Khái niệm
Tiết tả là chứng bệnh lấy đại tiện nhiều lần, phân lỏng nát hoặc loãng như nước làm biểu hiện chủ yếu. Trong đó, “tiết” chỉ phân lỏng sền sệt, đi không quá cấp bách; “tả” chỉ đại tiện loãng nhiều nước, bài xuất mạnh như nước trút xuống.
Trong Hoàng Đế Nội Kinh, chứng này phần nhiều được gọi chung là “tiết”. Đến thời Hán – Đường thường dùng tên “hạ lợi”. Các y gia đời sau căn cứ vào nguyên nhân, vị trí bệnh, thời điểm phát bệnh và tính chất phân mà phân chia thành thấp tiết, hàn tiết, nhiệt tiết, thử tiết, thực tiết, khí tiết, vị tiết, đại trường tiết, thận tiết, thủy tả, hoạt tả và nhiều tên gọi khác.
Tiết tả chủ yếu biểu hiện bằng phân lỏng, không có mủ máu rõ rệt. Nếu đại tiện có mủ máu, đau bụng, mót rặn nặng, đi xong vẫn không dễ chịu thì cần phân biệt với chứng lỵ.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Trung y cho rằng căn nguyên của tiết tả chủ yếu không ngoài Tỳ Vị. Vị chủ thu nạp thủy cốc, Tỳ chủ vận hóa tinh vi. Vị khí lấy giáng làm thuận, Tỳ khí lấy thăng làm kiện. Khi Tỳ Vị điều hòa, thủy cốc được tiêu hóa, phần tinh vi được đưa lên nuôi dưỡng toàn thân, phần cặn bã được truyền xuống Đại trường.
Một khi Tỳ mất kiện vận, Vị mất hòa giáng, thanh trọc không phân, thủy cốc lẫn lộn mà đi xuống thì phát sinh tiết tả. Vì vậy, Tỳ hư và thấp thịnh là hai phương diện mật thiết nhất trong cơ chế bệnh sinh.
Ngoại nhân lấy thấp tà làm trọng yếu. Nội nhân lấy Tỳ hư làm căn bản. Tỳ hư không vận hóa được thủy dịch thì sinh thấp; thấp trọc đình tụ lại càng trở ngại Tỳ khí, khiến Tỳ càng hư. Hai phương diện này hỗ tương ảnh hưởng, tạo thành vòng bệnh lý kéo dài.
Trong lục dâm, phong, hàn, thử, thấp và nhiệt đều có thể gây tiết tả, nhưng thấp tà giữ vai trò nổi bật nhất.
Tỳ ưa táo mà ghét thấp. Thấp tà xâm nhập Trung tiêu sẽ ngăn trở Tỳ dương, làm chức năng vận hóa và thăng thanh suy giảm. Vì vậy, cổ nhân có câu: “Thấp thắng tắc nhu tiết” và “Vô thấp bất thành tả”.
Hàn tà thường kết hợp với thấp, làm Tỳ dương bị trở ngại, thủy cốc không hóa mà sinh phân lỏng trong. Thử nhiệt thường kiêm thấp, khiến thấp nhiệt uất kết trong Trường Vị, gây tiêu chảy vàng hôi, hậu môn nóng rát.
Ăn quá no, ăn uống thất thường, dùng nhiều thức ăn béo ngọt, sống lạnh, khó tiêu hoặc thực phẩm ôi thiu đều có thể làm tổn thương Tỳ Vị.
Khi thức ăn đình trệ ở Trung tiêu, khí cơ bị ngăn trở, chức năng truyền đạo của Đại trường rối loạn, thanh trọc lẫn lộn mà phát sinh đau bụng, đầy trướng, ợ chua và tiêu chảy.
Lo nghĩ quá độ làm tổn thương Tỳ. Uất giận khiến Can khí nghịch, khắc phạm Tỳ thổ. Kinh sợ và căng thẳng cũng có thể làm khí cơ rối loạn.
Ở người vốn Tỳ hư hoặc có thấp trệ, mỗi khi xúc động, lo âu hoặc giận dữ, chức năng vận hóa càng suy giảm, dễ xuất hiện đau bụng và tiêu chảy. Đây là cơ chế thường gặp của chứng Can khí phạm Tỳ.
Thể chất vốn yếu, ăn uống không điều độ lâu ngày, lao lực quá mức, bệnh lâu không khỏi hoặc tiêu chảy tái diễn đều có thể làm Tỳ Vị suy yếu.
