Khái quát
Rối loạn nhịp tim trong Đông y không hoàn toàn tương ứng với một tên bệnh riêng biệt, mà chủ yếu được quy vào các phạm vi Tâm quý (心悸), Kinh quý (惊悸), Chinh xung (怔忡), Hung tý (胸痹), Huyễn vựng (眩晕), Bất mị (不寐) và Quyết chứng (厥证).
Biểu hiện trên mạch tượng thường gặp gồm Kết mạch (结脉), Đại mạch (代脉), Xúc mạch (促脉), Trì mạch (迟脉), Sác mạch (数脉), cùng các tình trạng mạch lúc nhanh lúc chậm, lúc lớn lúc nhỏ hoặc ngừng không đều.
Tâm quý là cảm giác Tâm đập không yên, thường phát thành từng lúc. Chinh xung là cảm giác Tâm rung động, hồi hộp kéo dài, khó tự chủ, có thể xuất hiện ngay cả khi không gặp kích thích rõ ràng. Nếu bệnh phát sau kinh sợ, thường gọi là Kinh quý.
Y học chính truyền – Chinh xung, kinh quý, kiện vong chứng viết:
“Phu sở vị chinh xung giả, tâm trung dịch dịch nhiên động dao nhi bất đắc an tĩnh, vô thời nhi tác giả thị dã; kinh quý giả, mạch nhiên nhi khiêu dược kinh động, nhi hữu dục quyết chi trạng, hữu thời nhi tác giả thị dã.”
夫所谓怔忡者,心中惕惕然动摇而不得安静,无时而作者是也;惊悸者,蓦然而跳跃惊动,而有欲厥之状,有时而作者是也。
Nghĩa là: Chinh xung là trong Tâm luôn rung động không yên, không có thời gian phát tác nhất định; Kinh quý là đột nhiên Tâm đập mạnh, kinh động, có cảm giác gần như muốn ngất, thường phát thành từng cơn.
Tâm quý thường phát sau kinh sợ, xúc động hoặc lao lực, thời gian phát tác tương đối ngắn và tình trạng toàn thân còn khá. Chinh xung phần nhiều liên quan đến khí huyết, âm dương suy tổn hoặc bệnh lâu ngày, triệu chứng kéo dài và tình trạng bệnh thường nặng hơn. Tuy nhiên, sự phân biệt này chỉ mang tính tương đối; Tâm quý kéo dài cũng có thể chuyển thành Chinh xung.
Nhận thức của Đông y về mạch tượng rối loạn nhịp
Đông y thông qua thiết mạch để quan sát tần số, nhịp điệu, lực và hình thái của mạch.
Hoàng đế Nội kinh đã có những ghi chép sớm về mạch nhanh, chậm và không điều hòa. Mạch kinh mô tả:
“Sạ đại sạ tiểu, sạ sơ sạ sác.”
乍大乍小,乍疏乍数。
Nghĩa là: Mạch lúc lớn lúc nhỏ, lúc thưa lúc nhanh.
Những mô tả này phản ánh sự thay đổi bất thường về tần số, cường độ và nhịp điệu của mạch. Các y gia đời sau tiếp tục quy nạp thành những mạch tượng như Kết, Đại, Xúc, Trì và Sác.
Mạch tượng Đông y có thể phản ánh một phần tình trạng nhịp Tâm, nhưng không thể dùng để xác định chính xác loại rối loạn nhịp. Ngoại tâm thu, rung nhĩ, block dẫn truyền và nhịp nhanh có thể cùng biểu hiện mạch ngừng hoặc không đều, vì vậy vẫn cần căn cứ điện tâm đồ.
Tâm quý, Kinh quý và Chinh xung
Tâm quý
Tâm quý là tên gọi chung cho cảm giác Tâm đập không yên, hồi hộp, lúc mạnh lúc nhẹ hoặc có cảm giác nhịp bị hụt.
Nguyên nhân: Thể chất hư nhược, tình chí kích động, kinh sợ, lao lực, bệnh lâu ngày, mất máu, ngoại tà, đàm ẩm hoặc huyết ứ.
