Khái quát
Táo bón là tình trạng đại tiện khó khăn, phân khô cứng, số lần đi ngoài giảm, phải rặn nhiều hoặc có cảm giác đại tiện không hết.
Theo Trung y, bệnh vị trực tiếp ở Đại trường, nhưng có quan hệ mật thiết với Tỳ, Vị, Can, Phế, Thận, khí huyết và tân dịch. Bệnh cơ có thể quy về bốn phương diện chính:
Táo nhiệt kết ở trường vị.
Khí cơ uất trệ.
Khí huyết, Âm dịch hao tổn.
Dương hư, Hàn ngưng.
Châm cứu có thể được sử dụng như một biện pháp hỗ trợ trong một số trường hợp táo bón chức năng. Tùy thể bệnh, phép trị có thể là thông phủ tả nhiệt, điều khí đạo trệ, ích khí dưỡng huyết, tư âm nhuận táo hoặc ôn dương thông tiện.
Châm cứu không thay thế việc tìm nguyên nhân. Người bệnh có đau bụng dữ dội, nôn, bụng chướng tăng, bí trung tiện, chảy máu đường tiêu hóa hoặc sụt cân phải được khám trước khi điều trị bằng châm cứu.
Cơ sở lý luận
Đại trường chủ truyền đạo
Đại trường tiếp nhận cặn bã từ Tiểu trường và truyền xuống hậu môn. Khi chức năng truyền đạo thất thường, phân lưu lại lâu, mất nước và trở nên khô cứng.
Tỳ Vị là nguồn sinh hóa
Tỳ chủ vận hóa, Vị chủ thụ nạp và lấy giáng làm thuận.
Tỳ khí hư thì Đại trường thiếu sức truyền tống.
Vị có táo nhiệt thì tân dịch hao tổn, phân khô kết.
Can chủ sơ tiết
Can điều đạt khí cơ. Khi tình chí uất kết, khí cơ Trung tiêu và Hạ tiêu không thông, phân khó đi xuống.
Phế và Đại trường tương biểu lý
Phế chủ tuyên phát và túc giáng. Phế khí không giáng có thể làm khí cơ Đại trường mất điều hòa.
Thận chủ nhị tiện
Thận âm hư làm trường đạo thiếu nhu dưỡng.
Thận dương hư làm Hạ tiêu thiếu sức ôn vận, âm hàn ngưng trệ, đại tiện khó khăn.
Tác dụng hỗ trợ của châm cứu
Châm cứu được vận dụng nhằm:
Điều hòa nhu động đường ruột.
Điều chỉnh khí cơ Đại trường.
Hỗ trợ phản xạ đại tiện.
Làm dịu căng thẳng và khí uất.
Cải thiện sự phối hợp giữa cơ bụng và cơ sàn chậu.
Hỗ trợ giảm đau bụng và đầy trướng trong táo bón chức năng.
Hiệu quả khác nhau tùy nguyên nhân. Người có ứ phân nặng, rối loạn cơ sàn chậu, bệnh thần kinh hoặc tổn thương đại trực tràng vẫn cần điều trị chuyên biệt.
NGUYÊN TẮC CHỌN HUYỆT
Huyệt tại chỗ
Vị-25 Thiên khu
Mộ huyệt của Đại trường, có tác dụng điều hòa trường vị, thông phủ, hành trệ. Đây là huyệt thường được lựa chọn trong nhiều thể táo bón.
Tỳ-15 Đại hoành
Nằm ở vùng bụng, có tác dụng điều lý Đại trường, hỗ trợ giảm đầy trướng và khó đại tiện.
Tỳ-14 Phúc kết
Tên huyệt có ý nghĩa liên quan đến tình trạng kết tụ ở bụng. Thường được dùng trong táo bón, đau bụng và khí kết.
Nhâm-6 Khí hải
Điều khí Hạ tiêu, bổ nguyên khí. Phù hợp hơn trong khí hư, dương hư hoặc khí cơ không thông.
Nhâm-4 Quan nguyên
Bổ Thận, ôn dương, điều lý Hạ tiêu. Thường dùng trong táo bón Hư Hàn.
Huyệt Bối du
Bàng quang-25 Đại trường du
Bối du huyệt của Đại trường, điều chỉnh chức năng truyền đạo và khí cơ Đại trường.