Tỳ khí hư thì không thể vận hóa thủy cốc, không thăng được thanh dương, phần tinh vi không được phân bố, thủy thấp và cặn bã cùng đi xuống, gây phân lỏng, thức ăn không tiêu, mệt mỏi và ăn kém.
Nếu Tỳ dương suy, hàn thấp bên trong càng nặng, người bệnh thường đau bụng âm ỉ, thích ấm, tay chân lạnh và tiêu chảy kéo dài.
Thận dương là căn bản của dương khí toàn thân, có tác dụng ôn ấm Tỳ thổ và hỗ trợ sự vận hóa thủy cốc.
Người cao tuổi, người bệnh lâu ngày hoặc tiêu chảy kéo dài có thể làm Thận dương suy, Mệnh môn hỏa yếu, không đủ sưởi ấm Tỳ Vị. Khi đó Tỳ mất ôn vận, Đại trường mất chức năng đóng mở, phát sinh tiêu chảy vào gần sáng, gọi là ngũ canh tả.
Nếu Tỳ không vận hóa được thủy thấp, thủy ẩm có thể đình lưu trong Trường Vị, gây bụng sôi, phân nhiều nước, tiểu ít và nôn nước trong.
Tiêu chảy kéo dài còn có thể làm khí trệ, huyết ứ, tổn thương Tràng lạc. Khi đó người bệnh thường đau cố định, đau nhói, đi ngoài không hết, lưỡi sẫm hoặc có điểm ứ huyết.
Biện chứng tiết tả
Bạo tả khởi phát đột ngột, diễn biến ngắn, thường thuộc thực chứng, phần nhiều liên quan ngoại tà, thấp nhiệt hoặc thực tích.
Cửu tả khởi bệnh chậm, kéo dài, thường tái phát khi ăn uống không phù hợp, lao lực hoặc xúc động. Bệnh phần nhiều thuộc hư chứng, thường liên quan Tỳ hư, Thận hư hoặc Tỳ Thận cùng hư.
Hàn chứng thường biểu hiện phân lỏng trong, thức ăn không tiêu, bụng đau thích ấm, miệng nhạt, tay chân lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch Trì hoặc Nhu.
Nhiệt chứng thường biểu hiện phân vàng nâu, mùi hôi nặng, đại tiện gấp, hậu môn nóng rát, miệng khát, tiểu vàng, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Hoạt Sác.
Hư chứng thường kéo dài, đau bụng âm ỉ, thích xoa ấn, tinh thần mệt mỏi, ăn kém, lưỡi nhạt, mạch Nhược.
Thực chứng thường mới phát, đau bụng rõ, cự án, bụng đầy trướng, đi ngoài xong giảm đau, rêu lưỡi dày, mạch Hữu lực.
Trên lâm sàng có thể gặp hư thực xen lẫn, hàn nhiệt hỗn tạp, vì vậy cần căn cứ toàn bộ biểu hiện để biện chứng.
Bệnh nhẹ tuy đại tiện lỏng nhưng tinh thần còn tốt, ăn uống được, không khát nhiều, không có biểu hiện hao tổn tân dịch.
Bệnh nặng có thể đi ngoài liên tục, không ăn uống được, khát nhiều, mắt trũng, chân tay lạnh, mạch nhỏ yếu, thậm chí xuất hiện vong âm hoặc vong dương. Những trường hợp này cần được xử trí y tế kịp thời.
Phân biệt với các chứng bệnh khác
Tiết tả và lỵ đều có thể xuất hiện vào mùa hạ – thu, liên quan ngoại tà và ăn uống không sạch.
Tiết tả chủ yếu là phân lỏng hoặc loãng như nước, có thể đau bụng nhưng thường giảm sau khi đại tiện, không có mủ máu rõ rệt.
Lỵ biểu hiện đau bụng, mót rặn, đại tiện ra chất nhầy mủ máu, đi xong vẫn muốn đi tiếp, đau không giảm rõ.
Trong một số trường hợp, tiết tả và lỵ có thể chuyển hóa lẫn nhau.
Hoắc loạn có đặc điểm nôn và tiêu chảy đồng thời, khởi phát đột ngột, diễn biến nhanh. Người bệnh có thể đau bụng quặn, nôn thức ăn hoặc nước chua, đại tiện như nước, thậm chí có dạng nước vo gạo.