Chứng trạng: Hồi hộp, cảm giác Tâm đập mạnh hoặc không đều, ngực không thư thái; có thể kèm mất ngủ, chóng mặt, mệt, thở ngắn, đau ngực hoặc mạch kết đại.
Kinh quý
Kinh quý thường phát sau một sự việc làm người bệnh hoảng sợ hoặc kinh hãi. Cơn phát tương đối đột ngột, có lúc cảm giác như muốn ngất.
Nguyên nhân: Kinh sợ đột ngột, tinh thần bị kích thích, Tâm khí vốn hư hoặc Tâm huyết không đủ.
Chứng trạng: Đột nhiên hồi hộp, hoảng hốt, dễ giật mình, sắc mặt thay đổi, tay chân lạnh hoặc ra mồ hôi, cơn phát từng lúc.
Chinh xung
Chinh xung là cảm giác Tâm rung động, hồi hộp kéo dài, không nhất thiết liên quan đến kinh sợ. Bệnh thường rõ hơn khi lao lực hoặc cơ thể suy yếu.
Nguyên nhân: Tâm khí hư, Tâm huyết hư, Tâm âm hư, Tâm dương hư, khí huyết suy tổn, đàm ẩm hoặc huyết ứ.
Chứng trạng: Hồi hộp kéo dài, Tâm đập không yên, mệt, thở ngắn, mất ngủ, sắc mặt kém, triệu chứng tăng khi lao lực; có thể kèm phù, chóng mặt hoặc đau ngực.
Luận thuật của các y gia về Kinh quý và Chinh xung
Hoàng đế Nội kinh
Tố Vấn – Bình nhân khí tượng luận mô tả đại lạc của Vị là Hư lý, đi qua cơ hoành, liên hệ với Phế và xuất hiện dưới vú trái. Nhịp động tại đây có quan hệ với Tông khí.
Những ghi chép về Hư lý, Tông khí, mạch lúc nhanh lúc ngừng, lúc mạnh lúc yếu cho thấy cổ nhân đã sớm chú ý đến mối liên hệ giữa nhịp Tâm, khí trong ngực và tình trạng thịnh suy của cơ thể.
Tố Vấn – Tý luận viết:
“Tâm tý giả, mạch bất thông, phiền tắc tâm hạ cổ.”
心痹者,脉不通,烦则心下鼓。
Nghĩa là: Tâm tý là mạch không thông; khi phiền nhiễu thì vùng dưới Tâm rung động.
Linh Khu – Căn kết ghi nhận mạch có lúc ngừng và cho rằng mức độ ngừng phản ánh tình trạng thịnh suy của tạng khí. Tuy cách lý giải cổ đại không thể đồng nhất với điện sinh lý Tâm hiện nay, những mô tả này vẫn có giá trị trong lịch sử nhận thức về mạch không đều.
Trương Trọng Cảnh
Kim quỹ yếu lược viết:
“Động tắc vi kinh, nhược tắc vi quý.”
动则为惊,弱则为悸。
Mạch động thường liên quan kinh sợ; mạch nhược thường liên quan hư tổn mà sinh Tâm quý.
Lại viết:
“Tâm trung quý nhi phiền giả, Tiểu kiến trung thang chủ chi.”
心中悸而烦者,小建中汤主之。
Nghĩa là: Trong Tâm hồi hộp mà phiền, dùng Tiểu kiến trung thang làm chủ.
Thương hàn luận có câu:
“Thương hàn mạch kết đại, tâm động quý, Chích cam thảo thang chủ chi.”
伤寒脉结代,心动悸,炙甘草汤主之。
Đây là cơ sở quan trọng cho việc dùng Chích cam thảo thang trong các chứng Tâm quý có mạch Kết, Đại, thuộc khí huyết âm dương suy tổn và mạch khí không liên tục.
Tôn Tư Mạc
Thiên kim yếu phương cho rằng khi dương khí bị tà khí tác động, âm khí bên trong tổn thương, cơ thể hư hàn thì dễ sinh kinh sợ và Tâm quý. Điều này nhấn mạnh hư tổn là một căn nguyên quan trọng của chứng hồi hộp.