Bàng quang-20 Tỳ du
Kiện Tỳ, ích khí, hỗ trợ vận hóa.
Bàng quang-23 Thận du
Bổ Thận, điều lý nhị tiện, phù hợp với Âm hư hoặc dương hư.
Bàng quang-13 Phế du
Bổ hoặc điều Phế khí, thường dùng khi táo bón liên quan đến Phế khí hư hoặc Phế mất túc giáng.
Bàng quang-17 Cách du
Hội huyệt của Huyết, thường phối hợp trong Huyết hư táo bón.
Huyệt ở tay chân
Vị-36 Túc tam lý
Kiện Tỳ Vị, ích khí, điều hòa trường vị. Có thể dùng trong cả Hư chứng và Thực chứng tùy thủ pháp.
Vị-37 Thượng cự hư
Hạ hợp huyệt của Đại trường, thường dùng để điều chỉnh chức năng ruột và hỗ trợ thông tiện.
Tam tiêu-6 Chi câu
Kinh huyệt của Tam tiêu, có tác dụng điều khí, thông tiện; là huyệt thường dùng trong táo bón.
Thận-6 Chiếu hải
Dưỡng Thận âm, sinh tân, nhuận táo, phù hợp với Âm hư hoặc nhiệt làm hao tân dịch.
Tỳ-6 Tam âm giao
Điều hòa ba kinh âm của chân, kiện Tỳ, dưỡng huyết, bổ Can Thận.
Can-3 Thái xung
Sơ Can, lý khí, giải uất, thường dùng trong khí bí.
Vị-44 Nội đình
Thanh Vị nhiệt, tả hỏa Dương minh, phù hợp với nhiệt bí.
Đại trường-4 Hợp cốc
Điều khí, thanh nhiệt, phối hợp trong thực nhiệt Đại trường.
Đại trường-11 Khúc trì
Thanh nhiệt Dương minh, thường dùng khi nhiệt bí kèm người nóng, khát hoặc sốt.
Phế-7 Liệt khuyết
Tuyên Phế, điều Phế khí, thông Nhâm mạch; thường phối hợp với Thận-6 Chiếu hải trong chứng Phế táo, Âm dịch bất túc.
Nhâm-17 Đản trung
Hội của khí, điều khí vùng ngực, phối hợp khi khí nghịch, ngực đầy hoặc Phế khí không giáng.
Nhâm-12 Trung quản
Hòa Vị, giáng nghịch, điều khí Trung tiêu, dùng khi kèm đầy bụng, ợ hơi.
Đởm-34 Dương lăng tuyền
Sơ điều Can Đởm, hỗ trợ điều khí trong khí bí.
Đốc-20 Bách hội
Thăng dương, cử hãm, có thể phối hợp khi khí hư hạ hãm, sa trực tràng.
Đốc-1 Trường cường
Điều lý hậu môn, trực tràng, thường dùng khi có sa trực tràng hoặc rối loạn vùng hậu môn.
Bàng quang-57 Thừa sơn
Thường được dùng trong bệnh hậu môn, trĩ và táo bón, nhưng hiệu quả phụ thuộc biện chứng và phối huyệt.
CHÂM CỨU THỂ NHIỆT BÍ 热秘
Bệnh cơ
Táo nhiệt kết ở Vị và Đại trường, làm hao tân dịch, phủ khí không thông.
Triệu chứng
Phân khô cứng.
Bụng trướng, ấn đau.
Miệng khô, khát.
Hơi thở hôi.
Tiểu vàng.
Mặt đỏ hoặc người nóng.
Lưỡi đỏ, rêu vàng khô.
Mạch hoạt sác hoặc sác có lực.
Phép trị
Thông phủ, tả nhiệt, nhuận táo.
Huyệt chính
Vị-25 Thiên khu.
Bàng quang-25 Đại trường du.
Tỳ-15 Đại hoành.
Vị-44 Nội đình.
Huyệt gia giảm
Nếu nhiệt rõ hoặc có sốt: Đại trường-11 Khúc trì, Đại trường-4 Hợp cốc.
Nếu nhiệt làm hao tân dịch: Thận-6 Chiếu hải, Tỳ-6 Tam âm giao.
Nếu bụng đầy đau rõ: Vị-37 Thượng cự hư, Tam tiêu-6 Chi câu.