Bệnh nặng nhanh chóng làm hao tân dịch, co rút cơ, mắt trũng, tay chân lạnh, có nguy cơ vong dương. Đây là tình trạng nguy hiểm, không nên chỉ điều trị tại nhà.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ BẠO TẢ
Triệu chứng
Đại tiện lỏng trong hoặc như nước, có thể lẫn thức ăn chưa tiêu, bụng đau, ruột sôi, ngực bụng đầy tức, ăn ít, miệng nhạt. Có thể kèm sợ lạnh, phát sốt nhẹ, nghẹt mũi, đau đầu, cơ thể nặng nề. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt; mạch Nhu Hoãn hoặc Phù Hoãn.
Phép trị
Phương hương hóa thấp, giải biểu tán hàn.
Phương thang
Thang Bình vị
Thương truật sao 15 g, Hậu phác 9 g, Trần bì 9 g, Cam thảo 6 g, Sinh khương 2 lát, Đại táo 2 quả.
Phương có tác dụng táo thấp kiện Tỳ, hành khí hòa Vị, thích hợp khi hàn thấp ngăn trở Trung tiêu, bụng đầy và tiêu chảy.
Nếu thủy thấp rõ, tiểu ít, bụng sôi nhiều, có thể dùng Thang Vị linh, tức Thang Bình vị hợp Tán Ngũ linh.
Tán Ngũ linh
Quế chi 6 g, Bạch truật sao 9 g, Phục linh 9 g, Trư linh 9 g, Trạch tả 15 g.
Nếu kiêm biểu chứng phong hàn, đau đầu, sợ lạnh, ngực bụng đầy, nôn hoặc buồn nôn, dùng Tán Hoắc hương chính khí gia giảm.
Tán Hoắc hương chính khí
Hoắc hương 10 g, Bạch truật sao 10 g, Phục linh 10 g, Trần bì 10 g, Hậu phác 10 g, Đại phúc bì 10 g, Tô diệp 10 g, Bạch chỉ 10 g, Bán hạ chế 10 g.
Nếu biểu hàn rõ, gia Kinh giới 10 g, Phòng phong 10 g.
Triệu chứng
Tiêu chảy gấp, phân vàng nâu, mùi hôi, đau bụng, đi xong chưa thoải mái, hậu môn nóng rát, miệng khô khát, phiền nhiệt, tiểu ít vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt; mạch Nhu Sác hoặc Hoạt Sác.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, thăng thanh chỉ tả.
Phương thang
Thang Cát căn cầm liên
Cát căn 15 g, Hoàng cầm 9 g, Hoàng liên 9 g, Cam thảo chích 6 g.
Nếu nhiệt độc rõ, có thể gia Kim ngân hoa 10 g, Liên kiều 10 g.
Nếu thấp nặng, ngực bụng đầy, khát nhưng không muốn uống, rêu lưỡi dày nhớt, gia Phục linh 10 g, Ý dĩ nhân 15 g, Hậu phác 10 g, Xa tiền tử 10 g bọc vải sắc.
Nếu kiêm biểu nhiệt, phát sốt, đau đầu, mạch Phù, gia Bạc hà 6 g cho vào sau, Liên kiều 10 g.
Nếu kiêm thực tích, gia Sơn tra 10 g, Thần khúc 10 g, Mạch nha 10 g.
Nếu thử thấp rõ, tiêu chảy nhiều nước, người nóng, ra mồ hôi, ngực bụng bứt rứt, gia Hoắc hương 10 g, Hương nhu 10 g, Biển đậu y 10 g, Lá sen 10 g.
Triệu chứng
Đau bụng, ruột sôi, phân hôi thối như trứng ung, có lẫn thức ăn chưa tiêu, đại tiện xong giảm đau. Ngực bụng đầy trướng, ợ hơi chua, chán ăn, rêu lưỡi dày bẩn, mạch Hoạt.
Phép trị
Tiêu thực đạo trệ, hòa Vị chỉ tả.
Phương thang
Hoàn Bảo hòa
Sơn tra 10 g, Thần khúc 10 g, Lai phục tử sao 10 g, Bán hạ chế 10 g, Trần bì 10 g, Phục linh 10 g, Liên kiều 5 g.
Nếu tích trệ hóa nhiệt, bụng đầy đau, đại tiện không thoải mái, rêu vàng dày, có thể dùng Hoàn Chỉ thực đạo trệ gia giảm.
Phương này có tác dụng tiêu tích đạo trệ, thanh nhiệt lợi thấp. Tuy nhiên, thuốc có vị công hạ, chỉ thích hợp với thực chứng rõ, không dùng cho người Tỳ hư.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ CỬU TẢ
Triệu chứng
Mỗi khi lo âu, căng thẳng hoặc giận dữ thì đau bụng và tiêu chảy. Thường kèm tức ngực sườn, ợ hơi, ăn ít, bụng đầy, đại tiện lúc lỏng lúc bình thường. Lưỡi nhạt đỏ, rêu mỏng; mạch Huyền.
