phẩm phong phú, ăn nhiều thì tỳ vị sẽ suy yếu, lực vận hoá kém, thực phẩm ứ đọng trong dạ dày, chướng bụng và đau vùng thượng vị, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn và nôn, hôi mùi thức ăn ôi thiu, đau vùng thượng vị, táo bón hoặc tiêu chảy, rêu lưỡi bẩn và nhờn. mạch hoạt… nổi bật nhất là tình trạng biếng ăn hoặc kém ăn, lúc này người lớn sợ thiếu dinh dưỡng nên tìm đủ mọi cách để ăn uống bổ sung khiến tình trạng bệnh ngày càng trầm trọng hơn. Lưu Đô Châu dùng thuốc Bảo Hòa (Thần khúc 10g, Sơn tra 10g, Trần bì 6g, Liên kiều 10g, La bặc tử 10g, Phục linh 15g, Bán hạ 10g) để trị bệnh và khỏi bệnh.
Các phương pháp trừ ẩm dưỡng tỳ, ích khí, điều hòa dạ dày
Tỳ thuộc thổ, thấp là khí của thổ, vì thấp là âm tà, bản chất là dính (niêm trệ), nếu thấp trệ tỳ vị, vận chuyển và chuyển hóa sẽ không tốt, cản trở khí vận động, và khí cơ trì trệ không hoạt động.
Triệu chứng: Căng trướng đau vùng thượng vị, đầy bụng, không muốn ăn, miệng nhạt không mùi vị, buồn nôn và nôn, ợ hơi và nuốt chua, kèm theo chi thể nặng nề, lười biếng và buồn ngủ, thường tiết tả, rêu lưỡi trắng nhờn và dày, mạch hoãn.
Trị pháp: Táo thấp kiện tỳ, hành khí hoà vị, Lưu Độc Châu thường dùng Bình vị tán để chữa trị. Lưu Đô Châu tin rằng khi sử dụng bài thuốc này nên tập trung vào hai chứng thấp và thực. Dạ dày thuộc về dương minh, khí của dương minh là táo (khô), táo mà không khô lại ẩm ướt thì vị khí bất hoà, có các triệu chứng như bĩ (bế tắc) và đầy bụng, căng tức vùng thượng vị, ợ hơi và nấc, không thể tiêu hóa thức ăn, và rêu lưỡi có màu trắng và nhờn. Bình vị (tán) có nghĩa là trừ bỏ thức ăn ứ đọng trong dạ dày và loại bỏ thấp tà trong dạ dày. Khi thấp tà bị tiêu trừ, tỳ vị vận hoá tốt thì khẩu phần ăn ứ trệ sẽ tự động bị loại bỏ, cho nên bài thuốc này có tác dụng kiện tỳ hoà vị, khứ thấp và tiêu thực trệ.
Được sử dụng lâm sàng trong trường hợp thấp tà gây hại cho dạ dày, thức ăn không thể tiêu hóa được và chúng bổ sung cho nhau. Lưu Đô Châu sử dụng bài thuốc này trên lâm sàng, với rêu lưỡi dày và nhờn làm chỉ định, thường kết hợp các bài thuốc khác nhau để chữa các bệnh khác nhau. Dùng bài thuốc này nếu dạ dày của bạn bị tổn thương do thức ăn ứ đọng, thấp trọc ở trung tiêu không được giải quyết, thấp tà hóa nhiệt, dạ dày trướng đầy sau khi ăn, cồn cào ợ chua, đau thượng vị, lở loét miệng lưỡi, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch trầm hoạt.Thì dùng phương này với thang Đại hoàng Hoàng liên tả tâm để điều trị chứng ứ trệ thực phẩm do nhiệt ẩm, lấy cảm hứng từ thang Thanh vị lý giải trong {Y Tôn Kim Giám}.