Nếu miệng khô, ít nước bọt: Thận-6 Chiếu hải, Phế-7 Liệt khuyết.
Thủ pháp
Các huyệt Vị-25 Thiên khu, Bàng quang-25 Đại trường du, Tỳ-15 Đại hoành, Vị-44 Nội đình, Đại trường-4 Hợp cốc và Đại trường-11 Khúc trì thường dùng phép tả hoặc bình bổ bình tả.
Thận-6 Chiếu hải và Tỳ-6 Tam âm giao có thể dùng phép bổ nhẹ khi tân dịch đã hao.
Không dùng cứu khi có thực nhiệt rõ.
Chú ý
Táo bón kèm đau bụng dữ dội, nôn hoặc bụng chướng tăng không được xem đơn giản là nhiệt bí. Cần loại trừ tắc ruột hoặc bụng cấp.
CHÂM CỨU THỂ KHÍ BÍ 气秘
Bệnh cơ
Can khí uất hoặc khí cơ Tam tiêu và Đại trường không thông, phủ khí mất thông giáng.
Triệu chứng
Muốn đại tiện nhưng khó đi.
Phân có thể không quá khô.
Bụng trướng, đau tức.
Ngực sườn đầy.
Ợ hơi.
Hay thở dài.
Triệu chứng tăng khi lo âu hoặc căng thẳng.
Lưỡi rêu mỏng.
Mạch huyền.
Phép trị
Sơ Can, thuận khí, đạo trệ, thông tiện.
Huyệt chính
Nhâm-6 Khí hải.
Vị-25 Thiên khu.
Can-3 Thái xung.
Tam tiêu-6 Chi câu.
Huyệt gia giảm
Ợ hơi, đầy thượng vị: Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý.
Ngực đầy, khí nghịch: Nhâm-17 Đản trung, Phế-7 Liệt khuyết.
Hai bên sườn đầy tức: Đởm-34 Dương lăng tuyền.
Lo âu, hồi hộp: Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn.
Phân không khô nhưng mắc ở hậu môn: Tỳ-14 Phúc kết, Vị-37 Thượng cự hư; đồng thời cần đánh giá cơ sàn chậu.
Thủ pháp
Can-3 Thái xung, Tam tiêu-6 Chi câu, Vị-25 Thiên khu và Nhâm-6 Khí hải có thể dùng bình bổ bình tả hoặc tả nhẹ.
Không nhất thiết phải kích thích mạnh. Người cao tuổi, người gầy yếu hoặc quá nhạy cảm nên dùng thủ pháp vừa phải.
Tâm bào-6 Nội quan và Tâm-7 Thần môn dùng bình bổ bình tả để điều khí, an thần.
CHÂM CỨU THỂ KHÍ HƯ BÍ 气虚秘
Bệnh cơ
Tỳ Phế khí hư, Đại trường thiếu sức truyền tống.
Triệu chứng
Có cảm giác muốn đi nhưng không đủ sức.
Phân không nhất thiết khô.
Rặn lâu, ra mồ hôi.
Hơi thở ngắn.
Sau đại tiện mệt nhiều.
Ăn kém.
Sắc mặt nhợt.
Lưỡi nhạt, có dấu răng.
Mạch hư hoặc nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ, ích khí, nhuận tràng, hỗ trợ truyền tống.
Huyệt chính
Bàng quang-13 Phế du.
Bàng quang-20 Tỳ du.
Nhâm-6 Khí hải.
Tỳ-14 Phúc kết.
Vị-25 Thiên khu.
Vị-36 Túc tam lý.
Huyệt gia giảm
Khí hư hạ hãm, sa trực tràng: Đốc-20 Bách hội, Đốc-1 Trường cường.
Ăn kém, bụng đầy: Nhâm-12 Trung quản.
Hơi thở ngắn rõ: Phế-9 Thái uyên.
Lưng gối mỏi, tiểu nhiều: Bàng quang-23 Thận du, Nhâm-4 Quan nguyên.
Thủ pháp
Bàng quang-13 Phế du, Bàng quang-20 Tỳ du, Nhâm-6 Khí hải và Vị-36 Túc tam lý dùng phép bổ.
Có thể phối hợp cứu nhẹ khi không có biểu hiện nhiệt.
Vị-25 Thiên khu và Tỳ-14 Phúc kết nên dùng bình bổ bình tả hoặc tả nhẹ, không nên kích thích quá mạnh ở người suy yếu.
