Khái quát
Trong Trung y, viêm gan không thuộc một bệnh danh riêng biệt mà thường được xem xét trong phạm vi các chứng “Hoàng đản” 黃疸, “Hiếp thống” 脅痛, “Can trước” 肝著, “Tích tụ” 積聚, “Cổ trướng” 鼓脹 và “Hư lao” 虛勞.
Bệnh vị chủ yếu ở Can và Đởm, đồng thời có quan hệ mật thiết với Tỳ, Vị và Thận. Giai đoạn cấp thường lấy thấp nhiệt, dịch độc và khí cơ Can Đởm không thông làm trọng điểm. Bệnh kéo dài có thể xuất hiện Can uất Tỳ hư, khí trệ huyết ứ, Can Thận âm hư hoặc Tỳ Thận dương hư.
Điều trị cần căn cứ vào vàng da hay không vàng da, mức độ thấp nhiệt, hư thực, khí huyết và thể trạng người bệnh. Không nên chỉ căn cứ vào men gan tăng hoặc kết quả xét nghiệm virus để sử dụng một bài thuốc cố định.
Viêm gan cấp thể vàng da
Thấp nhiệt uẩn kết, nhiệt nặng hơn thấp
Biểu hiện
Vàng mắt và vàng da tươi, màu vàng như quả quýt chín, miệng đắng, khát, bứt rứt, buồn nôn, chán ăn, bụng đầy, đau tức hạ sườn, tiểu vàng đỏ, đại tiện bí hoặc không thông sảng, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uẩn kết Can Đởm, nhiệt tà tương đối mạnh, làm Đởm dịch tràn ra da và mắt.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, thông phủ, thoái hoàng.
Phương thang
Nhân Trần Hao Thang gia giảm.
Nhân trần, Chi tử, Đại hoàng.
Có thể phối hợp Hoàng cầm, Trạch tả, Xa tiền tử, Bạch mao căn, Uất kim và Hổ trượng tùy chứng.
Gia giảm
Buồn nôn, nôn có thể gia Bán hạ chế, Trúc nhự, Sinh khương.
Chán ăn, bụng đầy có thể gia Chỉ thực, Mạch nha, Thần khúc, Kê nội kim.
Hạ sườn đau tức có thể gia Uất kim, Phật thủ, Xuyên luyện tử.
Đại tiện không bí không nên tùy tiện tăng Đại hoàng.
Thấp nhiệt uẩn kết, thấp nặng hơn nhiệt
Biểu hiện
Vàng da không tươi, cơ thể nặng nề, mệt mỏi, ăn ít, bụng đầy, buồn nôn, miệng nhạt dính, phân lỏng hoặc sền sệt, tiểu ít, lưỡi nhạt hoặc hơi đỏ, rêu trắng dày nhớt, mạch nhu hoãn.
Bệnh cơ
Thấp trọc vây khốn Trung tiêu, Tỳ mất vận hóa, Can Đởm sơ tiết không thuận.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa thấp, lợi thủy thoái hoàng.
Phương thang
Nhân Trần Tứ Linh Tán hoặc Nhân Trần Ngũ Linh Tán gia giảm.
Nhân trần, Phục linh, Trư linh, Trạch tả, Bạch truật.
Bụng đầy có thể gia Hậu phác, Trần bì.
Ăn kém có thể gia Sơn tra, Mạch nha, Kê nội kim.
Buồn nôn có thể gia Bán hạ chế, Hoắc hương, Bội lan.
Thấp nhiệt ngang nhau
Biểu hiện
Vàng da rõ, miệng đắng, cơ thể nặng nề, ngực bụng bức bối, ăn uống kém, buồn nôn, tiểu vàng, phân không điều hòa, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp và nhiệt cùng thịnh, uẩn kết ở Trung tiêu và Can Đởm.
Phép trị
Thanh nhiệt giải độc, phương hương hóa thấp, lợi Đởm thoái hoàng.
Phương thang
Cam Lộ Tiêu Độc Đan gia giảm.
Hoạt thạch, Hoàng cầm, Nhân trần, Hoắc hương, Liên kiều, Bạch đậu khấu, Bạc hà, Phục linh.
Nôn nhiều có thể giảm Bạc hà, gia Trúc nhự, Bán hạ chế.
Tiểu tiện khó có thể gia Trạch tả, Xa tiền tử.
Bụng đầy có thể gia Chỉ xác, Đại phúc bì.
Hàn thấp trở ngại
Biểu hiện
Vàng da tối, sắc vàng xỉn, sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn ít, bụng đầy, phân lỏng, người nặng nề, tiểu ít, lưỡi nhạt to, rêu trắng trơn, mạch trầm trì.
Bệnh cơ
Tỳ dương suy yếu, hàn thấp đình lại, khí hóa không hành, Đởm dịch bị ngăn trở.