Phương pháp hành thuỷ tiêu bĩ
Tỳ vị chủ yếu bị ảnh hưởng bởi sự vận chuyển và chuyển hóa, nếu vận hóa không thuận lợi, dễ xảy ra hiện tượng nước đình trệ trong dạ dày và sản sinh đàm trọc, gây trở ngại khí cơ (Khí cơ là thăng giáng phù trầm), xuất hiện chứng trạng thượng vị trướng đau.
Chủ chứng: Dạ dày bĩ đầy và đau, lợm giọng, ợ hơi, ăn uống vô vị, hồi hộp, chóng mặt, khó tiểu tiện; Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm huyền.
Trị pháp: Hành thuỷ tiêu bĩ, dẫn thuỷ hạ hành
Xử phương: Thang Tiểu Bán hạ gia Phục linh. Gồm Sinh khương, Bán hạ ôn hoá hàn ngưng trệ, hành thuỷ tán ẩm, giáng nghịch trị ẩu thổ; Phục linh kiện tỳ ích khí, thấm lợi thuỷ thấp, đạo thuỷ hạ hành, có công dụng giáng trọc thăng thanh. Trong phương này Lưu tiên sinh dùng lượng Sinh khương Bán hạ trên 15g, Phục linh 30g, nếu dùng lượng nhỏ sẽ khó thu được hiệu quả, nhấn mạnh lượng sinh khương nên dùng đủ, mỗi phiến khoảng 20g, lớn nhỏ nên đủ tuỳ theo dày mỏng, mỗi miếng gừng kích thước nằng đồng 5 xu.
Sơ tiết gan hoà vị
Kinh Quyết Âm của Can và vị, vị là Dương Minh táo thổ, kinh mạch của nó kết hợp với khí của tất cả các kinh, tuy can và vị là một một tạng và một phủ, nhưng trong quá trình bệnh ở tạng can, can khí phạm vị là tình trạng thường gặp, có thể nói “Can vị chi khí, bản hựu tương thông, nhất tạng bất hoà, tắc lưỡng tạng giai bệnh” (肝胃之气,本又相通,一脏不和,则两脏皆病). Khí của can và vị, cơ bản là thông với nhau, một tạng không điều hoà là hai tạng đều bị bệnh.
Chủ chứng bao gồm: Trướng đau đau vùng bụng và thượng vị, nôn ra nước chua, cồn cào không thoải mái, mạch huyền hoạt, cạnh lưỡi và đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng nhờn, v.v..
Nguyên tắc điều trị: Dùng phương pháp sơ tiết can hoà vị, Lưu Đô Châu thường dùng thang Ngô Liên nhị trần. Thành phần: Ngô thù du 9g, Hoàng liên 9g, Xuyên luyện tử 6g, Trần bì 9g, Bán hạ 9g, Phục linh 10g, Sinh khương 9g, Hương phụ 9g. Trong đơn thuốc Ngô thù du kết hợp với Hoàng liên thành Tả Kim hoàn. Viên uống có tác dụng chữa gan mật hỏa ứ và nôn mửa chua đắng, Xuyên luyện tử và Hương phụ có tác dụng sơ tiết can điều hoà khí; Bán hạ, Trần bì, Sinh khương, Phục linh có công dụng hoà vị hoá đàm, hợp dụng các vị thuốc có công dụng cộng tấu.
Phương pháp sơ tiết can và thanh nhiệt
Nếu can vị bất hoà thì khí cơ uất trệ, lâu dần sẽ chuyển thành nhiệt, khí dư thừa sẽ sinh hỏa, nếu tà nhiệt của can hỏa xâm nhập vào vị sẽ gây đau đớn.
Triệu chứng: Đau vùng thượng vị, đau cấp bách, cồn cào miệng dàn nước chua, miệng khô đắng, thích uống nước lạnh, vội vã dễ cáu giận; Chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch huyền hoạt.
Trị pháp:: Sơ can hoà vị, thanh nhiệt giải uất.