Đốc-20 Bách hội và Đốc-1 Trường cường dùng phép bổ khi có khí hãm.
Chú ý
Người phân mềm nhưng không tống ra được có thể bị rối loạn cơ sàn chậu. Châm cứu không thay thế phục hồi chức năng sàn chậu hoặc phản hồi sinh học.
CHÂM CỨU THỂ HUYẾT HƯ BÍ 血虚秘
Bệnh cơ
Huyết hư làm Đại trường mất nhu dưỡng, trường đạo khô táo.
Triệu chứng
Phân khô.
Sắc mặt, môi và móng nhợt.
Chóng mặt.
Hồi hộp.
Nhìn mờ.
Mệt mỏi.
Lưỡi nhạt.
Mạch tế hoặc tế nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ sinh huyết, dưỡng huyết nhuận táo, thông tiện.
Huyệt chính
Bàng quang-20 Tỳ du.
Bàng quang-17 Cách du.
Vị-25 Thiên khu.
Tam tiêu-6 Chi câu.
Vị-36 Túc tam lý.
Thận-6 Chiếu hải.
Huyệt gia giảm
Huyết hư kèm Âm hư, miệng khô, nóng trong: Tỳ-6 Tam âm giao, Tâm bào-6 Nội quan.
Sau sinh hoặc mất máu: Nhâm-6 Khí hải, Tỳ-10 Huyết hải.
Hồi hộp, mất ngủ: Tâm-7 Thần môn.
Thủ pháp
Bàng quang-20 Tỳ du, Bàng quang-17 Cách du, Vị-36 Túc tam lý, Thận-6 Chiếu hải và Tỳ-6 Tam âm giao dùng phép bổ.
Vị-25 Thiên khu và Tam tiêu-6 Chi câu dùng bình bổ bình tả hoặc tả nhẹ để thông phủ.
Nếu có hư nhiệt, không nên cứu.
CHÂM CỨU THỂ ÂM HƯ BÍ 阴虚秘
Bệnh cơ
Âm dịch hao tổn, Đại trường mất sự nhu nhuận.
Triệu chứng
Phân rất khô.
Miệng họng khô.
Ít nước bọt.
Nóng về chiều.
Năm lòng nóng.
Ra mồ hôi trộm.
Lưng gối mỏi.
Lưỡi đỏ, ít rêu.
Mạch tế sác.
Phép trị
Tư âm, sinh tân, nhuận táo, thông tiện.
Huyệt chính
Bàng quang-25 Đại trường du.
Vị-37 Thượng cự hư.
Phế-7 Liệt khuyết.
Thận-6 Chiếu hải.
Bàng quang-57 Thừa sơn.
Huyệt gia giảm
Thận âm hư rõ: Bàng quang-23 Thận du, Tỳ-6 Tam âm giao.
Miệng họng khô: Phế-7 Liệt khuyết, Thận-6 Chiếu hải.
Nóng về chiều: Thận-3 Thái khê.
Thủ pháp
Phế-7 Liệt khuyết, Thận-6 Chiếu hải, Bàng quang-23 Thận du, Thận-3 Thái khê và Tỳ-6 Tam âm giao dùng phép bổ nhẹ.
Bàng quang-25 Đại trường du và Vị-37 Thượng cự hư dùng bình bổ bình tả hoặc tả nhẹ.
Không dùng cứu trong Âm hư nội nhiệt.
CHÂM CỨU THỂ HÀN BÍ, DƯƠNG HƯ BÍ 冷秘
Bệnh cơ
Thận dương bất túc, âm hàn ngưng trệ, Đại trường thiếu sức ôn vận.
Triệu chứng
Đại tiện khó.
Phân có thể không quá khô.
Bụng đau lạnh, thích ấm và xoa.
Sợ lạnh.
Tay chân lạnh.
Lưng gối lạnh, yếu.
Tiểu trong dài.
Lưỡi nhạt, ướt.
Mạch trầm trì hoặc trầm nhược.
Phép trị
Ôn bổ Thận dương, tán Hàn, điều khí, thông tiện.
Huyệt chính
Bàng quang-23 Thận du.
Nhâm-6 Khí hải.
Nhâm-4 Quan nguyên.