Phép trị
Sơ Can lý khí, kiện Tỳ chỉ tả.
Phương thang
Thống Tả yếu phương
Bạch truật sao 15 g, Bạch thược 10 g, Trần bì 8 g, Phòng phong 10 g.
Bạch truật kiện Tỳ táo thấp; Bạch thược dưỡng huyết, nhu Can, chỉ thống; Trần bì lý khí hòa Trung; Phòng phong sơ Can, thăng thanh và thắng thấp.
Nếu Can uất rõ, ngực sườn đầy tức, tâm trạng uất ức, có thể phối hợp ý pháp của Tán Tiêu dao.
Triệu chứng
Phân lỏng nát, có thức ăn chưa tiêu, bệnh lúc nặng lúc nhẹ. Ăn đồ sống lạnh, béo ngậy hoặc khó tiêu thì số lần đại tiện tăng. Kèm ăn ít, bụng đầy, sắc mặt vàng, tay chân mỏi, tinh thần mệt mỏi. Lưỡi nhạt, bệu, rêu trắng; mạch Nhược hoặc Hoãn.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, thẩm thấp chỉ tả.
Phương thang
Tán Sâm linh bạch truật
Đảng sâm 10 g, Bạch truật sao 10 g, Phục linh 10 g, Hoài sơn 10 g, Biển đậu sao 10 g, Ý dĩ nhân sao 10 g, Liên tử nhục 10 g, Sa nhân 5 g, Cát cánh 5 g, Cam thảo chích 6 g, Đại táo 5 quả.
Nếu Tỳ dương hư, bụng lạnh đau, thích ấm, tay chân lạnh, có thể dùng Hoàn Phụ tử lý trung gia giảm.
Phương thang
Đảng sâm 10 g, Bạch truật sao 10 g, Pháo khương 5 g, Cam thảo chích 6 g, Phụ tử chế 10 g sắc trước, Ngô thù du 3 g, Nhục quế 3 g cho vào sau.
Phụ tử là vị thuốc có độc, chỉ sử dụng sau khi bào chế đúng quy cách và dưới sự hướng dẫn chuyên môn.
Nếu tiêu chảy lâu ngày, trung khí hạ hãm, sa trực tràng, mệt mỏi rõ, có thể dùng Thang Bổ trung ích khí.
Thang Bổ trung ích khí
Hoàng kỳ 20 g, Đảng sâm 15–20 g, Bạch truật sao 10 g, Đương quy 10 g, Trần bì 6 g, Thăng ma 3 g, Sài hồ 3 g, Cam thảo chích 5 g.
Triệu chứng
Tiêu chảy thường phát vào gần sáng. Trước khi đại tiện bụng đau, ruột sôi, đi xong thì giảm. Kèm sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng gối mỏi yếu, tiểu trong dài, tinh thần mệt. Lưỡi nhạt, rêu trắng; mạch Trầm Tế hoặc Trầm Trì.
Phép trị
Ôn Thận kiện Tỳ, sáp tràng chỉ tả.
Phương thang
Hoàn Tứ thần
Bổ cốt chi 10 g, Nhục đậu khấu sao 6 g, Ngô thù du 3 g, Ngũ vị tử 6 g.
Nếu hàn thịnh rõ, có thể gia Phụ tử chế 10 g sắc trước và Pháo khương than 5 g.
Nếu người cao tuổi, khí hư rõ, có thể gia Hoàng kỳ 10–15 g, Đảng sâm 10–15 g, Bạch truật sao 10 g.
Nếu tiêu chảy lâu ngày, Đại trường mất chức năng cố sáp, có thể phối hợp ý pháp của Thang Đào hoa.
Thang Đào hoa
Xích thạch chi 30 g, Can khương 9 g, Cánh mễ 30 g.
Triệu chứng
Bụng sôi ùng ục, phân lỏng nhiều nước hoặc có bọt, cơ thể gầy, bụng đầy, có thể nôn nước trong, tiểu ít. Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn; mạch Nhu Hoạt.
Phép trị
Ôn dương hóa ẩm, kiện Tỳ lợi thủy.
Phương thang
Thang Linh quế truật cam hợp Hoàn Kỷ tiêu lịch hoàng gia giảm.
