Lời dẫn
Giáo sư Lưu Độ Châu là một học giả và danh y có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực nghiên cứu Thương Hàn Luận. Tư tưởng học thuật của ông lấy học thuyết Trương Trọng Cảnh làm nền tảng, đồng thời tiếp thu tinh hoa của Nội Kinh và kinh nghiệm từ các y gia đời sau.
Trong điều trị đau dạ dày, ông không chỉ căn cứ vào vị trí đau mà đặc biệt chú trọng hàn nhiệt, hư thực, khí huyết, đàm ẩm, thực tích và quan hệ giữa Can, Tỳ, Vị. Trên cơ sở đó, ông hình thành nhiều phương pháp điều trị linh hoạt, từ ôn Vị tán hàn, tiêu thực hóa thấp đến dưỡng âm, hoạt huyết và điều hòa hàn nhiệt.
Đau dạ dày trong Trung y thường thuộc phạm vi Vị quản thống (胃脘痛), Vị thống (胃痛), Bĩ mãn (痞满), Tào tạp (嘈杂), Thôn toan (吞酸) và Ẩu thổ (呕吐). Bệnh cơ căn bản là Vị khí mất hòa giáng, khí cơ trung tiêu không thông. Bất thông thì đau; Vị khí nghịch thì ợ hơi, ợ chua, buồn nôn; Tỳ mất vận hóa thì đầy trướng, ăn kém và đại tiện không điều hòa.
Chú ý
Các phương pháp dưới đây là tư liệu học thuật Trung y, không phải đơn thuốc để tự sử dụng.
Nếu đau thượng vị kèm nôn ra máu, đi ngoài phân đen, sụt cân, thiếu máu, đau bụng dữ dội, bụng cứng, nôn liên tục hoặc choáng, cần đi khám ngay.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết, công hạ hoặc ôn nhiệt mạnh khi chưa xác định nguyên nhân. Những bệnh như loét chảy máu, thủng dạ dày, tắc ruột, viêm tụy và bệnh gan mật cấp phải được chẩn đoán và xử trí theo y học hiện đại.
PHÁP THỨ NHẤT
ÔN VỊ TÁN HÀN, HÀNH KHÍ CHỈ THỐNG
Bệnh cơ
Hàn là âm tà, có tính ngưng trệ và thu dẫn. Khi ngoại hàn xâm phạm vùng thượng vị hoặc ăn nhiều thức ăn sống lạnh, hàn tà ngăn trở khí huyết, làm Vị khí không thông mà sinh đau.
Chứng trạng
Đau thượng vị khởi phát sau khi nhiễm lạnh hoặc ăn uống lạnh.
Đau co thắt hoặc đau dữ dội.
Gặp lạnh thì tăng, chườm ấm thì giảm.
Thích uống nước ấm và ăn thức ăn nóng.
Có thể buồn nôn, nôn nước trong.
Rêu lưỡi trắng, mạch huyền khẩn hoặc huyền trì.
Phép trị
Ôn Vị tán hàn, hành khí chỉ thống.
Phương thang
Lương khương chỉ thống ẩm.
Phương thang: Cao lương khương 9 g, sa nhân 6 g, sài hồ 9 g, tử tô diệp 9 g, ngô thù du 9 g, chích cam thảo 6 g.
Phân tích phương
Cao lương khương và ngô thù du ôn Vị tán hàn.
Sa nhân, tử tô diệp hành khí, hóa thấp, hòa Vị.
Sài hồ sơ đạt khí cơ.
Cam thảo điều hòa các vị thuốc và hoãn cấp chỉ thống.
Gia giảm
Nếu đau lạnh dữ dội, bụng co rút, tay chân lạnh, mạch trầm vi, có thể cân nhắc Đại kiến trung thang theo biện chứng.
Chú ý
Người đau nóng rát, miệng khô, táo bón, lưỡi đỏ hoặc rêu vàng không thuộc phạm vi của phép này.