Lưu Độ Châu thường dùng Đan chi tiêu dao cộng với Tả kim hoàn để điều trị. Nếu miệng nhiều nước chua rõ rệt, thì dùng Gia vị Ô Bối tán : Hải phiêu tiêu 30g, chiết Bối mẫu 6g, Kê nội kim 9g, Hoàng liên 6g, Diên gia phiến 10 phiến, tán chung thành bột, mỗi lần uống 4,5g, ngày 3 lần. Nếu nhiệt tà ở kinh Thiếu dương không giải, mà lại đồng thời ở kinh Dương minh, nhiệt kết quá nhiều trong dạ dày, vì thế “Tâm hạ cấp”
(心下急) dạ dày cấp bách, “Án chi thống” (按之痛) ấn nắn đau.
Triệu chứng: Đau kịch liệt ở vùng thượng vị và bụng, đầy tức và đau ở hai bên sườn, cơ bắp căng cứng khiến người ta nóng nảy, táo bón, nước tiểu màu vàng và đỏ, chất lưỡi đỏ rêu dày màu vàng, mạch huyền hoạt có lực, v.v.
Trị pháp: Thang Đại sài hồ sơ tiết can lợi mật, thông đường tiêu hóa. Trong đơn có Sài hồ, Hoàng cầm, Bán hạ, Sinh khương hoà giải bệnh tà ở kinh Thiếu dương, gia thêm Đại hoàng, Chỉ thực để trừ nhiệt kết trong Dương minh vị gia; Lại với vị Bạch thược bình can đảm để trừ hoành nghịch của mộc khí. Chứng này do bệnh ở kinh Thiếu dương hiệp với chứng lý thực, nên không dùng Sâm Thảo vì ngại đình trệ, chỉ dùng vị Đại táo để bảo vệ dạ dày và trữ tồn tân dịch.
Lưu Đô Châu chỉ ra: Bài thuốc này không chỉ có tác dụng điều trị khí nghịch ở gan, túi mật mà còn có thể thanh nhiệt dư thừa trong ruột và dạ dày, vừa có tác dụng trị khí, vừa điều hòa máu, do đó, nước sắc Đại sài hồ có thể dùng để chữa các bệnh ngoại cảm và Nội thương, chỉ cần xuất hiện hội chứng can vị bất hoà, khí huyết bất hoà lả có thể sử dụng. Những năm gần đây thường dùng phương này gia giảm điều trị các chứng như thủng loét dạ dày cấp tính, bệnh ở hệ thống gan mật, viêm tuỵ, tâm thần phân liệt.
Phương pháp hoạt huyết hành khí giảm đau
Nếu đau dạ dày lâu ngày, máu lưu thông trong các lạc mạch không thông suốt, khí chuyển động sẽ bị cản trở, cuối cùng máu sẽ ứ trệ ở bên trong, các lạc mạch của dạ dày sẽ bị tắc nghẽn, gây đau đớn (bất thông tắc thống).
Các triệu chứng bao gồm: Đau vùng thượng vị kịch liệt, khó chịu khi ấn, đau như bị châm kim hoặc bị dao cắt, đau cố định, đau kéo dài hoặc màu phân đen, chất lưỡi tím tối hoặc có vết bầm do ứ, mạch sáp v.v.
