Khái niệm
Trong Trung y, táo bón gọi là Tiện bí 便秘, chỉ tình trạng đại tiện bí kết không thông, khoảng cách giữa các lần đại tiện kéo dài hoặc mỗi lần đại tiện đều khó khăn, không thuận lợi.
Các y thư cổ còn dùng nhiều tên gọi khác như:
Đại tiện nan 大便难: Đại tiện khó khăn.
Hậu bất lợi 后不利: Đường đại tiện không thông lợi.
Tỳ ước 脾约: Tỳ bị ước thúc, tân dịch không phân bố đầy đủ xuống Đại trường.
Bí kết 秘结: Phân bí kết không ra.
Đại tiện táo kết 大便燥结: Phân khô kết.
Tràng kết 肠结: Cặn bã kết lại trong ruột.
Dương kết 阳结: Táo bón thiên về Nhiệt và Thực.
Âm kết 阴结: Táo bón thiên về Hàn và Hư.
Táo bón không chỉ là số lần đại tiện giảm. Có người vài ngày mới đi một lần nhưng phân mềm và không khó chịu, chưa chắc đã là bệnh. Ngược lại, người vẫn đi ngoài hằng ngày nhưng phân khô, phải rặn nhiều, có cảm giác tắc hoặc đại tiện không hết vẫn thuộc phạm vi táo bón.
Nhận thức căn bản của Trung y
Trung y cho rằng bệnh vị trực tiếp của táo bón nằm ở Đại trường, nhưng sự hình thành bệnh có liên quan mật thiết đến Tỳ, Vị, Can, Phế, Thận, khí huyết và tân dịch.
Vị chủ thụ nạp và hủ thục
Vị tiếp nhận thức ăn và làm chín nhừ thủy cốc. Vị khí lấy giáng làm thuận. Nếu Vị có tích nhiệt, khí không giáng hoặc hủ thục thất thường, phần cặn bã khó đi xuống Đại trường.
Tỳ chủ vận hóa và thăng thanh
Tỳ vận hóa thủy cốc, đưa phần tinh vi lên trên và giúp phân bố tân dịch. Nếu Tỳ khí hư, phần thanh không thăng, phần trọc không giáng, Đại trường thiếu sức truyền tống, người bệnh có thể muốn đi ngoài nhưng không đủ lực đẩy.
Tiểu trường phân biệt thanh trọc
Tiểu trường tiếp nhận thủy cốc từ Vị, phân biệt phần thanh và phần trọc. Khi chức năng này rối loạn, sự phân bố thủy dịch và hình thành phân cũng chịu ảnh hưởng.
Đại trường chủ truyền đạo
Đại trường tiếp nhận cặn bã và truyền xuống hậu môn. Khi Đại trường tích nhiệt, khí trệ, Hàn ngưng, thấp trở hoặc mất sự nhu dưỡng, chức năng truyền đạo thất thường và sinh táo bón.
Can chủ sơ tiết
Can điều đạt khí cơ. Khi Can khí uất do lo âu, tức giận hoặc tình chí không thông, khí cơ Trung tiêu và Hạ tiêu bị trở ngại, phân khó đi xuống.
Can khí uất lâu ngày có thể hóa hỏa, làm hao tân dịch và khiến phân khô hơn.
Phế chủ khí và túc giáng
Phế và Đại trường có quan hệ biểu lý. Phế khí túc giáng giúp khí cơ đi xuống và hỗ trợ Đại trường truyền đạo.
Khi Phế khí hư hoặc Phế táo, khí không giáng, Đại trường có thể mất động lực và sự nhu nhuận.
Thận chủ thủy, chủ nhị tiện
Thận chủ ngũ dịch, khai khiếu ở nhị âm và có quan hệ với cả đại tiện lẫn tiểu tiện.
Thận âm hư làm tân dịch suy giảm, Đại trường khô táo.
Thận dương hư làm Hạ tiêu thiếu ôn vận, âm hàn ngưng trệ, phân dù không quá khô vẫn khó bài xuất.
Một số luận điểm cổ điển
Y gia xưa cho rằng tân dịch đầy đủ thì đại tiện điều hòa; khi ăn uống thất thường, lao lực quá mức, ăn nhiều cay nóng hoặc uống rượu, Vị khí bị tổn thương, hỏa tà vượng và chân âm hao tổn, từ đó sinh táo kết.
Các luận điểm cổ cũng nhấn mạnh rằng táo bón có nhiều loại:
Nhiệt táo.
Phong táo.
Dương kết.
Âm kết.
Khí hư táo bón ở người cao tuổi.
Tân dịch bất túc.
Phế táo.
Tạng Hàn.
Huyết dịch khô.
Thất tình khí bế.
Đàm thấp và thực tích.
Những nhận định này cho thấy Trung y không xem táo bón là một bệnh cơ duy nhất, mà là kết quả của nhiều trạng thái Hàn, Nhiệt, Hư, Thực khác nhau.
Nguyên nhân
Ăn uống không điều độ
Ăn quá ít làm lượng cặn bã không đủ để kích thích Đại trường.
Ăn quá nhiều thức ăn tinh chế làm khẩu phần thiếu chất xơ.