PHÁP THỨ HAI
TIÊU THỰC ĐẠO TRỆ, THANH LỢI THẤP NHIỆT
Bệnh cơ
Thức ăn đình trệ lâu ngày làm khí cơ trung tiêu bế tắc. Thực tích uất lại có thể sinh thấp, thấp uất hóa nhiệt, khiến Vị trường mất hòa mà sinh đầy đau.
Chứng trạng
Thượng vị đầy trướng và đau.
Không thích ấn.
Ợ hơi có mùi thức ăn.
Buồn nôn hoặc nôn ra thức ăn chưa tiêu.
Nôn xong thì đau giảm.
Ăn kém.
Đại tiện bí kết hoặc tiêu chảy.
Tiểu tiện vàng.
Rêu lưỡi vàng nhớt, mạch trầm hoạt hoặc trầm hữu lực.
Phép trị
Tiêu thực đạo trệ, thanh nhiệt hóa thấp.
Phương thang
Chỉ thực đạo trệ hoàn gia giảm.
Phương thang thường gồm: Chỉ thực, đại hoàng, hoàng liên, hoàng cầm, thần khúc, phục linh, bạch truật, trạch tả.
Trẻ em thực tích
Trẻ nhỏ Tỳ Vị chưa đầy đủ, ăn uống không biết tiết chế, dễ hình thành thực tích. Biểu hiện thường là ăn kém, đầy bụng, đau thượng vị, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, phân hôi và rêu lưỡi dày nhớt.
Trong trường hợp thực tích chưa có nhiệt kết rõ, có thể dùng Bảo hòa hoàn.
Phương thang: Sơn tra 10 g, thần khúc 10 g, trần bì 6 g, liên kiều 10 g, lai phục tử 10 g, phục linh 15 g, bán hạ 10 g.
Chú ý
Không nên tiếp tục ép trẻ ăn nhiều hoặc dùng thức ăn bổ béo khi đang có thực tích.
PHÁP THỨ BA
TÁO THẤP KIỆN TỲ, HÀNH KHÍ HÒA VỊ
Bệnh cơ
Thấp có tính nặng nề, dính trệ. Khi thấp tà ngăn trở Tỳ Vị, vận hóa suy giảm, khí cơ không thông, thức ăn khó tiêu và sinh đầy đau.
Chứng trạng
Thượng vị đầy tức hoặc đau.
Ăn kém, miệng nhạt.
Buồn nôn, ợ hơi, ợ chua.
Cơ thể nặng nề, mệt mỏi, buồn ngủ.
Đại tiện phân lỏng.
Rêu lưỡi trắng dày nhớt.
Mạch hoãn hoặc nhu.
Phép trị
Táo thấp kiện Tỳ, hành khí hòa Vị.
Phương thang
Bình vị tán gia giảm.
Phương thang: Thương truật, hậu phác, trần bì, cam thảo, sinh khương, đại táo.
Phân tích phương
Thương truật táo thấp kiện Tỳ.
Hậu phác hành khí tiêu mãn.
Trần bì lý khí hóa đàm.
Cam thảo, sinh khương và đại táo điều hòa trung tiêu.
Ứng dụng
Lưu Độ Châu đặc biệt coi rêu lưỡi dày nhớt là một căn cứ quan trọng để dùng Bình vị tán.
Nếu thực tích kèm thấp nhiệt, thượng vị đầy sau ăn, cồn cào ợ chua, miệng lưỡi lở và rêu lưỡi nhớt, có thể phối hợp phương thanh nhiệt theo biện chứng.
PHÁP THỨ TƯ
HÀNH THỦY TIÊU BĨ, GIÁNG NGHỊCH CHỈ ẨU
Bệnh cơ
Tỳ Vị vận hóa không thuận khiến thủy ẩm đình tụ, đàm ẩm ngăn trở trung tiêu, làm thanh khí không thăng, trọc khí không giáng.
Chứng trạng
Thượng vị bĩ đầy và đau.
Buồn nôn, ợ hơi.