Trị pháp: Hoạt huyết hoá ứ, lý khí giảm đau, Lưu Độ Châu thường dùng thang Ô cập để chữa trị. Thành phần: Hải phiêu tiêu 30g, Bạch cập 9g, Đương quy 9g, Xích thược 9g, Bồ hoàng sống 9g, Ngũ linh chi 9g, Bạch truật sao 9g, Hương phụ 9g. Đối với người mất máu lâu ngày, mệt mỏi ít khí lực, môi trắng lưỡi nhợt nhạt, mạch tế thì thêm Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Pháo khương và loại bỏ Ngũ linh chi; Hư và có nhiệt, lưỡi đỏ nhạt, mạch tế sác, bổ sung Sinh địa hoàng, Huyền sâm, Mẫu đan bì và khứ Ngũ Linh Chi. Lưu Độ Châu thỉnh thoảng dùng bột Tam thất để chữa bệnh: mỗi lần 30g, ngày 2 lần, có kết quả tốt. Ngoài ra, nếu do cảm xúc gây tổn thương, khí trệ và huyết kết, đau ở dạ dày (tâm hạ thống), trướng đầy và nghẹt thở, mạch trầm và lưỡi sẫm màu, Lưu Độ Châu sẽ điều trị bằng cách sử dụng thức uống Phân tâm khí ẩm để hành khí hoạt huyết giảm đau. Thành phần: Hoắc hương 9g, Tử tô 6g, Phục linh 6g, Bán hạ 6g, Bạch truật sao 6g, Cát cánh 6g, Mộc thông 6g, Mộc hương 9g, Hương phụ 9g, Mạch môn 6g, Quế 6g, Thanh bì 6g, Tang bì 6g, Binh lang 6g, Nga truật 6g .
Phương pháp sơ tiết gan và điều hòa tỳ và khí huyết
Can thuộc mộc, tỳ thuộc thổ, mộc có thể điều tiết thổ, nếu giận dữ phiền muộn làm hại gan, lo lắng tư lự làm tổn hại tạng tỳ, nếu gan không sơ tiết, tạng tỳ sẽ không thể vận hoá, gan và tỳ sẽ không hòa hợp, khí huyết mất điều hoà, lúc đó sẽ xuất hiện đau thượng vị, Lưu Đô Châu thường dùng thuốc sắc thang Sài hồ quế chi để điều trị. Trong Thương Hàn Luận, bài viết về hội chứng của bài thuốc này có đề cập đến “Tâm hạ chi kết” (心下支结), nguyên nhân là do khí ứ đọng ở kinh Thái Dương và Thiếu Dương. Bài thuốc này được tạo thành từ sự kết hợp của thang Tiểu sài hồ và thang Quế chi. Thang Quế chi dùng để điều hòa doanh vệ, tân tán (cay có tác dụng tán tà) giải cơ. Thang Tiểu sài hồ dùng để song giải hai kinh Thái dương và Thiếu dương khiến xu cơ (là bản lề là mấu chốt quan trọng) thông sướng, bên trong điều hoà can tỳ, bên ngoài là thang tễ song giải ngoại cảm biểu lý của hai kinh Thái dương và Thiếu dương, là thang thuốc tốt trị tạp bệnh bên trong chính là tác dụng điều hoà can đảm tỳ vị và khí huyết doanh vệ, vì thế phương thang này cũng chính là phương thang hàng đầu được dùng để điều trị bệnh ở tỳ vị, khi gặp bệnh chứng cần gia thêm Bạch cập, Tam thất là những vị thuốc cầm máu giảm đau để tăng cường công hiệu của thang dược
Phương pháp đồng điều hàn nhiệt điều hòa dạ dày và tiêu bĩ tắc
Nếu khí của tỳ vị bất hòa, cơ chế thăng giáng thất thường, tà khí hàn nhiệt hỗn tạp bị tắc nghẽn ở tâm hạ gây đau dạ dày. Triệu chứng đau tức đầy bụng vùng thượng vị tuy khác với hàn nhiệt hư thực, thường đa phần phân thành thuộc khí hoặc thuộc huyết, hàn nhiệt hỗn tạp và hư thực cùng tồn tại. Đặc điểm của loại hình này là dạ dày không đau hoặc đau không đáng kể, chứng trạng chủ yếu là bế tắc. Đối với những trường hợp bệnh như vậy, Lưu tiên sinh thường dùng 3 thang tả tâm để điều trị (Bán hạ, Cam thảo, Sinh khương). Trong đó thang Bán hạ tả tâm là thang Tiểu sài hồ khứ Sài hồ, Sinh khương gia Hoàng liên, Can khương mà thành, thuộc thang tễ hoà giải hàng đầu. Trong phương dùng đồng thời các vị thuốc ấm và lạnh, tân khai khổ giáng cam điều cùng điều trị bệnh (vị cay khai mở, vị đắng giáng xuống, vị ngọt điều hoà), là phương thang được lập ra để hoà giải hàn nhiệt của tỳ vị. Lưu Độ Châu đã chỉ ra rằng thang Bán hạ tả tâm đã thực sự đã mở ra được một đường nhánh mới trong điều trị tỳ vị bệnh, trên lâm sàng, đối với đơn thuần bệnh tỳ vị thuộc nhiệt hoặc hàn chứng thì thường dễ điều trị, còn đối với trường hợp tỳ vị vận hoá thất thường mà sản sinh hội chứng hàn nhiệt hỗn tạp, thăng giáng bất thường, nếu không biết phép hoà giải âm dương tỳ vị, thì luôn khiến người thày thúc thủ vô phương.