Ăn nhiều cay nóng, béo ngậy và uống rượu có thể sinh Vị trường tích nhiệt, hao tân dịch.
Ăn quá nhiều đồ sống lạnh ở người Tỳ dương hư có thể làm vận hóa suy yếu, Hàn thấp ngăn trở khí cơ.
Lao lực quá độ
Lao lực làm hao khí, đặc biệt tổn thương Tỳ khí. Khí hư thì Đại trường thiếu sức truyền tống.
Làm việc quá mức còn thường đi kèm ăn uống thất thường, thiếu ngủ, uống ít nước và bỏ qua nhu cầu đại tiện.
Tình chí uất kết
Lo âu, suy nghĩ quá mức, tức giận và uất ức có thể làm Can khí uất hoặc Tỳ khí suy.
Khí uất thì phân không giáng.
Tỳ hư thì truyền tống vô lực.
Khí uất lâu ngày có thể hóa nhiệt và làm hao tân dịch.
Sau bệnh và sau sinh
Bệnh lâu ngày, sốt kéo dài, mất máu hoặc sinh nở có thể làm khí huyết, Âm dịch suy giảm.
Khí hư làm thiếu sức đẩy.
Huyết hư và Âm hư làm Đại trường mất nhu dưỡng.
Tuổi cao và thể trạng suy yếu
Người cao tuổi thường có Tỳ khí, Thận khí, khí huyết và tân dịch suy giảm. Táo bón ở nhóm này thường thuộc Hư bí hoặc Hư Thực xen lẫn.
Dùng thuốc công hạ kéo dài
Lạm dụng Đại hoàng, Phan tả diệp hoặc thuốc xổ mạnh làm hao tân dịch và tổn thương Tỳ khí. Bệnh có thể tạm thông nhưng sau đó tái phát nặng hơn.
Cơ chế bệnh lý
Bệnh cơ căn bản của táo bón là chức năng truyền đạo của Đại trường thất thường.
Có thể quy về bốn phương diện chính:
Nhiệt
Táo nhiệt uất kết, tân dịch bị tiêu hao, phân khô cứng.
Hàn
Dương khí suy hoặc Hàn tà kết ở trường vị, khí cơ ngưng trệ, truyền tống không lợi.
Hư
Khí hư không đủ sức đẩy; Huyết và Âm hư không đủ nhu dưỡng; dương hư không đủ ôn vận.
Thực
Khí trệ, thực tích, thấp trọc hoặc nhiệt kết làm phủ khí bế tắc.
Hư và Thực là hai cương lĩnh quan trọng. Trong thực tế, các thể có thể đan xen và chuyển hóa:
Nhiệt bí kéo dài làm hao Âm, từ Thực chuyển Hư.
Khí uất lâu ngày hóa hỏa, hình thành khí trệ kèm nhiệt kết.
Khí huyết hư gặp ăn uống đình trệ có thể thành Hư Thực xen lẫn.
Dương hư điều trị ôn táo quá mức có thể làm hao tân dịch và xuất hiện Âm Dương lưỡng hư.
Phân loại
Trung y hiện đại thường chia táo bón thành các thể:
Nhiệt bí.
Khí bí.
Khí hư bí.
Huyết hư bí.
Âm hư bí.
Lãnh bí hoặc dương hư bí.
Thấp trệ tiện bí.
Thực tích tiện bí.
Hư Thực xen lẫn.
NHIỆT BÍ 热秘
Khái niệm
Nhiệt bí là tình trạng táo nhiệt tích ở Vị và Đại trường, làm hao tân dịch, khiến phân khô cứng và phủ khí không thông.
Nguyên nhân
Thể chất dương thịnh.
Ăn nhiều cay nóng, béo ngậy.
Uống rượu thường xuyên.
Sau bệnh sốt hoặc bệnh nhiệt.
Khí uất lâu ngày hóa hỏa.
Triệu chứng
Phân khô cứng, thành viên nhỏ.
Đại tiện khó.
Bụng trướng đầy, ấn đau.
Miệng khô, khát.
Hơi thở hôi.
Tiểu vàng.
Mặt đỏ, người nóng.
Có thể lở miệng.
Lưỡi đỏ, rêu vàng khô.
Mạch hoạt sác hoặc sác có lực.
Chứng cơ
Táo nhiệt uất kết, tân dịch bị hao, Đại trường mất sự nhu nhuận.
Phép trị
Thanh nhiệt, nhuận tràng, thông phủ.
Phương thang
Ma tử nhân hoàn gia giảm.
Thành phần thường dùng gồm Hỏa ma nhân, Bạch thược, Chỉ thực, Hậu phác, Hạnh nhân và Đại hoàng.
Nếu tân dịch hao tổn rõ, có thể phối hợp Sinh địa hoàng, Huyền sâm, Mạch môn đông hoặc Thạch hộc.
Nếu phân quá khô, trong cổ phương có thể dùng Mang tiêu để nhuyễn kiên, nhưng đây là thuốc công hạ, không được tự dùng.
Nếu kèm trĩ chảy máu, có thể cân nhắc các vị lương huyết chỉ huyết theo biện chứng.