Phục linh 12 g, Bạch truật sao 9 g, Quế chi 9 g, Cam thảo chích 6 g, Phòng kỷ 8 g, Đình lịch tử 8 g, Đại hoàng 3–6 g cho vào sau, Tiêu mục 5 g.
Đại hoàng trong phương chỉ dùng khi thủy ẩm và tích trệ thuộc thực chứng. Người Tỳ hư rõ hoặc cơ thể suy yếu cần thận trọng.
Triệu chứng
Tiêu chảy kéo dài, đại tiện xong vẫn cảm giác chưa hết, đau bụng cố định hoặc đau nhói, ấn đau tăng. Sắc mặt tối, miệng khô nhưng không muốn uống. Lưỡi đỏ sẫm hoặc có điểm ứ huyết; mạch Huyền Sáp.
Phép trị
Hoạt huyết hóa ứ, thông lạc chỉ thống.
Phương thang
Thang Thiếu phúc trục ứ gia giảm
Bồ hoàng 9 g bọc vải, Ngũ linh chi 6 g, Đương quy 9 g, Xuyên khung 6 g, Diên hồ sách 6 g, Quế tâm 3 g, Tiểu hồi hương 6 g, Can khương 3 g, Một dược 5 g.
Nếu đại tiện có mủ máu, sốt hoặc đau mót rặn rõ thì cần phân biệt chứng lỵ, không nên tiếp tục xem là tiết tả thông thường.
KINH HÀNH TIẾT TẢ
Khái niệm
Kinh hành tiết tả là tình trạng phụ nữ cứ đến trước kỳ kinh, trong kỳ kinh hoặc đúng thời điểm hành kinh thì đại tiện lỏng nhiều lần. Trường hợp vốn có tiêu chảy mạn tính nhưng đến kỳ kinh bệnh nặng hơn cũng có thể thuộc phạm vi này.
Nếu chỉ thỉnh thoảng do ăn uống không phù hợp hoặc cảm lạnh trong kỳ kinh mà tiêu chảy thì không nhất thiết xếp vào kinh hành tiết tả.
Cơ chế bệnh sinh
Bệnh chủ yếu liên quan Tỳ hư và Thận hư.
Tỳ chủ vận hóa. Đến kỳ kinh, khí huyết dồn xuống Xung Nhâm, Tỳ khí tương đối suy, thủy thấp dễ theo xuống mà gây tiêu chảy.
Thận là gốc của tiên thiên, chủ nhị tiện. Nếu Thận khí hư hoặc Thận dương suy, đến kỳ kinh khí huyết hao động, chức năng ôn ấm và cố nhiếp càng giảm, dẫn đến đại tiện lỏng.
Triệu chứng
Trước hoặc trong kỳ kinh xuất hiện phân lỏng, bụng đầy, ăn ít, mệt mỏi, mặt hơi phù. Kinh lượng có thể nhiều, màu nhạt, chất loãng. Lưỡi nhạt, rêu trắng; mạch Nhu Hoãn.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa thấp điều kinh.
Phương thang
Tán Sâm linh bạch truật
Đảng sâm 10 g, Bạch truật sao 10 g, Phục linh 10 g, Hoài sơn 10 g, Biển đậu sao 10 g, Ý dĩ nhân sao 10 g, Liên tử nhục 10 g, Sa nhân 5 g, Cát cánh 5 g, Cam thảo chích 6 g.
Nếu đau bụng và tiêu chảy tăng khi căng thẳng, tức hông sườn, dùng Thống Tả yếu phương gia giảm.
Triệu chứng
Đến kỳ kinh hoặc sau khi sạch kinh thì tiêu chảy, có thể đi vào gần sáng. Kèm đau lưng mỏi gối, sợ lạnh, tay chân lạnh, kinh sắc nhạt, chất loãng. Lưỡi nhạt, rêu trắng; mạch Trầm Trì.
Phép trị
Ôn Thận phù Tỳ, ấm thổ cố tràng.
Phương thang
Thang Kiện cố hợp Hoàn Tứ thần gia giảm
Đảng sâm 20 g, Bạch truật sao 15 g, Phục linh 15 g, Ý dĩ nhân sao 10 g, Ba kích thiên 8 g, Bổ cốt chi 12 g, Ngô thù du 3 g, Nhục đậu khấu sao 6 g, Ngũ vị tử 6 g.
GIÁC HƠI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ TIẾT TẢ
Giác hơi tạo áp lực âm tại vùng da và huyệt vị, giúp ôn thông kinh lạc, điều hòa khí huyết và hỗ trợ chức năng Tỳ Vị.