Lưu Độ Châu cho rằng phương thang này “Khổ giáng tân khai cam bổ, tán ẩm tiêu bĩ, thiện trị trung châu bất hoà” (苦降辛开甘补,散饮消痞,擅治中州不和) Vị đắng giáng xuống vị cay khai mở, vị ngọt bồi bổ, tán ẩm tiêu bế tắc, sở trường điều trị chứng trung châu bất hoà, vì thế mỗi khi ứng dụng trên lâm sàng đều thu được hiệu quả rất nhanh chóng. Thang Cam thảo tả tâm là thang Bán hạ tả tâm giảm Nhân sâm, tăng lượng Cam thảo mà thành. Phương này có tên là Cam thảo tả tâm thang, có ý nghĩa hoà hoãn khách khí thượng nghịch, bổ ích hư tổn của trung châu với vị ngọt của Đại táo để tăng lực phù hư, Bán hạ hoà vị tiêu bĩ; Hoàng cầm, Hoàng liên thanh trừ khách nhiệt, vị Can khương tiêu trừ lý hàn (trị lạnh bên trong), các tác dụng trên khiến trung khí kiện vận, hàn nhiệt tiêu tán, vị khí không còn bế tắc (bĩ), khách khí không thượng nghịch (trào ngược) mà khỏi bệnh.
Tư dưỡng vị âm
Dạ dày gọi là dương minh, sự kết hợp của hai dương (Lưỡng dương hợp minh) biểu thị sự thịnh vượng của dương khí nên vị khí có tác dụng làm chín thuỷ cốc. Khí của Dương Minh khô nên cũng giống như biểu lý của Thái Âm, vị dương tuy mạnh nhưng không hoạt động quá mức mà nhờ vào Âm của dịch cơ thể để phối hợp cương nhu, nên vị khí hạ hành (đi xuống) là thuận. Nếu vị dịch không đủ, không khống chế được dương, khiến táo khí hoành hành, vị mất hoà giáng mà thành bệnh, triệu chứng lâm sàng bao gồm: Đau vùng thượng vị, ăn không được nhiều, sau khi ăn càng đau bụng, hoặc ợ chua, khô miệng khô họng, phân khô, lưỡi đỏ ít rêu lưỡi hoặc không có rêu, mạch tế sác.
Lúc này việc điều trị nên tập trung vào tư dưỡng vị âm, Lưu Đô Châu thường xuyên sử dụng thang Ích vị. Phương dược gồm: Ngọc trúc 10g, Sinh địa hoàng 10g, Mạch đông 30g, Sa sâm 10g, Đường phèn 10g, v.v.
Lưu Độ Châu thường chữa đau dạ dày do âm hư bằng cách thêm một lượng nhỏ hoa Mai khôi và hoa Bạch mai vào phương dược bổ âm, tác dụng chủ yếu của hai vị thuốc này là giúp thuốc bổ âm không bị khó tiêu hoá (nê trệ) ở dạ dày. Sự kết hợp của hai loại thuốc này có tác dụng chữa đau bụng đầy hơi, và với hương thơm nồng nàn của hoa mai khôi, thanh thoát không nặng nề, hoà hoãn và không mãnh liệt, tốt cho gan và sảng khoái dạ dày, lưu thông khí huyết, kích hoạt tuần hoàn máu, thông nghẽn tắc, và tuyệt nhiên không cay ấm cương táo, đối với chứng viêm dạ dày loại hình âm hư, thì đây chính là điều tuyệt diệu được gọi là nhất cử lưỡng đắc (一举两得).