Tỳ-15 Đại hoành.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Huyệt gia giảm
Tỳ dương hư, ăn kém: Bàng quang-20 Tỳ du, Vị-36 Túc tam lý.
Bụng đau lạnh rõ: Nhâm-8 Thần khuyết dùng cứu gián tiếp, không châm.
Lưng gối mỏi lạnh: Đốc-4 Mệnh môn.
Khí hư rõ: Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý.
Thủ pháp
Bàng quang-23 Thận du, Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải và Tỳ-6 Tam âm giao dùng phép bổ.
Có thể phối hợp cứu khi không có chống chỉ định.
Tỳ-15 Đại hoành dùng bình bổ bình tả để điều khí Đại trường.
Chú ý
Không cứu khi người bệnh sốt, viêm cấp, da tổn thương, rối loạn cảm giác hoặc không thể tự báo nóng.
Người đau bụng, nôn và bí trung tiện cần loại trừ tắc ruột trước khi ôn cứu.
CHÂM CỨU TRONG THẤP TRỆ VÀ THỰC TÍCH
Thấp trệ tiện bí
Biểu hiện
Phân mềm, dính, khó đi hết.
Bụng đầy nặng.
Ăn kém.
Người mệt, nặng nề.
Lưỡi rêu dày nhờn.
Phép trị
Kiện Tỳ, hóa thấp, điều khí.
Huyệt tham khảo
Vị-25 Thiên khu.
Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ-9 Âm lăng tuyền.
Nhâm-12 Trung quản.
Bàng quang-20 Tỳ du.
Tam tiêu-6 Chi câu.
Thực tích tiện bí
Biểu hiện
Bụng đầy đau sau ăn.
Chán ăn.
Ợ chua.
Hơi thở hôi.
Rêu lưỡi dày nhờn.
Phép trị
Tiêu thực, đạo trệ, thông phủ.
Huyệt tham khảo
Nhâm-12 Trung quản.
Vị-25 Thiên khu.
Vị-36 Túc tam lý.
Vị-37 Thượng cự hư.
Nhâm-10 Hạ quản.
Tỳ-4 Công tôn.
Chú ý
Đau bụng dữ dội, nôn hoặc bí trung tiện không được tự châm để “tiêu tích”.
TẦN SUẤT VÀ THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ
Không có một số phút lưu kim hoặc mức kích thích cố định phù hợp với mọi người.
Việc quyết định cần căn cứ:
Tuổi.
Thể trạng.
Mức độ táo bón.
Thể Hư hay Thực.
Khả năng chịu kim.
Bệnh nền.
Thuốc đang dùng.
Thông thường, một liệu trình có thể gồm nhiều buổi điều trị, kết hợp đánh giá lại chế độ ăn, thuốc nhuận tràng, thói quen đại tiện và nguyên nhân thực thể.
Nếu sau một số buổi không cải thiện hoặc triệu chứng nặng hơn, cần xem xét lại chẩn đoán, không nên tiếp tục châm kéo dài một cách máy móc.
CỨU PHÁP
Cứu phù hợp hơn với:
Khí hư.
Dương hư.
Hàn bí.
Tỳ Thận hư Hàn.
Các huyệt thường được cân nhắc:
Nhâm-4 Quan nguyên.
Nhâm-6 Khí hải.
Đốc-4 Mệnh môn.
Bàng quang-20 Tỳ du.
Bàng quang-23 Thận du.
Vị-36 Túc tam lý.
Nhâm-8 Thần khuyết chỉ dùng cứu gián tiếp.
Không nên cứu trong:
Nhiệt bí.
Sốt.
Viêm cấp.
Da mất cảm giác.
Vùng da trầy loét hoặc nhiễm trùng.
Người không thể tự báo nóng.
Người có nguy cơ bỏng cao.
XOA BÓP VÀ BẤM HUYỆT
Có thể phối hợp xoa bóp nhẹ:
Xoa bụng theo chiều đi của đại tràng.
Day Vị-25 Thiên khu.
Day Vị-36 Túc tam lý.
Day Tam tiêu-6 Chi câu.
Xoa vùng thắt lưng hai bên Bàng quang-25 Đại trường du.
Hướng xoa bụng
Bắt đầu từ bụng dưới bên phải.
Đi lên vùng bụng trên bên phải.
Xoa ngang sang trái.
Đi xuống bụng dưới bên trái.