Nghiêm Dụng Hòa
Tế sinh phương cho rằng Kinh quý thường liên quan đến Tâm hư, Đởm khiếp. Gặp sự việc quá kinh sợ, nghe âm thanh lạ, nhìn thấy cảnh tượng bất thường, đi nơi cao hiểm hoặc ưu uất kéo dài đều có thể làm Kinh quý phát sinh.
Nếu Kinh quý kéo dài, người bệnh có thể xuất hiện thở ngắn, mỏi mệt, tự ra mồ hôi, phù chân tay, ăn uống kém, phiền muộn và ngồi nằm không yên. Pháp trị là ninh Tâm, tráng Đởm, thường liên hệ với Ôn đảm thang và Viễn chí hoàn.
Đối với Chinh xung, Tế sinh phương cho rằng nguyên nhân quan trọng là Tâm huyết bất túc; ngoài ra, ngoại tà bế tắc kinh mạch hoặc ngũ ẩm đình tụ ở Trung tiêu cũng có thể gây bệnh.
Chu Đan Khê
Đan Khê tâm pháp cho rằng Kinh quý và Chinh xung đều có quan hệ với huyết hư, đồng thời cũng liên quan đến đàm và hỏa.
“Kinh quý giả huyết hư, kinh quý hữu thời; chinh xung giả huyết hư, chinh xung vô thời, huyết thiểu giả đa; hữu tư lự tiện động, thuộc hư; thời tác thời chỉ, đàm nhân hỏa động.”
惊悸者血虚,惊悸有时;怔忡者血虚,怔忡无时,血少者多;有思虑便动,属虚;时作时止,痰因火动。
Nghĩa là: Kinh quý có thể do huyết hư và phát thành từng lúc; Chinh xung thường do huyết hư, phát không có thời gian nhất định; do suy nghĩ mà phát thì thuộc hư, lúc phát lúc ngừng có thể do đàm theo hỏa mà động.
Vương Thanh Nhậm
Y lâm cải thác cho rằng một số trường hợp Tâm đập gấp, dùng các phương bổ Tâm, an thần không hiệu quả thì cần nghĩ đến huyết ứ. Từ đó bổ sung phép hoạt huyết hóa ứ trong điều trị Tâm quý.
Đường Dung Xuyên
Huyết chứng luận nhận định rằng người suy nghĩ quá độ hoặc mất máu nhiều dễ sinh hư chứng; nếu không thuộc hư đơn thuần thì thường kèm đàm hoặc huyết ứ, cần phân biệt kỹ.
Bệnh cơ căn bản của Tâm quý và Chinh xung
Theo các thư tịch cổ, bệnh chủ yếu phát sinh do thể chất hư nhược, tình chí nội thương, ngoại tà xâm nhập, ăn uống không điều độ, lao lực hoặc bệnh lâu ngày.
Vị trí bệnh chủ yếu tại Tâm, nhưng có quan hệ mật thiết với Tỳ, Can, Thận, Phế và Đởm.
Bệnh cơ không ngoài hai phương diện hư và thực.
Hư chứng
Khí, huyết, âm hoặc dương suy tổn làm Tâm mất sự thúc đẩy, ôn dưỡng hoặc nhu dưỡng.
Các bệnh cơ thường gặp gồm Tâm khí hư, Tâm huyết hư, Tâm âm hư, Tâm dương hư, Tâm Tỳ lưỡng hư, Can Thận âm hư, Tâm Thận bất giao và Thận tinh bất túc.
Thực chứng
Đàm trọc, thủy ẩm, huyết ứ, khí trệ, hàn ngưng hoặc hỏa nhiệt làm Tâm mạch không thông và Tâm thần bị quấy nhiễu.
Hư thực thường xen lẫn. Khí hư có thể sinh huyết ứ; dương hư có thể sinh thủy ẩm; Tỳ hư có thể sinh đàm; âm hư có thể sinh hỏa; Can uất có thể dẫn đến khí trệ, đàm và huyết ứ.
Nguyên tắc điều trị gồm ích khí, dưỡng huyết, tư âm, ôn dương, hóa đàm, lợi ẩm, hoạt huyết, hóa ứ, lý khí và an thần.
Hung tý và rối loạn nhịp tim
Hung tý còn được gọi là Tâm tý. Chữ “tý” mang ý nghĩa bế tắc, không thông.