Chú ý
Không nên dùng thuốc khổ hàn công hạ kéo dài.
Khi phân đã thông, cần đánh giá lại, chuyển sang dưỡng âm, sinh tân hoặc điều chỉnh ăn uống nếu cần.
Không dùng Ma tử nhân hoàn cho mọi trường hợp táo bón.
Phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người cao tuổi suy yếu và người mất nước phải đặc biệt thận trọng.
KHÍ BÍ 气秘
Khái niệm
Khí bí là táo bón do khí cơ uất trệ, Đại trường mất thông giáng, cặn bã không thể đi xuống.
Nguyên nhân
Lo âu, uất ức, tức giận.
Ngồi lâu, ít vận động.
Thường xuyên nhịn đại tiện.
Thay đổi môi trường.
Sau phẫu thuật hoặc bệnh kéo dài làm khí cơ trở ngại.
Triệu chứng
Muốn đi đại tiện nhưng khó đi.
Phân có thể không quá khô.
Bụng trướng hoặc đau tức.
Ngực sườn đầy.
Ợ hơi.
Hay thở dài.
Ăn uống giảm.
Triệu chứng tăng khi căng thẳng.
Lưỡi rêu trắng mỏng hoặc hơi nhờn.
Mạch huyền.
Chứng cơ
Can khí uất hoặc khí cơ Đại trường bị trở ngại, truyền tống không thuận.
Phép trị
Sơ Can, lý khí, đạo trệ, thông tiện.
Phương thang
Lục ma thang gia giảm.
Phương cổ gồm Binh lang, Trầm hương, Mộc hương, Chỉ thực, Ô dược và Đại hoàng.
Trong thực hành hiện nay, cần thận trọng với Binh lang và Đại hoàng; không nên sử dụng theo liều cổ hoặc tự phối hợp.
Nếu khí uất hóa nhiệt, có thể phối hợp thanh nhiệt nhẹ.
Nếu tình chí uất kết rõ, có thể phối hợp Sài hồ, Bạch thược hoặc Hợp hoan bì tùy chứng.
Nếu phân không khô nhưng luôn có cảm giác tắc ở hậu môn, cần nghĩ đến rối loạn cơ sàn chậu, không nên chỉ dùng thuốc hành khí.
TUYÊN PHẾ THÔNG TIỆN 宣肺通便
Cơ sở lý luận
Phế và Đại trường tương biểu lý. Phế chủ tuyên phát và túc giáng. Khi Phế khí không giáng, khí cơ Đại trường cũng có thể mất điều hòa.
Biểu hiện gợi ý
Táo bón kèm ho hoặc khó thở.
Ngực đầy.
Phế khí không tuyên.
Miệng họng khô.
Phân khô hoặc khó đi.
Phép trị
Tuyên Phế, túc giáng, nhuận tràng.
Phương thang tham khảo
Tuyên phế thông tiện thang, thường gồm Tang bạch bì, Hạnh nhân, Cát cánh, Chỉ xác, Tiền hồ, Tô tử, Qua lâu nhân, Úc lý nhân, Lô căn và Cam thảo.
Chú ý
Pháp này chỉ phù hợp khi có chứng Phế mất tuyên giáng. Không nên sử dụng chỉ vì người bệnh vừa ho vừa táo bón.
Không nên cho rằng thông đại tiện có thể thay thế kháng sinh, hô hấp hỗ trợ hoặc điều trị tiêu chuẩn trong viêm phổi, áp xe phổi hay bệnh phổi cấp.
KHÍ HƯ BÍ 气虚秘
Khái niệm
Khí hư bí là tình trạng Đại trường thiếu sức truyền tống. Phân có thể không quá khô nhưng người bệnh không đủ lực đẩy ra.
Nguyên nhân
Lao lực quá độ.
Bệnh lâu ngày.
Tuổi cao.
Sau sinh.
Ăn uống kém.
Tỳ Phế khí hư.
Triệu chứng
Muốn đại tiện nhưng không đủ sức.
Phân không nhất thiết khô.
Rặn lâu.
Khi rặn ra mồ hôi.
Hơi thở ngắn.
Sau đại tiện mệt lả.
Sắc mặt nhợt.
Tinh thần mệt mỏi, ít nói.
Ăn kém.
Lưỡi nhạt, mềm, có thể có dấu răng.
Mạch hư hoặc nhược.
Nếu khí hư hạ hãm có thể kèm sa tức hậu môn hoặc sa trực tràng.
Chứng cơ
Tỳ khí và Phế khí hư, Đại trường truyền tống vô lực.
Phép trị
Ích khí, kiện Tỳ, nhuận tràng.
Phương thang
Hoàng kỳ thang gia giảm.
Thường dùng Hoàng kỳ, Trần bì, Hỏa ma nhân và mật ong.
Nếu khí hư rõ, có thể phối hợp Đảng sâm, Bạch truật.
Nếu khí hãm, có thể cân nhắc Bổ trung ích khí thang gia giảm.
Chú ý
Nếu phân mềm nhưng mắc ở hậu môn, cần đánh giá rối loạn tống xuất hoặc sa trực tràng.