Không xoa khi:
Đau bụng dữ dội.
Bụng chướng căng.
Nôn.
Sốt.
Nghi tắc ruột.
Vừa phẫu thuật bụng.
Có thai kỳ nguy cơ cao.
THỦY CHÂM
Khái niệm
Thủy châm là phương pháp tiêm một lượng thuốc vào huyệt, kết hợp kích thích huyệt với tác dụng của thuốc.
Tài liệu cũ đề cập tiêm nước muối sinh lý, vitamin B1 hoặc nhiều loại dược chất vào các huyệt như Phế-5 Xích trạch, Vị-37 Thượng cự hư và Tâm-7 Thần môn.
Đánh giá an toàn
Thủy châm là thủ thuật xâm lấn, có nguy cơ:
Nhiễm trùng.
Chảy máu.
Tổn thương thần kinh hoặc mạch máu.
Phản ứng dị ứng.
Áp xe.
Đau kéo dài.
Sai liều hoặc sai đường tiêm.
Không có căn cứ để khẳng định tiêm thuốc vào huyệt với liều nhỏ luôn tương đương hoặc tốt hơn tiêm bắp.
Không nên tiêm kháng sinh, ATP, coenzym A hoặc dịch chiết thảo dược vào huyệt chỉ để điều trị táo bón.
Thủy châm chỉ được thực hiện tại cơ sở đủ điều kiện, bởi người có thẩm quyền, sử dụng thuốc được phê duyệt và tuân thủ vô khuẩn tuyệt đối.
Không nên tự đưa ra liều tiêm cố định cho các huyệt cổ tay hoặc cẳng tay vì nguy cơ tổn thương cấu trúc tại chỗ.
CẤY CHỈ
Khái niệm
Cấy chỉ là thủ thuật đưa vật liệu tự tiêu vào huyệt để tạo kích thích kéo dài.
Các huyệt từng được dùng gồm:
Vị-37 Thượng cự hư.
Bàng quang-25 Đại trường du.
Vị-25 Thiên khu.
Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Nguy cơ
Đau.
Chảy máu.
Nhiễm trùng.
Áp xe.
Sẹo.
Phản ứng với vật liệu cấy.
Tổn thương thần kinh hoặc cơ quan lân cận.
Cấy chỉ không phải lựa chọn đầu tiên cho táo bón thông thường. Chỉ nên cân nhắc sau khi đã xác định nguyên nhân và được thực hiện tại cơ sở có chuyên môn, vô khuẩn đầy đủ.
Không dùng chỉ catgut hoặc dụng cụ không còn phù hợp với quy chuẩn hiện hành.
LƯU KIM DƯỚI DA VÀ HOA MAI CHÂM
Lưu kim dưới da
Phương pháp để kim dưới da trong nhiều ngày làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, kim di lệch, đau và tổn thương mô.
Không nên lưu đầu kim lộ ra ngoài da rồi dán băng trong vài ngày để tự ấn tại nhà.
Có thể thay thế bằng nhĩ châm hoặc hạt dán ngoài da do người có chuyên môn hướng dẫn, nếu phù hợp.
Hoa mai châm
Hoa mai châm tạo kích thích nông trên bề mặt da bằng nhiều đầu kim nhỏ.
Trong táo bón, vùng thường được tác động gồm:
Thắt lưng.
Xương cùng.
Hai bên cột sống.
Bụng dưới.
Không được gõ đến mức chảy máu trên vùng da viêm, nhiễm trùng, giảm cảm giác hoặc ở người đang dùng thuốc chống đông.
Phương pháp này chỉ có vai trò hỗ trợ, không thay thế điều trị nguyên nhân.
ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP
Châm cứu đạt hiệu quả tốt hơn khi phối hợp với:
Ăn đủ chất xơ.
Uống đủ nước.
Vận động đều đặn.
Không nhịn đại tiện.
Tạo giờ đi ngoài sau bữa ăn.
Kê chân khi ngồi bồn cầu.
Không ngồi quá lâu.
Điều chỉnh thuốc gây táo bón dưới hướng dẫn của bác sĩ.
Dùng thuốc nhuận tràng phù hợp khi cần.
Tập phục hồi chức năng cơ sàn chậu nếu có rối loạn tống xuất.
Không nên ngừng thuốc nhuận tràng đã được kê chỉ để chuyển sang châm cứu mà chưa trao đổi với người điều trị.