Phương pháp này thích hợp hơn với tiết tả do hàn thấp hoặc Tỳ Vị hư hàn. Không nên dùng đơn độc trong tiêu chảy cấp nặng, mất nước, sốt cao, phân có máu hoặc đau bụng chưa rõ nguyên nhân.
Người bệnh nằm ngửa. Có thể giác nhẹ quanh vùng rốn, bao gồm Nhâm-8 Thần khuyết và hai bên Vị-25 Thiên khu.
Thời gian lưu ống thường từ 5–10 phút, tùy thể trạng và lực hút. Không nên dùng lực quá mạnh hoặc lưu ống quá lâu trên vùng bụng.
Nhóm thứ nhất
Vị-25 Thiên khu, Nhâm-4 Quan nguyên, Vị-36 Túc tam lý, Vị-37 Thượng cự hư.
Nhóm thứ hai
Bàng quang-25 Đại trường du, Bàng quang-27 Tiểu trường du, Vị-36 Túc tam lý, Vị-39 Hạ cự hư.
Có thể thay phiên hai nhóm, mỗi ngày hoặc cách ngày một lần, chủ yếu dùng cho tiêu chảy mạn thuộc Tỳ Vị hư hàn.
Chú ý
Không giác tại vùng da viêm, loét, phù nề, có mạch máu lớn hoặc tổn thương chưa lành.
Không giác vùng bụng và thắt lưng của phụ nữ có thai.
Không thực hiện khi người bệnh sốt cao, co giật, suy kiệt, mất nước hoặc có bệnh cảnh cấp tính chưa rõ nguyên nhân.
Nếu da phồng rộp, cần giữ sạch, tránh làm vỡ. Bọng nước lớn phải được xử trí vô khuẩn.
KHÍ CÔNG TRONG GIAI ĐOẠN HỒI PHỤC
Khí công có thể hỗ trợ điều hòa hơi thở, thư giãn tinh thần, cải thiện chức năng Tỳ Vị trong giai đoạn hồi phục của tiêu chảy mạn tính. Phương pháp này không thay thế điều trị khi bệnh đang diễn tiến nặng.
Bài tập thứ nhất
Tư thế
Đứng thẳng, hai chân rộng bằng vai, hai gối hơi khuỵu, lưng thẳng, bụng thả lỏng, vai buông, cằm hơi thu, lưỡi chạm nhẹ hàm trên.
Hô hấp và động tác
Hít vào chậm bằng mũi, các ngón chân bám nhẹ xuống đất, hai bàn tay từ từ nắm lại, hậu môn co nhẹ. Khi hít đầy, giữ trong chốc lát nhưng không nín thở quá sức.
Thở ra từ từ, đồng thời thả lỏng bàn tay, bàn chân, vùng hậu môn và toàn thân.
Ý niệm
Khi hít vào, tưởng luồng khí từ Thận-1 Dũng tuyền đi lên chân, qua Nhâm-1 Hội âm, vào vùng bụng dưới.
Khi thở ra, tưởng luồng khí từ bụng dưới trở về Thận-1 Dũng tuyền.
Mỗi sáng và tối có thể tập nhẹ nhàng, số lần căn cứ thể lực, không nên quá gắng sức.
Chú ý
Người tăng huyết áp không kiểm soát, bệnh tim nặng, thoát vị bẹn, chóng mặt hoặc thể trạng quá yếu không nên tự tập bài co siết mạnh.
Khi triệu chứng giảm, cần giảm dần lực co thắt. Không nên luyện quá mức.
Bài tập thứ hai
Tư thế
Ngồi ngay ngắn, mắt khép nhẹ, hai tay đặt lên đầu gối, thân người thư giãn.
Hô hấp
Hít vào nhẹ qua mũi, thở ra chậm qua miệng, có thể phát âm kéo dài nhẹ nhàng để điều hòa hơi thở.
Ý niệm
Tập trung nhẹ vào vùng quanh rốn, không dùng sức cưỡng ép.
Kết thúc
Gõ răng nhẹ 36 lần, đảo lưỡi trong miệng mỗi chiều 12 vòng, sau đó dùng hai bàn tay xoa bụng quanh rốn theo hai chiều, mỗi chiều 36 vòng.
TỰ XOA BÓP HỖ TRỢ PHỤC HỒI
Trước khi ngủ, nằm ngửa, thả lỏng. Đặt lòng bàn tay lên bụng, lấy rốn làm trung tâm, xoa tròn theo chiều kim đồng hồ rồi ngược chiều kim đồng hồ, mỗi chiều khoảng 36 vòng.