Không nên chỉ dùng thuốc bổ khí mà bỏ qua ứ phân, thuốc gây táo bón hoặc bệnh thực thể.
HUYẾT HƯ BÍ 血虚秘
Khái niệm
Huyết hư bí là táo bón do Huyết không đủ để nhu dưỡng Đại trường.
Nguyên nhân
Mất máu.
Sau sinh.
Bệnh lâu ngày.
Dinh dưỡng kém.
Tuổi cao.
Triệu chứng
Phân khô, thành cục nhỏ.
Khó rặn.
Sắc mặt vàng nhợt.
Môi, móng và lưỡi nhạt.
Chóng mặt.
Hồi hộp.
Nhìn mờ.
Phụ nữ có thể kinh nguyệt ít.
Mạch tế hoặc tế sáp.
Chứng cơ
Huyết hư, trường đạo mất nhu dưỡng.
Phép trị
Dưỡng huyết, nhuận táo, thông tiện.
Phương thang
Nhuận trường hoàn gia giảm.
Thường dùng Đương quy, Sinh địa hoàng, Hỏa ma nhân, Đào nhân và Chỉ xác.
Nếu Huyết hư kèm Âm hư, có thể phối hợp Huyền sâm, Mạch môn đông hoặc Ngọc trúc.
Chú ý
Đào nhân có tác dụng hoạt huyết, không nên tự dùng trong thai kỳ hoặc người đang chảy máu.
Hà thủ ô có nguy cơ gây tổn thương gan, không nên dùng dài ngày hoặc liều cao tùy tiện.
ÂM HƯ BÍ 阴虚秘
Khái niệm
Âm hư bí là táo bón do Âm dịch bất túc, Đại trường khô táo và mất sự nhuận trơn.
Nguyên nhân
Tuổi cao.
Bệnh sốt kéo dài.
Mất nước.
Bệnh mạn tính.
Dùng thuốc công hạ kéo dài.
Triệu chứng
Phân rất khô.
Miệng họng khô.
Ít nước bọt.
Nóng về chiều.
Năm lòng nóng.
Ra mồ hôi trộm.
Lưng gối mỏi.
Ù tai.
Lưỡi đỏ, ít rêu hoặc không rêu.
Mạch tế sác.
Chứng cơ
Thận âm và tân dịch suy giảm, Đại trường mất nhuận.
Phép trị
Tư âm, sinh tân, nhuận tràng.
Phương thang
Tăng dịch thang gia giảm.
Có thể căn cứ chứng trạng dùng Lục vị địa hoàng hoàn phối hợp Hỏa ma nhân, Huyền sâm hoặc Ngọc trúc.
Chú ý
Không nên dùng thuốc bổ âm nặng nề khi người bệnh có bụng đầy, rêu lưỡi dày nhờn hoặc thấp trệ rõ.
LÃNH BÍ, DƯƠNG HƯ BÍ 冷秘
Khái niệm
Lãnh bí là táo bón do dương khí suy yếu, âm hàn ngưng trệ, Đại trường thiếu sức ôn vận.
Nguyên nhân
Thể chất dương hư.
Tuổi cao.
Bệnh lâu ngày.
Tỳ Thận dương suy.
Triệu chứng
Đại tiện khó.
Phân có thể khô hoặc không khô.
Bụng đau lạnh, thích ấm và xoa.
Sợ lạnh.
Tay chân lạnh.
Lưng gối lạnh và mỏi.
Tiểu trong dài.
Sắc mặt nhợt.
Lưỡi nhạt, ướt.
Rêu trắng.
Mạch trầm trì hoặc trầm nhược.
Chứng cơ
Thận dương bất túc, âm hàn kết ở trường vị, khí cơ không thông.
Phép trị
Ôn dương, nhuận tràng, thông tiện.
Phương thang
Tế xuyên tiễn gia giảm.
Thành phần thường gồm Nhục thung dung, Đương quy, Ngưu tất, Trạch tả, Thăng ma và Chỉ xác.
Nếu khí hư rõ, có thể phối hợp Hoàng kỳ.
Chú ý
Không tự dùng Bán lưu hoàn, Lưu hoàng, Phụ tử, Thảo ô hoặc Ba đậu.
Phụ tử và Thảo ô có độc tính tim mạch, thần kinh.
Lưu hoàng không phải vị thuốc thích hợp để tự uống chữa táo bón.
Nếu đau bụng dữ dội, nôn hoặc bí trung tiện, phải loại trừ tắc ruột trước khi dùng bất kỳ phương ôn hạ nào.
THẤP TRỆ TIỆN BÍ 湿滞便秘
Khái niệm
Đây là tình trạng thấp tà ngăn trở khí cơ, khiến phân có thể mềm, dính hoặc không thành khuôn nhưng vẫn khó bài xuất và có cảm giác đại tiện không hết.
Thấp nhiệt
Triệu chứng
Mót đại tiện nhưng khó đi.
Phân lúc nát, lúc táo.
Phân dính.
Bụng đầy và nặng.
Ăn kém.
Hậu môn có thể nóng rát.
Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn.
Mạch nhu sác hoặc hoạt sác.
Phép trị
Thanh nhiệt, hóa thấp, điều khí.