Ăn uống không ngon.
Có thể hồi hộp, chóng mặt.
Tiểu tiện không lợi.
Lưỡi nhạt, rêu trắng.
Mạch trầm huyền.
Phép trị
Hành thủy tiêu bĩ, dẫn thủy hạ hành, giáng nghịch chỉ nôn.
Phương thang
Tiểu bán hạ gia phục linh thang.
Phương thang: Bán hạ, sinh khương, phục linh.
Phân tích phương
Bán hạ hóa đàm, giáng nghịch, chỉ nôn.
Sinh khương ôn Vị, tán ẩm và hòa trung.
Phục linh kiện Tỳ, thấm thấp, dẫn thủy đi xuống.
Chú ý
Việc dùng lượng thuốc phải căn cứ thể trạng, mức độ nôn, bệnh nền và khả năng dung nạp, không nên máy móc sử dụng liều lớn.
PHÁP THỨ NĂM
SƠ CAN HÒA VỊ, HÓA ĐÀM GIÁNG NGHỊCH
Bệnh cơ
Can chủ sơ tiết, Vị lấy hòa giáng làm thuận. Can khí uất kết có thể hoành nghịch phạm Vị, đồng thời đàm thấp ngăn trở làm Vị khí nghịch lên.
Chứng trạng
Thượng vị trướng đau.
Đau lan sang hai bên sườn.
Nôn nước chua hoặc đắng.
Cồn cào khó chịu.
Buồn nôn, ợ hơi.
Đầu lưỡi hoặc hai bên lưỡi đỏ.
Rêu lưỡi trắng nhớt.
Mạch huyền hoạt.
Phép trị
Sơ Can hòa Vị, thanh nhiệt nhẹ, hóa đàm giáng nghịch.
Phương thang
Ngô liên nhị trần thang.
Phương thang: Ngô thù du 9 g, hoàng liên 9 g, xuyên luyện tử 6 g, trần bì 9 g, bán hạ 9 g, phục linh 10 g, sinh khương 9 g, hương phụ 9 g.
Phân tích phương
Hoàng liên và ngô thù du phối thành ý của Tả kim hoàn, thanh Can Vị uất nhiệt và giáng nghịch.
Xuyên luyện tử, hương phụ sơ Can lý khí.
Bán hạ, trần bì, sinh khương, phục linh hóa đàm hòa Vị.
Chú ý
Tỉ lệ hoàng liên và ngô thù du cần điều chỉnh theo mức độ hàn nhiệt. Không nên cố định hai vị ngang nhau cho mọi trường hợp.
PHÁP THỨ SÁU
SƠ CAN THANH NHIỆT, HÒA VỊ GIẢI UẤT
Bệnh cơ
Can Vị bất hòa kéo dài làm khí uất hóa nhiệt. Can hỏa phạm Vị khiến Vị khí nghịch lên, sinh nóng rát, ợ chua và đau cấp bách.
Chứng trạng
Đau nóng rát vùng thượng vị.
Cồn cào, ợ chua.
Miệng khô, miệng đắng.
Thích uống mát.
Dễ cáu giận.
Đại tiện táo.
Lưỡi đỏ, rêu vàng.
Mạch huyền hoạt hoặc huyền sác.
Phép trị
Sơ Can hòa Vị, thanh nhiệt giải uất.
Phương thang
Đan chi tiêu dao tán hợp Tả kim hoàn gia giảm.
Phương thang thường gồm: Sài hồ, bạch thược, đương quy, bạch truật, phục linh, mẫu đơn bì, chi tử, hoàng liên, ngô thù du lượng nhỏ, cam thảo.
Ợ chua nhiều
Có thể tham khảo Ô bối tán gia giảm.
Phương thang: Ô tặc cốt, chiết bối mẫu, kê nội kim, hoàng liên.
Chú ý
Đau thượng vị dữ dội, bụng cứng, sốt, nôn nhiều hoặc nghi thủng loét không được tự dùng Đại sài hồ thang. Đây là tình trạng phải khám cấp cứu trước.