Ích vị hoà can
Đối với bệnh đau dạ dày loại hình can vị bất hoà với chủ yếu là can âm hư, chứng trạng lâm sàng chủ yếu là vị quản bĩ trướng hoặc đau, tức ngực sườn, ợ hơi hoặc nấc, kèm theo chán ăn, đại tiện không thoải mái hoặc phân lỏng nát, miệng họng khô, nhất là vào buổi sáng thức giấc, hoặc kèm theo sốt nhẹ, chất lưỡi hồng ráng, ít rêu lưỡi hoặc không rêu, mạch huyền tế hoặc sác. Lưu Độ Châu thường dùng thang Nhu can tư vị để điều trị bệnh.
Thành phần gồm: Sa sâm, Mạch đông, Ngọc trúc, Sinh địa hoàng, Bạch thược, Xuyên luyện tử, Phật thủ, Quất diệp, Mẫu đan bì. Toàn phương có công dụng nhu can, bổ vị, điều khí, lại có tác dụng bồi bổ tân dịch của can vị, khai thông can khí nhưng không khô khan để ảnh hưởng đến vị âm. Nếu như dạ dày nóng rát thì gia Đại thạch hộc, Hoàng tinh, Sơn dược để điều hoà khí dương nhiệt; Đau ở vị quản gia Diên hồ sách, Uất kim, Lục việt mai, Phật thủ, điều chỉnh khí huyết để trị đau; Đại tiện phân lỏng gia Mẫu lệ, trường hợp nặng gia Ô mai; Tâm phiền ngủ ít gia Dạ giao đằng, Hợp hoan bì.
Ôn trung kiện tỳ
Nếu bệnh dạ dày kéo dài, trung dương suy yếu, lạnh sinh ra từ bên trong, nên đau dạ dày liên tục, khi lạnh gặp ấm thì tản ra, khi gặp lạnh thì ngưng tụ, vì thế thích ấn nắn, thích ấm áp, đau nhiều hơn khi gặp lạnh. Trên lâm sàng thường gặp đau dạ dày liên miên, gặp lạnh đau nhiều hơn, thích ấm áp, thích ấn nắn, mệt mỏi yếu sức, miệng nhạt nhiều bọt rãi, thích ăn uống ấm nóng, ăn ít, phân lỏng, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế huyền.
Trị pháp: Ôn trung kiện tỳ, ích khí chỉ thống
Lưu gia thường dùng thang Hoàng kỳ kiến trung: Di đường 30g, Quế chi 9g, Bạch thược 18g, Sinh khương 9g, Đại táo 6 quả, Hoàng kỳ 5g, chích Cam thảo 6g. Nếu dạ dày hư hàn, có các chứng trạng như đau ở vị quản, lúc đau lúc không, đau kéo dài, ăn uống giảm hoặc không có mùi vị, hoặc tiêu hoá không tốt hoặc buồn nôn, thân thể gầy yếu, mặt trắng bệch, lưỡi mềm, mạch nhược, Lưu tiên sinh thường dùng thang Hương sa lục quân tử để điều trị. Mà đối với chứng loét dạ dày hư hàn có các chứng trạng như đau dạ dày, đau đầu, nấc, ứa nước chua, có lúc buồn bực không yên, thì dùng thang Ngô thù du có tác dụng ôn trung tán hàn, giáng nghịch hoà vị, lại trọng dụng Sinh khương một cách khéo léo để thu được hiệu quả tốt.
Ly Nguyễn Nghị dịch