Động tác nhẹ, đều, đến khi bụng ấm lên thì dừng.
Dùng ngón cái day ấn huyệt Vị-36 Túc tam lý ở hai chân, mỗi bên khoảng 1–2 phút.
Huyệt nằm dưới mắt gối ngoài khoảng 3 thốn, cách bờ trước xương chày một khoát ngón tay ngang.
Dùng bàn tay xoa từ hố chậu phải lên vùng dưới sườn phải, ngang sang dưới sườn trái, rồi đi xuống hố chậu trái. Thực hiện chậm rãi, lực vừa phải.
Không xoa mạnh khi đau bụng cấp, bụng cứng, sốt cao hoặc nghi viêm cấp.
Ngồi vững, hai tay chống hông, xoay thân chậm từ trái sang phải rồi từ phải sang trái. Mỗi chiều khoảng 8–16 lần, phối hợp hít thở tự nhiên.
Dùng lòng bàn tay vỗ rất nhẹ quanh vùng bụng, nhịp chậm, không gây đau. Phương pháp chỉ dùng trong giai đoạn hồi phục, không dùng khi tiêu chảy cấp hoặc bụng đang đau.
CÁC VỊ THUỐC CẦN THẬN TRỌNG KHI ĐANG TIÊU CHẢY
Không phải mọi vị thuốc tính hàn hoặc nhuận đều tuyệt đối cấm dùng trong tiêu chảy. Việc sử dụng phải căn cứ thể bệnh và sự phối ngũ. Tuy nhiên, người Tỳ Vị hư hàn, phân lỏng kéo dài nên thận trọng với những nhóm sau:
Các vị như Chi tử, Tri mẫu, Sinh địa, Huyền sâm, Tử thảo, Thanh hao, Bạch vi, Địa cốt bì, Ngân sài hồ có tính hàn lương, nếu dùng không đúng chứng có thể làm tổn thương Tỳ dương và khiến phân lỏng nặng hơn.
Riêng Bạch đầu ông, Hoàng liên, Hoàng bá, Mã xỉ hiện tuy có tính hàn nhưng lại có thể dùng trong thấp nhiệt, nhiệt độc hoặc chứng lỵ. Vì vậy không thể xem là cấm tuyệt đối; chỉ không phù hợp với Tỳ Vị hư hàn.
Ngưu bàng tử, Quyết minh tử, Qua lâu nhân, Bá tử nhân, Hạnh nhân, Tô tử, Nhục thung dung, Hỏa ma nhân, Hắc chi ma, Tang thầm và mật ong đều có tính nhuận.
Người đang phân lỏng, Tỳ hư hoặc thấp thịnh nên hạn chế, trừ khi có chỉ định phối hợp đặc biệt.
Thục địa, A giao, Hà thủ ô chế, Mạch môn, Thiên môn, Hoàng tinh, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử và một số thuốc bổ âm có tính ngọt nhuận, tương đối nê trệ.
Người Tỳ hư, ăn ít, bụng trướng, đàm thấp và phân lỏng nên dùng thận trọng, thường cần phối hợp thuốc kiện Tỳ, lý khí.
Sơn tra, Bình lang, Đại hoàng, Mang tiêu, Phiên tả diệp và các vị công hạ không nên tùy tiện dùng trong tiêu chảy do hư chứng.
Tuy nhiên, nếu tiêu chảy do thực tích hoặc thấp nhiệt tích trệ, một số vị tiêu thực hay công hạ vẫn có thể được dùng trong phương thuốc thích hợp.
DƯỢC LIỆU CÓ THỂ GÂY TIÊU CHẢY KHI QUÁ LIỀU
Thương nhĩ tử vị tân, khổ, tính ôn, có độc nhẹ, có tác dụng tán phong trừ thấp, thông tỵ khiếu.
Dùng quá liều có thể gây buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy và tổn thương gan. Cần bào chế và kiểm soát liều lượng nghiêm ngặt.
Bồ công anh vị khổ, ngọt, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu ung, lợi thấp.
Ở người Tỳ Vị hư hàn hoặc khi dùng liều quá cao, thuốc có thể gây đau bụng và tiêu chảy nhẹ.
Sơn đậu căn vị khổ, tính hàn, có độc tính nhất định, thường dùng thanh nhiệt giải độc, lợi yết.
Dùng quá liều có thể gây buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy, chóng mặt, hồi hộp và rối loạn thần kinh.
Sử quân tử vị ngọt, tính ôn, có tác dụng sát trùng tiêu tích.