PHÁP THỨ BẢY
HOẠT HUYẾT HÓA Ứ, HÀNH KHÍ CHỈ THỐNG
Bệnh cơ
Đau dạ dày kéo dài làm khí trệ nhập lạc. Khí hành không thuận thì huyết cũng không thông, huyết ứ trở ngại Vị lạc nên đau cố định và dai dẳng.
Chứng trạng
Đau thượng vị cố định.
Đau như kim châm hoặc dao cắt.
Đau tăng về đêm.
Không thích ấn.
Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ.
Mạch sáp.
Phép trị
Hoạt huyết hóa ứ, hành khí chỉ thống.
Phương thang
Ô cập thang gia giảm.
Phương thang: Ô tặc cốt 30 g, bạch cập 9 g, đương quy 9 g, xích thược 9 g, bồ hoàng 9 g, ngũ linh chi 9 g, bạch truật sao 9 g, hương phụ 9 g.
Gia giảm
Khí huyết hư sau mất máu: gia đảng sâm hoặc nhân sâm, hoàng kỳ, bạch truật, pháo khương; giảm hoặc bỏ vị hoạt huyết mạnh tùy tình trạng.
Âm hư có nhiệt: gia sinh địa hoàng, huyền sâm, mẫu đơn bì.
Chú ý
Phân đen hoặc nôn máu có thể là xuất huyết tiêu hóa. Khi có dấu hiệu này, không tự dùng ngũ linh chi, bồ hoàng, tam thất hoặc thuốc hoạt huyết.
Liều tam thất phải được tính bằng gam hợp lý theo chỉ định chuyên môn; không dùng liều rất lớn như một số bản chép cũ.
PHÁP THỨ TÁM
SƠ CAN KIỆN TỲ, ĐIỀU HÒA KHÍ HUYẾT
Bệnh cơ
Can thuộc Mộc, Tỳ thuộc Thổ. Can mất sơ tiết thì Tỳ vận hóa không thuận; Tỳ hư lại khiến khí huyết sinh hóa suy giảm. Can Tỳ bất hòa làm khí huyết và doanh vệ đều mất điều đạt.
Chứng trạng
Đau và đầy vùng thượng vị.
Tức ngực sườn.
Mệt mỏi.
Ăn kém.
Cảm xúc làm triệu chứng tăng.
Có thể đồng thời có biểu hiện ngoại cảm nhẹ hoặc khí huyết bất hòa.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, điều hòa khí huyết và doanh vệ.
Phương thang
Sài hồ quế chi thang gia giảm.
Phương thang: Sài hồ, hoàng cầm, bán hạ, nhân sâm hoặc đảng sâm, sinh khương, đại táo, quế chi, bạch thược, chích cam thảo.
Ý nghĩa phương
Đây là phương hợp giữa Tiểu sài hồ thang và Quế chi thang.
Tiểu sài hồ thang điều hòa Thiếu dương, sơ đạt Can Đởm.
Quế chi thang điều hòa doanh vệ và khí huyết.
Khi dùng trong bệnh nội thương, trọng điểm là điều hòa Can, Tỳ, Vị và khí huyết, không phải chỉ để giải ngoại cảm.
Chú ý
Không tùy tiện gia bạch cập và tam thất nếu chưa xác định có tổn thương niêm mạc hoặc nguy cơ chảy máu.
PHÁP THỨ CHÍN
ĐIỀU HÒA HÀN NHIỆT, HÒA VỊ TIÊU BĨ
Bệnh cơ
Tỳ Vị hư yếu, thăng giáng thất thường, hàn nhiệt cùng tồn tại ở trung tiêu. Hàn làm khí cơ co rút; nhiệt làm Vị khí nghịch; hai tà kết lại tạo chứng bĩ mãn.
Chứng trạng
Thượng vị bĩ đầy là chính.
Đau nhẹ hoặc không đau nhiều.
Buồn nôn, ợ hơi.