NHẬN ĐỊNH VỀ “THÔNG TẮC BẤT BỆNH”
Quan điểm “thông tắc bất bệnh, bệnh tắc bất thông” nhấn mạnh vai trò của sự lưu thông khí huyết, tân dịch và chức năng bài xuất trong duy trì sức khỏe.
Ở mức độ lý luận Trung y, tư tưởng này có thể được hiểu là:
Khí cơ điều đạt thì tạng phủ phối hợp thuận lợi.
Khí huyết lưu thông thì tổ chức được nuôi dưỡng.
Đại tiểu tiện thông lợi giúp chất thải được bài xuất bình thường.
Kinh lạc thông thì chức năng cơ thể tương đối điều hòa.
Tuy nhiên, không nên diễn giải rằng mọi bệnh đều do “đường ống bị tắc”, hoặc táo bón làm độc tố lan ra toàn thân rồi trực tiếp gây mụn, béo phì, mỡ máu cao, gan nhiễm mỡ và nhiều bệnh khác.
Cơ thể đào thải chất chuyển hóa chủ yếu qua gan, thận, phổi, da và đường tiêu hóa. Táo bón ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và có thể gây biến chứng tại đường ruột, nhưng không phải bằng chứng cho thấy toàn bộ cơ thể đang bị “nhiễm độc”.
Không nên dùng khái niệm bài độc để quảng cáo hoặc khuyến khích dùng thuốc xổ kéo dài.
DẤU HIỆU KHÔNG NÊN CHÂM CỨU TRƯỚC KHI KHÁM
Đau bụng dữ dội.
Bụng cứng hoặc chướng tăng nhanh.
Nôn liên tục.
Không trung tiện được.
Sốt.
Có máu nhiều trong phân.
Phân đen.
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
Thiếu máu.
Táo bón mới xuất hiện ở người lớn tuổi.
Có khối bất thường ở bụng.
Sau phẫu thuật bụng chưa được bác sĩ cho phép.
Thai phụ có đau bụng, ra máu hoặc cơn co tử cung.
Những trường hợp trên cần được đánh giá y khoa trước khi châm cứu.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH VÀ THẬN TRỌNG
Cần thận trọng khi người bệnh:
Đang dùng thuốc chống đông.
Có rối loạn đông máu.
Suy giảm miễn dịch.
Da nhiễm trùng.
Quá suy kiệt.
Đang sốt cao.
Có bệnh tim mạch không ổn định.
Có máy tạo nhịp nếu dự định dùng điện châm.
Đang mang thai.
Không hợp tác hoặc không thể báo cảm giác đau, nóng.
Thai phụ không nên tự châm các huyệt vùng bụng, thắt lưng – cùng hoặc các huyệt có kích thích mạnh. Việc điều trị phải do người được đào tạo về châm cứu trong thai kỳ thực hiện.
Nói tóm lại
Châm cứu có thể hỗ trợ điều trị một số trường hợp táo bón chức năng thông qua điều hòa khí cơ Đại trường, hỗ trợ nhu động ruột, giảm căng thẳng và cải thiện phản xạ đại tiện.
Theo biện chứng Trung y:
Nhiệt bí dùng phép thông phủ tả nhiệt.
Khí bí dùng phép sơ Can, điều khí, đạo trệ.
Khí hư bí dùng phép kiện Tỳ, ích khí.
Huyết hư bí dùng phép dưỡng huyết, nhuận táo.
Âm hư bí dùng phép tư âm, sinh tân.
Hàn bí dùng phép ôn dương, tán Hàn, thông tiện.
Các huyệt thường dùng gồm Vị-25 Thiên khu, Bàng quang-25 Đại trường du, Vị-36 Túc tam lý, Vị-37 Thượng cự hư, Tam tiêu-6 Chi câu, Tỳ-6 Tam âm giao, Nhâm-6 Khí hải và Thận-6 Chiếu hải.
Châm cứu phải được phối hợp với ăn uống, nước, vận động và thói quen đại tiện. Thủy châm, cấy chỉ, lưu kim dưới da và các kỹ thuật xâm lấn khác có nhiều nguy cơ hơn châm cứu thông thường, không nên tự thực hiện hoặc áp dụng rộng rãi cho táo bón.
Trường Xuân biên soạn