Hàn thấp
Triệu chứng
Phân mềm dính, khó đi hết.
Bụng trướng nặng.
Ngực đầy.
Ăn kém.
Mệt mỏi.
Có thể phù nhẹ.
Lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn.
Mạch nhu hoãn.
Phép trị
Ôn trung, hóa thấp, kiện Tỳ, điều khí.
Chú ý
Táo bón với phân không khô còn có thể do rối loạn cơ sàn chậu, sa trực tràng hoặc giảm sức tống phân. Không nên chỉ biện là thấp trệ rồi dùng thuốc táo thấp.
THỰC TÍCH TIỆN BÍ 食积便秘
Triệu chứng
Táo bón sau ăn quá nhiều.
Bụng đầy đau.
Chán ăn.
Ợ chua.
Hơi thở hôi.
Phân mùi nặng.
Rêu lưỡi dày nhờn.
Mạch hoạt hoặc thực.
Chứng cơ
Thức ăn đình trệ, Tỳ Vị mất hòa, khí cơ Đại trường không thông.
Phép trị
Tiêu thực, đạo trệ, điều khí.
Phương thang
Chỉ thực đạo trệ hoàn hoặc Bảo hòa hoàn gia giảm tùy chứng.
Chú ý
Đau bụng, nôn, bụng chướng và bí trung tiện cần loại trừ tắc ruột, không được tự dùng thuốc tiêu tích hoặc Đại hoàng.
HƯ THỰC XEN LẪN
Đây là tình trạng rất thường gặp ở người cao tuổi và người táo bón lâu năm.
Ví dụ:
Khí hư kèm phân ứ.
Huyết hư kèm táo nhiệt.
Âm hư kèm nhiệt kết.
Tỳ hư kèm thấp trệ.
Dương hư kèm Hàn thực.
Điều trị phải vừa phù chính vừa trừ tà, nhưng cần xác định bên nào là chính.
Không nên dùng công hạ quá mạnh ở người chính khí suy, cũng không nên chỉ dùng thuốc bổ khi đang có ứ phân rõ.
CÁC PHÁP ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc chung
Táo bón tuy lấy “thông” làm mục tiêu, nhưng không phải mọi trường hợp đều dùng thuốc xổ.
Nhiệt kết: Thanh nhiệt, nhuận tràng.
Khí trệ: Hành khí, đạo trệ.
Khí hư: Ích khí, kiện Tỳ.
Huyết hư: Dưỡng huyết, nhuận táo.
Âm hư: Tư âm, sinh tân.
Dương hư: Ôn dương, nhuận tràng.
Thấp trệ: Hóa thấp, điều khí.
Thực tích: Tiêu thực, đạo trệ.
Khổ hàn thông hạ
Khổ hàn thông hạ là phép dùng thuốc đắng lạnh để tả nhiệt kết ở Dương minh phủ.
Các phương cổ gồm:
Đại thừa khí thang.
Tiểu thừa khí thang.
Điều vị thừa khí thang.
Tăng dịch thừa khí thang.
Tân gia Hoàng long thang.
Chỉ định cổ điển
Đại tiện không thông.
Bụng đầy, cứng, ấn đau.
Sốt cao.
Phiền táo hoặc nói sảng.
Lưỡi rêu vàng khô hoặc đen khô.
Mạch trầm thực.
Chú ý đặc biệt
Đây là phép công hạ mạnh, không phải phương chữa táo bón thông thường.
Không được tự dùng trong:
Đau bụng chưa rõ nguyên nhân.
Nghi tắc ruột.
Viêm ruột thừa.
Viêm tụy cấp.
Sau phẫu thuật.
Thai kỳ.
Trẻ nhỏ.
Người già suy yếu.
Mất nước.
Các bệnh như tắc ruột, viêm tụy, viêm ruột thừa và đau bụng cấp cần được điều trị tại bệnh viện. Không dùng Đại thừa khí thang hoặc Đại hoàng để trì hoãn phẫu thuật và chăm sóc cấp cứu.
Ôn dương thông hạ
Pháp này phối hợp thuốc ôn nhiệt với thuốc công hạ trong chứng Hàn thực tích kết.
Các phương cổ gồm Đại hoàng phụ tử thang và Ôn tỳ thang.
Chú ý
Phụ tử, Đại hoàng và Mang tiêu đều có nguy cơ đáng kể. Pháp này chỉ thuộc phạm vi vận dụng chuyên môn, không phù hợp để tự điều trị táo bón hoặc đau bụng.
Nhuận hạ thông tiện
Pháp này dùng các vị hạt chứa dầu và thuốc dưỡng huyết, dưỡng Âm để làm nhuận trường.
Các phương thường được nhắc đến:
Nhuận trường hoàn.
Ngũ nhân hoàn.
Ma tử nhân hoàn.
Thích hợp hơn với:
Người cao tuổi.
Huyết hư.
Âm dịch bất túc.
Sau sinh.
Phân khô do trường đạo mất nhuận.
Chú ý
Các phương này vẫn có thể chứa Đại hoàng, Đào nhân, Hạnh nhân hoặc Úc lý nhân, không nên tự dùng kéo dài.