Hung tý là tình trạng khí huyết trong vùng ngực và Tâm mạch vận hành không thuận, biểu hiện chủ yếu bằng ngực nặng, tức, đau hoặc khó thở.
Tố Vấn – Tý luận viết:
“Tâm tý giả, mạch bất thông, phiền tắc tâm hạ cổ, bạo thượng khí nhi suyễn.”
心痹者,脉不通,烦则心下鼓,暴上气而喘。
Nghĩa là: Tâm tý thì mạch không thông; khi phiền nhiễu, vùng dưới Tâm rung động, khí đột ngột nghịch lên gây suyễn.
Nguyên nhân của Hung tý
Hàn tà nội xâm: Tố chất dương hư, hung dương không mạnh, hàn tà thừa hư xâm nhập, làm hàn ngưng khí trệ, huyết hành không thông.
Tình chí mất điều hòa: Ưu tư làm Tỳ hư, tân dịch tụ thành đàm; uất nộ làm Can khí trệ, uất lâu hóa hỏa, đốt tân dịch thành đàm. Khí trệ, đàm và huyết ứ cùng làm Tâm mạch bế tắc.
Ăn uống không điều độ: Ăn nhiều béo ngọt, uống nhiều rượu làm Tỳ Vị tổn thương, thấp tụ thành đàm, đàm trọc trở Tâm mạch.
Tuổi cao, thân thể suy: Thận khí suy, Tâm khí và Tâm dương không được hỗ trợ; hoặc Thận âm suy, Tâm âm không đầy đủ, hư hỏa và đàm nhiệt làm Tâm mạch không thông.
Bệnh cơ của Hung tý
Hư là Tâm, Tỳ, Can, Thận và khí huyết âm dương suy tổn.
Thực là hàn ngưng, khí trệ, huyết ứ và đàm thấp bế trở.
Bệnh thường thuộc bản hư tiêu thực. Bản là khí huyết âm dương và tạng phủ suy; tiêu là đàm, ứ, khí trệ và hàn ngưng.
Nếu huyết ứ bế tắc Tâm mạch, người bệnh có thể đau ngực dữ dội.
Nếu Tâm dương bị trở, Tâm khí không đủ sức cổ động, có thể xuất hiện hồi hộp và mạch Kết, Đại.
Nếu Tâm Thận dương suy, thủy ẩm tràn lên ảnh hưởng Tâm Phế, có thể xuất hiện ho suyễn, khó nằm và phù chân tay.
Huyễn vựng và rối loạn nhịp tim
Huyễn vựng là tên gọi chung của Mục huyễn và Đầu vựng.
Mục huyễn là hoa mắt, tối mắt, nhìn vật không rõ. Đầu vựng là cảm giác bản thân hoặc cảnh vật xung quanh quay chuyển, đứng ngồi không vững.
Khi rối loạn nhịp làm lượng máu Tâm bơm ra giảm, não có thể tạm thời thiếu máu và oxy, gây chóng mặt, hoa mắt hoặc gần ngất.
Nguyên nhân của Huyễn vựng
Tình chí nội thương: Giận dữ làm Can khí uất hoặc Can hỏa thượng nghịch; ưu tư làm Tỳ khí hư, khí huyết thiếu nguồn; uất lâu hóa hỏa sinh đàm, đàm che lấp thanh khiếu.
Ăn uống không điều độ: No đói thất thường, ăn nhiều đồ sống lạnh hoặc béo ngọt làm Tỳ Vị tổn thương, nguồn sinh hóa khí huyết không đủ hoặc thấp tụ thành đàm.
Mất máu: Ngoại thương, thổ huyết, chảy máu mũi, rong kinh, đại tiện ra máu hoặc mất máu sau sinh làm khí huyết suy.
Lao lực và phòng thất quá độ: Tinh khí hao tổn, Thận tinh không đủ, tủy hải trống rỗng.
Bệnh cơ của Huyễn vựng
Can dương thượng kháng: Can âm hoặc Thận âm suy, Can dương mất chế ước, phong dương thượng nhiễu thanh khiếu.
Khí huyết suy hư: Khí hư thì thanh dương không thăng; huyết hư thì não và mắt không được nuôi dưỡng.