Bụng sôi.
Miệng có thể đắng nhưng bụng lại sợ lạnh.
Đại tiện không điều hòa.
Rêu lưỡi vàng trắng lẫn nhau.
Phép trị
Tân khai khổ giáng, cam ôn bổ trung, điều hòa hàn nhiệt, tiêu bĩ.
Phương thang
Bán hạ tả tâm thang gia giảm.
Phương thang: Bán hạ, hoàng cầm, hoàng liên, can khương, nhân sâm hoặc đảng sâm, đại táo, chích cam thảo.
Phân tích phương
Bán hạ và can khương tân khai, hóa ẩm và giáng nghịch.
Hoàng cầm, hoàng liên khổ giáng, thanh nhiệt.
Nhân sâm, đại táo, cam thảo bổ trung và điều hòa.
Cam thảo tả tâm thang
Thích hợp khi trung khí hư rõ, bĩ đầy, tiêu chảy, bụng sôi và niêm mạc bị tổn thương kéo dài.
Sinh khương tả tâm thang
Thích hợp khi thủy ẩm và thực trệ rõ hơn, ợ hơi có mùi thức ăn, bụng sôi và tiêu chảy.
Nói tóm lại, ba phương Tả tâm cùng lấy điều hòa hàn nhiệt và phục hồi thăng giáng trung tiêu làm trọng tâm, nhưng mỗi phương có sở trường riêng.
PHÁP THỨ MƯỜI
TƯ DƯỠNG VỊ ÂM, SINH TÂN HÒA VỊ
Bệnh cơ
Vị thuộc Dương minh, lấy giáng làm thuận, nhưng muốn giáng được phải nhờ Vị âm nhu dưỡng. Nếu Vị dịch hao tổn, táo khí tăng, Vị mất hòa giáng, niêm mạc thiếu sự nhu nhuận mà sinh đau.
Chứng trạng
Đau âm ỉ hoặc nóng nhẹ vùng thượng vị.
Ăn không nhiều.
Sau ăn có thể đau hoặc đầy hơn.
Ợ chua.
Miệng họng khô.
Đại tiện khô.
Lưỡi đỏ, ít rêu hoặc không rêu.
Mạch tế sác.
Phép trị
Tư dưỡng Vị âm, sinh tân hòa Vị.
Phương thang
Ích vị thang gia giảm.
Phương thang: Ngọc trúc 10 g, sinh địa hoàng 10 g, mạch môn đông 30 g, bắc sa sâm 10 g, đường phèn lượng thích hợp.
Gia giảm
Đầy bụng và khí trệ: gia mai khôi hoa, lục ngạc mai hoặc phật thủ.
Đau âm ỉ: gia bạch thược, diên hồ sách lượng thích hợp.
Táo bón: gia hỏa ma nhân, huyền sâm.
Ý nghĩa dùng hoa mai
Mai khôi hoa và lục ngạc mai có mùi thơm nhẹ, giúp sơ Can lý khí mà không quá cay táo, nhờ đó làm cho thuốc dưỡng âm bớt nê trệ.
PHÁP THỨ MƯỜI MỘT
NHU CAN TƯ VỊ, ĐIỀU KHÍ CHỈ THỐNG
Bệnh cơ
Can âm và Vị âm cùng hư, Can mất nhu dưỡng nên sơ tiết không điều hòa; Vị thiếu tân dịch nên không thể hòa giáng. Vì vậy vừa có khí trệ Can Vị, vừa có âm dịch bất túc.
Chứng trạng
Thượng vị bĩ trướng hoặc đau.
Ngực sườn tức.
Ợ hơi hoặc nấc.
Ăn kém.
Đại tiện không thoải mái hoặc phân nát.
Miệng họng khô, rõ vào buổi sáng.
Có thể sốt nhẹ.
Lưỡi đỏ nhạt, ít rêu hoặc không rêu.
Mạch huyền tế hoặc tế sác.
Phép trị
Nhu Can tư Vị, điều khí hòa trung.