Dùng quá liều có thể gây nấc, buồn nôn, nôn, chóng mặt, đau bụng và tiêu chảy. Không nên dùng cùng trà nóng vì có thể làm tăng phản ứng bất lợi.
Tạo giác vị tân, tính ôn, có độc, tác dụng khai khiếu, trừ đàm, tiêu thũng.
Dùng quá liều có thể kích thích mạnh đường tiêu hóa, gây nôn, đau bụng và tiêu chảy. Phụ nữ có thai, người âm hư, người dễ xuất huyết không nên tự dùng.
CHÂM CỨU VÀ CỨU NGẢI
Vị-36 Túc tam lý: kiện Tỳ hòa Vị, điều lý Trường phủ.
Vị-25 Thiên khu: điều hòa Đại trường, chỉ tả.
Nhâm-12 Trung quản: kiện vận Trung tiêu, hòa Vị.
Nhâm-10 Hạ quản: điều hòa Trường Vị, tiêu tích trệ.
Nhâm-6 Khí hải: bổ khí, ôn dương, cố nhiếp.
Nhâm-4 Quan nguyên: ôn bổ nguyên dương, cố sáp hạ tiêu.
Tỳ-6 Tam âm giao: kiện Tỳ, điều Can Thận, hóa thấp.
Vị-37 Thượng cự hư: hạ hợp huyệt của Đại trường, điều trị tiết tả và đau bụng.
Vị-39 Hạ cự hư: hạ hợp huyệt của Tiểu trường, điều hòa chức năng phân thanh biệt trọc.
Đại trường du Bàng quang-25 và Tiểu trường du Bàng quang-27: điều lý Trường phủ, kiện vận hạ tiêu.
Hàn thấp
Nhâm-12 Trung quản, Nhâm-8 Thần khuyết, Vị-25 Thiên khu, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-9 Âm lăng tuyền. Có thể kết hợp cứu ngải.
Thấp nhiệt
Vị-25 Thiên khu, Vị-37 Thượng cự hư, Tỳ-9 Âm lăng tuyền, Đại trường-11 Khúc trì, Tỳ-6 Tam âm giao. Chủ yếu dùng phép tả, không nên cứu nhiều.
Thực tích
Nhâm-12 Trung quản, Nhâm-10 Hạ quản, Vị-25 Thiên khu, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-4 Công tôn.
Can khí phạm Tỳ
Can-3 Thái xung, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-36 Túc tam lý, Vị-25 Thiên khu.
Tỳ hư
Bàng quang-20 Tỳ du, Bàng quang-21 Vị du, Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Vị-25 Thiên khu. Có thể châm bổ và cứu.
Thận dương hư
Bàng quang-23 Thận du, Mạch Đốc-4 Mệnh môn, Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-8 Thần khuyết, Vị-36 Túc tam lý. Lấy cứu ngải làm chính.
Có thể hơ cứu tại Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Nhâm-8 Thần khuyết, Nhâm-12 Trung quản và Vị-36 Túc tam lý.
Mỗi huyệt cứu đến khi vùng da ấm đỏ dễ chịu, không để bỏng hoặc phồng rộp. Người có thấp nhiệt, sốt cao, khát nhiều, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt không nên tự ý cứu nóng kéo dài.
Nói tóm lại
Tiết tả tuy biểu hiện tại Đại trường, nhưng căn nguyên mật thiết với Tỳ Vị, đồng thời liên quan Can, Thận, ngoại tà, ăn uống và tình chí.
Bạo tả thường thiên về thấp tà, thấp nhiệt và thực tích; cửu tả phần nhiều liên quan Tỳ hư, Thận hư hoặc Tỳ Thận dương hư. Điều trị cần phân biệt hàn nhiệt, hư thực, cấp mạn và nguyên nhân chủ yếu.
Thuốc chỉ tả không nên sử dụng máy móc. Thấp nhiệt cần thanh lợi, hàn thấp cần ôn hóa, thực tích cần tiêu đạo, Can khí phạm Tỳ cần sơ Can kiện Tỳ, Tỳ hư cần ích khí thẩm thấp, Thận dương hư cần ôn Thận cố sáp.
Đối với tiêu chảy nhiều lần, mất nước, sốt cao, nôn liên tục, đau bụng dữ dội, phân có máu, người già yếu, trẻ nhỏ hoặc phụ nữ có thai, cần được thăm khám kịp thời, không nên chỉ tự dùng thuốc, châm cứu hoặc giác hơi tại nhà.
Trường Xuân biên soạn