Thông hạ tả nhiệt trong bệnh cấp
Một số tài liệu cổ và nghiên cứu cũ vận dụng phép thông hạ cho viêm phổi, áp xe phổi, viêm ruột thừa và viêm tụy cấp.
Cần hiểu rằng đây là kinh nghiệm lịch sử, không phải chỉ định để tự điều trị.
Những bệnh trên có thể đe dọa tính mạng và cần:
Xét nghiệm.
Chẩn đoán hình ảnh.
Kháng sinh khi cần.
Truyền dịch.
Can thiệp nội soi hoặc phẫu thuật.
Thuốc Trung y chỉ có thể được cân nhắc phối hợp dưới sự giám sát của bác sĩ có chuyên môn.
TRUNG THÀNH DƯỢC
Nguyên tắc lựa chọn
Không nên chọn thuốc chỉ dựa vào nhãn “thông tiện” hoặc “thanh nhiệt”.
Cần căn cứ:
Phân khô hay mềm.
Có nóng, khát, tiểu vàng không.
Có mệt, thiếu sức đẩy không.
Có sợ lạnh và bụng lạnh không.
Có bụng trướng, khí uất không.
Tuổi và thai kỳ.
Bệnh gan, thận.
Thuốc đang dùng.
Các thuốc không nên tự dùng
Ma nhân nhuận tràng hoàn
Có thể chứa Đại hoàng, Hạnh nhân và các vị công hạ. Không dùng cho mọi thể táo bón và không tự dùng trong thai kỳ.
Thông u nhuận táo hoàn
Thành phần phức tạp, có nhiều vị công hạ, phá khí và hoạt huyết. Không phù hợp để người già yếu hoặc bệnh lâu ngày tự dùng.
Thông tiện linh
Có thể chứa Lô hội. Lô hội đường uống có tác dụng kích thích ruột và không thích hợp để dùng kéo dài.
Tân thanh ninh phiến
Chủ yếu chứa Đại hoàng, thiên về thanh nhiệt nhuận hạ. Không phù hợp với táo bón khí hư, Huyết hư hoặc dương hư.
Long đởm tả Can hoàn
Không phải thuốc điều trị táo bón thông thường. Chỉ dùng khi có Can Đởm thấp nhiệt rõ.
Một số công thức cũ chứa Quan mộc thông, vị có nguy cơ độc thận do acid aristolochic. Không sử dụng sản phẩm không rõ thành phần và nguồn gốc.
Ngưu hoàng giải độc phiến
Một số chế phẩm có Hùng hoàng, chứa hợp chất arsenic và có nguy cơ độc tính.
Không dùng để chữa táo bón thông thường.
Không dùng kéo dài hoặc tự mua sử dụng.
Ngưu hoàng thượng thanh hoàn
Thiên về thanh nhiệt tả hỏa, không phù hợp với người khí huyết hư hoặc dương hư.
THUỐC ĐƠN VỊ CẦN THẬN TRỌNG
Đại hoàng
Có tác dụng công hạ và kích thích ruột.
Dùng quá mức có thể gây đau quặn, tiêu chảy, mất nước và rối loạn điện giải.
Không tự hãm uống thường xuyên.
Phan tả diệp
Tác dụng kích thích đại tràng.
Không dùng kéo dài hoặc liều cao.
Thận trọng ở người cao tuổi, trẻ em, thai phụ và người có bệnh tim, thận.
Sinh Hà thủ ô
Có nguy cơ gây tổn thương gan.
Không dùng liều cao từ 30–60 g hoặc dùng lâu ngày chỉ để chữa táo bón.
Kê huyết đằng
Không phải thuốc thông tiện trực tiếp. Không nên dùng liều cao đơn độc khi chưa rõ nguyên nhân táo bón.
Thảo quyết minh
Có thể làm phân lỏng ở một số người, nhưng không phải thuốc điều trị tiêu chuẩn cho Âm hư táo bón.
Thận trọng khi người bệnh đang tiêu chảy, hạ huyết áp hoặc dùng nhiều thuốc.
Hạnh nhân đắng
Có thể chứa hợp chất sinh cyanide.
Không tự dùng trong thuốc hoặc thực liệu.
Binh lang
Có tác dụng phá khí, công tích nhưng không thích hợp dùng dài ngày.
Việc nhai hoặc dùng sản phẩm từ cau còn liên quan đến nguy cơ ung thư khoang miệng.
Ba đậu, Khiên ngưu, Cam toại
Là các vị công hạ mạnh, có độc tính và nguy cơ mất nước nghiêm trọng.
Không sử dụng tại nhà.
Phụ tử, Thảo ô
Có độc tính tim mạch và thần kinh.
Không tự dùng hoặc tự chế biến.
Hùng hoàng và Chu sa
Hùng hoàng chứa arsenic; Chu sa chứa thủy ngân.
Không dùng các chế phẩm chứa hai vị này để điều trị táo bón.
Khương lang, tức bọ hung
Là kinh nghiệm cổ không có vị trí trong tự điều trị hiện nay.
Không dùng côn trùng tán bột pha rượu để uống.
NGOẠI TRỊ
Những phương pháp cổ không nên áp dụng
Đưa Thảo ô và hành vào hậu môn.