Phương thang
Nhu can tư vị thang.
Phương thang: Bắc sa sâm, mạch môn đông, ngọc trúc, sinh địa hoàng, bạch thược, xuyên luyện tử, phật thủ, quất diệp, mẫu đơn bì.
Gia giảm
Dạ dày nóng rát: gia thạch hộc, hoàng tinh, hoài sơn dược.
Đau Vị quản: gia diên hồ sách, uất kim, lục ngạc mai.
Đại tiện phân lỏng: gia mẫu lệ; trường hợp thích hợp có thể gia ô mai.
Tâm phiền, ngủ ít: gia dạ giao đằng, hợp hoan bì.
Ý nghĩa phương
Các vị sa sâm, mạch môn đông, ngọc trúc, sinh địa và bạch thược dưỡng âm nhu Can.
Xuyên luyện tử, phật thủ, quất diệp điều khí mà không quá táo.
Mẫu đơn bì thanh hư nhiệt.
PHÁP THỨ MƯỜI HAI
ÔN TRUNG KIỆN TỲ, ÍCH KHÍ CHỈ THỐNG
Bệnh cơ
Bệnh dạ dày kéo dài làm trung dương suy yếu, hàn từ trong sinh. Hàn ngưng thì khí cơ không thông; Tỳ hư thì vận hóa và sinh hóa khí huyết suy giảm.
Chứng trạng
Đau dạ dày âm ỉ kéo dài.
Gặp lạnh đau tăng.
Thích ấm và thích xoa.
Mệt mỏi, yếu sức.
Miệng nhạt, nhiều nước bọt.
Thích ăn uống ấm nóng.
Ăn ít.
Đại tiện phân lỏng.
Lưỡi nhạt, rêu trắng.
Mạch trầm tế hoặc trầm trì.
Phép trị
Ôn trung kiện Tỳ, ích khí chỉ thống.
Phương thang
Hoàng kỳ kiến trung thang.
Phương thang: Di đường 30 g, quế chi 9 g, bạch thược 18 g, sinh khương 9 g, đại táo 6 quả, hoàng kỳ 15 g, chích cam thảo 6 g.
Chú ý về liều
Liều hoàng kỳ trong một số bản chép không thống nhất. Khi vận dụng cần căn cứ mức độ khí hư, đầy trướng và khả năng tiêu hóa, không dùng máy móc.
Hương sa lục quân tử thang
Dùng khi Tỳ Vị khí hư là chính, biểu hiện đau âm ỉ, đầy bụng, ăn kém, buồn nôn, cơ thể gầy yếu và mạch hư.
Phương thang: Đảng sâm, bạch truật, phục linh, chích cam thảo, trần bì, bán hạ, mộc hương, sa nhân, sinh khương, đại táo.
Ngô thù du thang
Dùng khi Vị hư hàn kèm trọc âm nghịch lên, biểu hiện đau thượng vị, nôn nước trong, ợ chua, đau đầu, tay chân lạnh và mạch trầm trì.
Phương thang: Ngô thù du, nhân sâm hoặc đảng sâm, sinh khương, đại táo.
NHẬN XÉT VỀ HỆ THỐNG MƯỜI HAI PHÁP
Mười hai pháp trị của Lưu Độ Châu có thể quy về một số nguyên tắc lớn.
Điều chỉnh hàn nhiệt
Hàn thì ôn, nhiệt thì thanh, hàn nhiệt cùng tồn tại thì điều hòa bằng phép tân khai khổ giáng.
Điều chỉnh thăng giáng
Vị khí lấy giáng làm thuận. Bán hạ, sinh khương, trần bì và các phương Tả tâm được sử dụng để phục hồi sự hòa giáng.
Điều chỉnh Can Tỳ Vị
Can khí uất có thể phạm Vị; Tỳ hư khiến Vị mất nguồn vận hóa; Vị bệnh kéo dài lại ảnh hưởng Can Tỳ. Vì vậy, sơ Can, kiện Tỳ và hòa Vị thường phải phối hợp.