Phép trị
Ôn dương kiện Tỳ, hóa thấp thoái hoàng.
Phương thang
Nhân Trần Truật Phụ Thang gia giảm.
Nhân trần, Bạch truật, Phụ tử chế, Can khương, Phục linh, Trạch tả.
Khí hư có thể gia Đảng sâm, Hoàng kỳ.
Đau bụng do hàn có thể cân nhắc Quế chi hoặc Nhục quế.
Chú ý
Phụ tử có độc, chỉ được dùng khi hàn thấp và dương hư được xác định rõ, dưới sự theo dõi chuyên môn.
Viêm gan cấp không vàng da
Can khí uất kết
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn, ngực bụng đầy, hay thở dài, ợ hơi, ăn uống giảm, cảm xúc dễ uất ức, lưỡi rêu mỏng, mạch huyền.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, khí cơ uất trệ, ảnh hưởng Tỳ Vị.
Phép trị
Sơ Can lý khí, hòa Vị.
Phương thang
Sài Hồ Sơ Can Tán gia giảm.
Sài hồ, Chỉ xác, Bạch thược, Hương phụ, Trần bì, Xuyên khung, Uất kim, Cam thảo.
Đau nhiều có thể gia Diên hồ sách.
Buồn nôn có thể gia Bán hạ chế, Trúc nhự.
Can Tỳ bất hòa
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn, bụng đầy sau ăn, ăn ít, mệt mỏi, phân nhão, cảm xúc ảnh hưởng rõ đến tiêu hóa, lưỡi nhạt có dấu răng, mạch huyền nhược.
Bệnh cơ
Can khí uất trệ ảnh hưởng Tỳ, Tỳ khí hư không vận hóa tốt.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, dưỡng huyết hòa Trung.
Phương thang
Tiêu Dao Tán gia giảm.
Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo.
Mệt nhiều có thể gia Hoàng kỳ, Đảng sâm.
Bụng đầy có thể gia Trần bì, Hậu phác.
Ăn kém có thể gia Sơn tra, Mạch nha, Kê nội kim.
Tỳ Vị bất hòa
Biểu hiện
Ăn ít, bụng đầy, buồn nôn, đại tiện không điều hòa, mệt mỏi, sắc mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch nhu nhược.
Bệnh cơ
Tỳ Vị khí hư, thăng giáng thất thường, thấp trọc lưu lại.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị hóa thấp.
Phương thang
Hương Sa Lục Quân Tử Thang gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Trần bì, Bán hạ chế, Mộc hương, Sa nhân.
Thuốc Đông y có thể gây tổn thương gan hay không?
Trung dược có nguồn gốc tự nhiên nhưng không đồng nghĩa với hoàn toàn vô độc. Một số vị vốn có độc tính; một số vị chỉ gây hại khi dùng quá liều, kéo dài, bào chế không đúng hoặc sử dụng ở người có bệnh gan nền.
Tổn thương gan do Trung dược có thể chia thành ba dạng chính.
Tổn thương tế bào gan
Biểu hiện chủ yếu là men gan tăng, tế bào gan thoái hóa hoặc hoại tử. Người bệnh có thể mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, đau vùng gan hoặc vàng da.
Ứ mật
Biểu hiện nổi bật là vàng da, ngứa, nước tiểu sẫm, phân nhạt màu, phosphatase kiềm và γ-GT tăng.
Tổn thương hỗn hợp
Vừa có tổn thương tế bào gan, vừa có ứ mật. Men gan và các chỉ số ứ mật cùng tăng.
Một số dược liệu cần đặc biệt thận trọng gồm Hoàng dược tử, Thiên lý quang, Lôi công đằng, Khổ luyện bì, Quán chúng, Thảo ô, Chu sa, Hùng hoàng, Ngư đởm và các khoáng vật có chì hoặc arsen.
Danh sách này không bao gồm toàn bộ các vị có khả năng gây độc. Nguy cơ còn phụ thuộc vào nguồn dược liệu, cách bào chế, liều lượng, thời gian dùng và thể trạng từng người.
Nguyên tắc sử dụng Trung dược trong bệnh gan
Dùng thuốc tinh giản
Gan đang tổn thương có khả năng chuyển hóa thuốc suy giảm. Phối hợp quá nhiều toa, nhiều thành dược, thuốc sắc và thực phẩm bổ sung có thể làm tăng gánh nặng cho gan.
Phương thuốc nên có chủ dược rõ ràng, phối ngũ vừa đủ, tránh vì muốn xử lý mọi triệu chứng mà dùng quá nhiều vị.
Kiểm soát liều lượng
Liều lượng quyết định cả hiệu quả và độc tính. Không nên tự tăng liều với suy nghĩ thuốc nhiều sẽ tác dụng nhanh hơn.