Nhét xà phòng.
Dùng hành nhúng mật ong đưa vào trực tràng.
Đắp Ba đậu, Đại hoàng và Xạ hương lên rốn rồi hơ nóng.
Thụt thuốc sắc.
Tự lấy phân bằng tay.
Các phương pháp này có thể gây:
Bỏng hóa học.
Tổn thương niêm mạc.
Chảy máu.
Nhiễm trùng.
Rối loạn điện giải.
Ngộ độc thuốc.
Thủng trực tràng.
Khi có ứ phân, cần được nhân viên y tế đánh giá và sử dụng thuốc hoặc thủ thuật phù hợp.
ĐẠO DẪN VÀ ĐIỀU THÂN
Các y gia đời Thanh coi trọng đạo dẫn, điều thân, điều tức và dưỡng sinh.
Một số phép cổ như đặt lưỡi lên vòm miệng, súc và nuốt nước bọt có ý nghĩa giúp người tập thư giãn và tăng tiết nước bọt, nhưng không có tác dụng thay thế thuốc khi có táo bón nặng hoặc ứ phân.
Những biện pháp có giá trị thực tế hơn gồm:
Thở chậm bằng cơ hoành.
Đi bộ.
Thái cực quyền.
Khí công nhẹ.
Tạo giờ đại tiện ổn định.
Đi ngoài khi có nhu cầu.
Kê chân khi ngồi bồn cầu.
Thư giãn cơ sàn chậu.
CHÂM CỨU
Các huyệt thường dùng
Vị-25 Thiên khu: Điều hòa Đại trường.
Bàng quang-25 Đại trường du: Điều lý Đại trường.
Vị-36 Túc tam lý: Kiện Tỳ, ích khí.
Tam tiêu-6 Chi câu: Điều khí Tam tiêu, hỗ trợ thông tiện.
Thận-6 Chiếu hải: Dưỡng Âm, nhuận táo.
Tỳ-6 Tam âm giao: Kiện Tỳ, dưỡng huyết, điều Can Thận.
Nhâm-6 Khí hải: Bổ khí, điều khí Hạ tiêu.
Nhâm-4 Quan nguyên: Ôn bổ nguyên khí và Thận dương.
Bàng quang-20 Tỳ du: Kiện Tỳ.
Bàng quang-23 Thận du: Bổ Thận.
Can-3 Thái xung: Sơ Can, điều khí.
Đại trường-4 Hợp cốc: Điều lý Đại trường.
Đại trường-11 Khúc trì: Thanh nhiệt.
Phối huyệt tham khảo
Nhiệt bí
Vị-25 Thiên khu, Vị-36 Túc tam lý, Tam tiêu-6 Chi câu, Đại trường-11 Khúc trì.
Khí bí
Can-3 Thái xung, Tam tiêu-6 Chi câu, Vị-25 Thiên khu, Đởm-34 Dương lăng tuyền.
Khí hư bí
Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du, Bàng quang-25 Đại trường du.
Huyết hư và Âm hư bí
Tỳ-6 Tam âm giao, Thận-6 Chiếu hải, Vị-36 Túc tam lý, Vị-25 Thiên khu.
Dương hư bí
Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-23 Thận du, Bàng quang-25 Đại trường du; có thể phối hợp cứu khi phù hợp.
Chú ý
Châm cứu chỉ có vai trò hỗ trợ.
Không châm cứu để trì hoãn khám khi có đau bụng dữ dội, nôn, bụng chướng hoặc bí trung tiện.
Người đang dùng thuốc chống đông, có rối loạn đông máu hoặc thể trạng suy yếu cần được đánh giá trước.
THỰC LIỆU
Nguyên tắc
Thực liệu cần căn cứ thể trạng nhưng vẫn phải bảo đảm:
Đủ lượng thức ăn.
Đủ chất xơ.
Đủ nước.
Chất béo có lợi ở mức vừa phải.
Không lạm dụng đường và mật ong.
Thể táo nhiệt
Có thể dùng:
Rau xanh nấu chín.
Lê.
Kiwi.
Thanh long.
Mận.
Cháo khoai lang.
Yến mạch.
Thể khí huyết hư
Có thể dùng:
Cháo mè đen.
Đậu.
Thịt nạc.
Trứng.
Rau xanh.
Trái cây chín.
Thực phẩm giàu sắt và đạm theo nhu cầu.
Thể Tỳ khí hư
Nên dùng thức ăn nấu chín, mềm, dễ tiêu:
Cháo yến mạch.
Khoai.
Bí đỏ.
Đậu nấu nhừ.
Rau nấu chín.
Không ăn quá nhiều đồ sống lạnh.
Thể dương hư
Có thể ưu tiên thức ăn ấm, nấu chín, dễ tiêu.
Không nên dùng rượu, thịt nhiều mỡ hoặc gia vị cay nóng để “ôn dương.”
Mật ong
Có thể hỗ trợ ở một số người nhưng chứa nhiều đường.
Không dùng cho trẻ dưới một tuổi.
Người đái tháo đường cần kiểm soát lượng dùng.
LƯU Ý VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TÁO BÓN
Táo bón kéo dài có thể gây:
Trĩ.