Điều chỉnh khí huyết
Bệnh mới thường ở khí; bệnh lâu thường nhập lạc và ảnh hưởng huyết. Khi khí trệ huyết ứ thì đau cố định, nhưng phép hoạt huyết phải đặc biệt thận trọng khi có nguy cơ xuất huyết.
Điều chỉnh thủy thấp và đàm ẩm
Tỳ mất vận hóa thì thủy thấp đình tụ, đàm ẩm ngăn trở, gây đầy, nôn, hồi hộp và chóng mặt. Điều trị phải kiện Tỳ, hóa ẩm và dẫn thủy đi xuống.
Chú trọng bảo vệ Vị âm
Thuốc hành khí, ôn táo hoặc thanh nhiệt đắng lạnh dùng kéo dài đều có thể ảnh hưởng Vị âm. Vì vậy, Lưu Độ Châu thường phối hợp các vị dưỡng âm và dùng hoa thơm lý khí để tránh nê trệ.
CHÂM CỨU HỖ TRỢ
Huyệt thường dùng
Nhâm-12 Trung quản
Vị-36 Túc tam lý
Tâm bào-6 Nội quan
Tỳ-4 Công tôn
Vị-21 Lương môn
Bàng quang-20 Tỳ du
Bàng quang-21 Vị du
Can-3 Thái xung
Tỳ-6 Tam âm giao
Bàng quang-17 Cách du
Phối huyệt tham khảo
Hàn tà phạm Vị: Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải.
Can khí phạm Vị: Nhâm-12 Trung quản, Tâm bào-6 Nội quan, Can-3 Thái xung, Đởm-34 Dương lăng tuyền.
Thấp trệ: Nhâm-12 Trung quản, Tỳ-9 Âm lăng tuyền, Vị-36 Túc tam lý.
Đàm ẩm: Nhâm-12 Trung quản, Tâm bào-6 Nội quan, Phế-5 Xích trạch, Tỳ-9 Âm lăng tuyền.
Vị âm hư: Nhâm-12 Trung quản, Tâm bào-6 Nội quan, Tỳ-6 Tam âm giao, Thận-3 Thái khê.
Huyết ứ: Nhâm-12 Trung quản, Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải; không dùng khi đang chảy máu.
Cứu ngải chỉ phù hợp với thể hàn và hư hàn. Không cứu khi đau nóng rát, miệng khô, rêu vàng, sốt, nôn máu hoặc phân đen.
Nói tóm lại
Hệ thống mười hai pháp điều trị đau dạ dày của Lưu Độ Châu không phải là mười hai phương thuốc dùng cố định, mà là mười hai hướng nhận định bệnh cơ.
Khi đau do hàn thì ôn Vị tán hàn; thực tích thì tiêu thực đạo trệ; thấp trệ thì táo thấp kiện Tỳ; đàm ẩm thì hành thủy tiêu bĩ; Can Vị bất hòa thì sơ Can hòa Vị; uất nhiệt thì sơ Can thanh nhiệt; huyết ứ thì hoạt huyết thông lạc; Can Tỳ bất hòa thì đồng điều Can Tỳ; hàn nhiệt thác tạp thì dùng phép tân khai khổ giáng; Vị âm hư thì tư dưỡng Vị âm; Can Vị âm hư thì nhu Can tư Vị; trung dương suy thì ôn trung kiện Tỳ.
Giá trị căn bản của hệ thống này nằm ở việc nhìn đau dạ dày trong quan hệ toàn diện giữa hàn nhiệt, hư thực, khí huyết, đàm ẩm và Can Tỳ Vị. Khi vận dụng cần căn cứ đầy đủ vào triệu chứng, lưỡi, mạch, kết quả nội soi, H. pylori và các dấu hiệu cảnh báo, không nên chỉ thấy đau dạ dày rồi lựa chọn phương thuốc theo tên bệnh.
Trường Xuân biên soạn