Ở người có chức năng gan suy giảm, một liều vẫn được xem là thông thường ở người khỏe cũng có thể trở nên quá cao. Vì vậy, nên dùng lượng vừa phải, theo dõi đáp ứng rồi điều chỉnh.
Kiểm soát thời gian sử dụng
Thuốc thanh nhiệt, công hạ, phá khí, phá huyết và khai uất không nên dùng kéo dài.
Thuốc cay ấm dùng lâu có thể hao âm huyết; thuốc đắng lạnh dùng lâu dễ tổn thương Tỳ dương; thuốc hoạt huyết mạnh dùng lâu có thể tăng nguy cơ xuất huyết.
Khi tà giảm và bệnh cơ thay đổi, cần điều chỉnh hoặc dừng thuốc, không giữ nguyên một phương trong thời gian quá dài.
Không áp dụng máy móc việc ngắt thuốc theo số thang
Việc uống sáu thang rồi nghỉ một ngày hay giảm còn ba thang mỗi tuần chỉ là kinh nghiệm trong một số hoàn cảnh, không phải nguyên tắc chung.
Thời gian dùng thuốc và khoảng nghỉ phải căn cứ tình trạng bệnh, loại thuốc và kết quả theo dõi chức năng gan.
Biện chứng phù chính và khử tà
Người viêm gan mạn thường vừa có chính khí suy, vừa có thấp nhiệt, đàm trọc hoặc huyết ứ tồn tại. Nếu chỉ bổ mà không xét tà thực, thuốc bổ có thể làm thấp trọc nặng hơn. Nếu chỉ công tà kéo dài, chính khí càng suy.
Cần xác định rõ bên nào là chủ yếu để vận dụng phù chính, khử tà hoặc phối hợp cả hai.
Không lấy hạ men gan làm mục tiêu duy nhất
ALT và AST tăng phản ánh tế bào gan bị tổn thương, nhưng men gan giảm không đồng nghĩa virus đã được kiểm soát hoặc bệnh gan đã khỏi.
Một vị thuốc có thể làm men gan giảm tạm thời nhưng không nhất thiết cải thiện mức độ viêm, xơ hóa hoặc chức năng tổng hợp của gan.
Do đó, cần theo dõi đồng thời nguyên nhân bệnh, tải lượng virus khi có liên quan, bilirubin, albumin, đông máu, tiểu cầu, mức độ xơ hóa và hình ảnh học.
Điều hòa miễn dịch trong Trung y
Nhiều vị thuốc được nghiên cứu về ảnh hưởng đối với miễn dịch, nhưng tác dụng không hoàn toàn giống nhau ở mọi người bệnh.
Nhóm bổ khí kiện Tỳ
Hoàng kỳ, Nhân sâm, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh và Linh chi thường được dùng khi chính khí hư, mệt mỏi, ăn ít và sức chống đỡ suy giảm.
Không nên dùng thuốc bổ khí mạnh khi thấp nhiệt, bụng đầy, rêu lưỡi dày nhớt hoặc tà độc còn thịnh.
Nhóm dưỡng âm bổ Thận
Nữ trinh tử, Hoàng tinh, Thỏ ty tử, Câu kỷ tử và Tang ký sinh có thể được xem xét khi Can Thận âm hư hoặc tinh huyết suy.
Nhóm thanh nhiệt giải độc
Kim ngân hoa, Liên kiều, Bồ công anh, Tử hoa địa đinh, Bạch hoa xà thiệt thảo và Bản lam căn thường dùng khi nhiệt độc rõ.
Nhóm này phần lớn có tính hàn, không nên sử dụng kéo dài ở người Tỳ Vị hư yếu.
Nhóm hoạt huyết hóa ứ
Đan sâm, Xích thược, Uất kim, Kê huyết đằng, Đào nhân và Hồng hoa thường được cân nhắc khi đau hạ sườn cố định, sắc mặt tối, lưỡi tím và Can lạc ứ trệ.
Người giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu hoặc đang xuất huyết cần dùng thận trọng.
Ngũ vị tử trong bệnh gan
Đặc điểm
Ngũ vị tử vị chua ngọt, tính ôn, quy kinh Phế, Tâm và Thận, có công năng liễm Phế, sinh tân, bổ Thận, sáp tinh và an thần.
Trong một số kinh nghiệm lâm sàng, Ngũ vị tử được sử dụng ở người viêm gan mạn không vàng da, men gan tăng kéo dài, cơ thể mệt mỏi hoặc có biểu hiện Thận hư.
Tác dụng đối với men gan
Một số chế phẩm từ Ngũ vị tử có thể làm ALT và AST giảm. Tuy nhiên, tác dụng này có thể chỉ phản ánh sự thay đổi hoạt tính hoặc giải phóng enzym, không đồng nghĩa tổn thương gan đã được giải quyết hoàn toàn.