Nứt kẽ hậu môn.
Ứ phân.
Sa trực tràng.
Đau bụng.
Chán ăn.
Rối loạn tiểu tiện.
Giảm chất lượng cuộc sống.
Rặn mạnh có thể nguy hiểm ở người mắc bệnh tim mạch hoặc mạch máu não.
Tuy nhiên, không nên cho rằng phân lưu lại sinh ra “độc tố” rồi trực tiếp gây mọi bệnh như tăng huyết áp, mỡ máu, ung thư, lão hóa hoặc sa sút trí tuệ.
Quan niệm “ruột luôn phải sạch” không có nghĩa cần thường xuyên xổ, thụt tháo hoặc thanh lọc đường ruột. Những biện pháp này có thể làm tổn thương niêm mạc, gây rối loạn điện giải và phụ thuộc thuốc.
NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ TOÀN DIỆN
Tìm nguyên nhân
Cần xem xét:
Chế độ ăn.
Lượng nước.
Mức độ vận động.
Thói quen đại tiện.
Thuốc đang dùng.
Bệnh nội tiết, thần kinh.
Bệnh đại trực tràng.
Rối loạn cơ sàn chậu.
Xử lý ứ phân
Nếu có khối phân lớn, cần làm sạch theo phác đồ phù hợp trước khi điều trị duy trì.
Không tự lấy phân hoặc thụt dung dịch không rõ thành phần.
Duy trì phân mềm
Mục tiêu là phân mềm nhưng thành khuôn, dễ đi, không phải gây tiêu chảy.
Khôi phục phản xạ đại tiện
Đi ngoài khi có nhu cầu.
Tập ngồi sau bữa ăn.
Không ngồi quá lâu.
Không sử dụng điện thoại khi đại tiện.
Kê chân để đầu gối cao hơn hông.
Vận động
Đi bộ và vận động đều đặn giúp hỗ trợ nhu động ruột, sức cơ và tinh thần.
Điều chỉnh ăn uống
Tăng chất xơ từ từ.
Uống đủ nước.
Ăn đủ lượng.
Không kiêng khem quá mức.
Không lạm dụng thuốc công hạ
Thuốc kích thích hoặc phương công hạ chỉ nên dùng đúng chỉ định, trong thời gian thích hợp.
DẤU HIỆU CẦN ĐI KHÁM
Táo bón mới xuất hiện và kéo dài.
Máu trong phân hoặc phân đen.
Sụt cân.
Thiếu máu.
Đau bụng kéo dài.
Bụng chướng, nôn hoặc bí trung tiện.
Phân nhỏ bất thường kéo dài.
Táo bón xen kẽ tiêu chảy.
Phải dùng tay hỗ trợ đại tiện.
Phụ thuộc thuốc nhuận tràng hoặc thụt tháo.
Táo bón xuất hiện ở người lớn tuổi.
Trẻ chậm tăng trưởng.
Có tiền sử gia đình ung thư đại trực tràng.
DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Đau bụng dữ dội.
Bụng cứng hoặc chướng tăng nhanh.
Nôn liên tục.
Không trung tiện được.
Sốt cao.
Choáng hoặc ngất.
Chảy máu hậu môn nhiều.
Đau ngực hoặc khó thở khi rặn.
Không nên sử dụng Đại hoàng, Mang tiêu, Phụ tử hoặc bất kỳ phương công hạ nào trong các tình trạng trên.
Nói tóm lại
Trung y xem táo bón là hậu quả của chức năng truyền đạo Đại trường bị rối loạn, nhưng bệnh có quan hệ mật thiết với Tỳ, Vị, Can, Phế, Thận, khí huyết và tân dịch.
Cơ chế bệnh có thể quy về Hàn, Nhiệt, Hư và Thực. Nhiệt bí và khí bí thường thiên về Thực; khí hư, Huyết hư, Âm hư và dương hư thiên về Hư; thấp trệ và thực tích có thể xen lẫn với nhiều thể khác.
Điều trị tuy lấy thông tiện làm mục tiêu nhưng không thể dùng một phương công hạ cho mọi trường hợp. Nhiệt bí cần thanh nhiệt nhuận tràng; khí bí cần điều khí; khí hư cần ích khí; Huyết hư cần dưỡng huyết; Âm hư cần sinh tân; dương hư cần ôn nhuận; thấp trệ cần hóa thấp; thực tích cần tiêu đạo.
Giá trị quan trọng nhất trong tư tưởng điều trị cổ là phải tìm căn nguyên và tránh lạm dụng thuốc xổ mạnh. Ba đậu, Khiên ngưu, Cam toại, Phụ tử, Thảo ô, Hùng hoàng, Chu sa và nhiều ngoại trị cổ có độc tính hoặc nguy cơ cao, không nên được sử dụng để tự điều trị.
Bên cạnh biện chứng Trung y, cần chú trọng chế độ ăn, nước uống, vận động, thói quen đại tiện và loại trừ bệnh thực thể. Khi có đau bụng dữ dội, nôn, chướng bụng, bí trung tiện, chảy máu hoặc sụt cân, phải khám y tế trước khi dùng phương dược.
Trường Xuân biên soạn