Ở một số người, men gan tăng trở lại sau khi ngừng thuốc. Vì vậy, không nên chỉ dựa vào việc men gan giảm để kết luận bệnh đã khỏi.
Trường hợp ít phù hợp
Ngũ vị tử không phải lựa chọn chính khi thấp nhiệt còn nặng, vàng da rõ, bụng đầy, rêu lưỡi vàng nhớt hoặc huyết ứ nổi bật.
Tính thu liễm của thuốc có thể không phù hợp khi tà khí còn thịnh và cần được thanh lợi, sơ tiết.
Tác dụng không mong muốn
Dùng bột hoặc hoàn Ngũ vị tử với lượng lớn có thể gây ợ chua, nóng rát thượng vị và khó chịu dạ dày.
Người trào ngược dạ dày – thực quản, viêm loét dạ dày hoặc tiêu hóa nhạy cảm cần thận trọng.
Nguyên tắc sử dụng
Ngũ vị tử nên được dùng trong một phương thuốc hoàn chỉnh căn cứ biện chứng, không nên dùng đơn độc chỉ để hạ men gan.
Khi dùng vẫn phải theo dõi chức năng gan và nguyên nhân căn bản của bệnh.
Những quan niệm cần tránh
Thuốc thanh nhiệt giải độc không phải thuốc diệt virus
Nhân trần, Bản lam căn, Hổ trượng hoặc Hoàng cầm có thể được dùng theo biện chứng, nhưng không thể thay thế thuốc kháng virus khi đã có chỉ định.
Men gan giảm không đồng nghĩa gan đã phục hồi
Cần đánh giá tổng thể chức năng gan và diễn tiến bệnh.
Không dùng vị chua chỉ để thay đổi môi trường acid – kiềm
Việc thêm vị thuốc chua phải căn cứ bệnh cơ. Không có cơ sở để cho rằng chỉ cần làm môi trường quanh tế bào gan “toan hơn” là có thể điều trị viêm gan.
Không tự dùng polysaccharid hoặc thuốc tiêm Trung dược
Các chế phẩm tiêm hoặc chiết xuất miễn dịch có thể gây dị ứng, nhiễm khuẩn hoặc tác dụng không mong muốn. Chỉ được sử dụng trong cơ sở y tế khi có chỉ định rõ.
Không dùng thuốc bổ gan không rõ thành phần
Một số sản phẩm được quảng cáo là bảo vệ gan có thể chứa dược liệu gây độc hoặc tương tác với thuốc đang điều trị.
Điều dưỡng
Nghỉ ngơi thích hợp
Giai đoạn cấp hoặc viêm gan mạn đang hoạt động cần nghỉ ngơi, tránh thức khuya, rượu bia và vận động quá sức.
Khi tình trạng ổn định, nên tăng dần hoạt động như đi bộ, tập thở hoặc vận động nhẹ để duy trì thể lực.
Ăn uống điều độ
Ăn đủ năng lượng và chất đạm căn cứ tình trạng dinh dưỡng và chức năng gan. Không nên kiêng khem quá mức.
Hạn chế món chiên rán, thức ăn quá nhiều dầu mỡ và thực phẩm không bảo đảm vệ sinh.
Kiêng rượu bia hoàn toàn.
Theo dõi định kỳ
Người viêm gan mạn cần theo dõi chức năng gan, tải lượng virus khi có liên quan, siêu âm gan và đánh giá xơ hóa theo hướng dẫn chuyên khoa.
Dấu hiệu cần đi khám ngay
Vàng da tăng nhanh.
Nôn nhiều hoặc không ăn uống được.
Đau hạ sườn phải dữ dội.
Nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen.
Bụng trướng nhanh, phù chân.
Ngủ gà, hành vi bất thường hoặc rối loạn ý thức.
Tiểu ít, sốt cao hoặc rét run.
Kết luận
Trung y điều trị viêm gan cần phân biệt thể có vàng da và không vàng da, xác định thấp nhiệt, hàn thấp, khí trệ, huyết ứ và tình trạng hư suy của Tỳ, Can, Thận.
Giai đoạn cấp thường chú trọng thanh nhiệt lợi thấp, giải độc thoái hoàng, sơ Can hòa Vị. Bệnh kéo dài cần xem xét kiện Tỳ, dưỡng âm, bổ Thận và hoạt huyết thông lạc.
Nói tóm lại, sử dụng Trung dược trong bệnh gan phải tinh giản, đúng liều, đúng thời gian và căn cứ biện chứng. Mục tiêu không chỉ là làm giảm men gan mà còn phải bảo vệ chức năng gan, kiểm soát nguyên nhân bệnh và hạn chế tiến triển thành xơ hóa hoặc suy gan.
Trường Xuân biên soạn