Thận tinh bất túc: Thận tinh không đủ sinh tủy, tủy hải trống rỗng.
Đàm thấp trung trở: Tỳ mất kiện vận, thấp tụ thành đàm, thanh dương không thăng, trọc âm không giáng.
Huyết ứ trở lạc: Huyết vận hành không thông, khí huyết không lên nuôi dưỡng đầu mắt.
Bất mị và rối loạn nhịp tim
Bất mị là tình trạng khó ngủ, ngủ không sâu, dễ tỉnh hoặc tỉnh sớm.
Theo Đông y, Tâm tàng thần. Giấc ngủ bình thường phụ thuộc vào sự điều hòa của âm dương, khí huyết và trạng thái yên ổn của Tâm thần.
Cảnh Nhạc toàn thư – Bất mị viết:
“Thiện mị bản hồ âm, thần kỳ chủ dã; thần an tắc mị, thần bất an tắc bất mị.”
善寐本乎阴,神其主也;神安则寐,神不安则不寐。
Nghĩa là: Ngủ ngon vốn dựa vào âm, thần giữ vai trò chủ; thần yên thì ngủ, thần không yên thì không ngủ.
Nguyên nhân của Bất mị
Tình chí không toại: Can khí uất kết, uất lâu hóa hỏa, tà hỏa quấy nhiễu Tâm thần.
Tâm Đởm hư khiếp: Tâm khí và Đởm khí hư, người bệnh dễ sợ, dễ giật mình, thần hồn bất an.
Tâm Tỳ lưỡng hư: Suy nghĩ và lao lực quá mức làm Tâm huyết, Tỳ khí hao tổn, doanh huyết không đủ nuôi dưỡng Tâm.
Tâm Thận bất giao: Thận âm suy, Thận thủy không thể chế Tâm hỏa; hoặc Tâm hỏa không giáng xuống giao với Thận.
Đàm nhiệt nhiễu Tâm: Ăn uống không điều độ, Tỳ Vị tổn thương, đàm nhiệt tích lại và quấy nhiễu Tâm thần.
Bệnh cơ của mất ngủ trong rối loạn nhịp chủ yếu là khí huyết âm dương mất điều hòa, tạng phủ rối loạn, làm Tâm thần bất an.
Quyết chứng và rối loạn nhịp tim
Quyết chứng là tình trạng đột nhiên ngất, mất ý thức, tay chân lạnh hoặc bất tỉnh trong thời gian ngắn.
Khi rối loạn nhịp làm cung lượng Tâm giảm đột ngột, não thiếu máu và oxy, người bệnh có thể ngất. Đây là tình trạng cần được đánh giá cấp cứu.
Nguyên nhân Quyết chứng theo Đông y
Khí cơ thất điều: Giận dữ, kinh hãi hoặc sợ hãi làm khí nghịch, khí loạn hoặc khí hạ. Người khí thịnh dễ khí nghịch bế thanh khiếu; người nguyên khí hư dễ thanh dương không thăng.
Huyết vận hành thất thường: Khí nghịch làm huyết theo khí thượng xung hoặc huyết không lên nuôi dưỡng thanh khiếu.
Đàm theo khí nghịch: Người vốn nhiều đàm, gặp giận dữ hoặc kinh sợ, đàm theo khí nghịch lên che lấp thanh khiếu.
Thực tích: Ăn quá no, uống nhiều rượu làm Vị khí nghịch, thanh khiếu bị che lấp.
Thử tà: Nắng nóng làm hao khí thương tân, nhiệt tà phạm Tâm thần, nặng có thể khí tân cùng thoát.
Bệnh cơ chung của Quyết chứng là khí cơ đột nhiên nghịch loạn, thăng giáng thất thường, khí huyết không lên nuôi dưỡng thanh khiếu.
Thực chứng thường do khí nghịch, đàm, thực hoặc huyết ứ bế tắc thanh khiếu.
Hư chứng thường do nguyên khí hư, thanh dương không thăng và huyết không lên nuôi dưỡng não.
Các mạch tượng thường gặp
Xúc mạch 促脉
Thương hàn luận – Bình mạch pháp viết:
“Mạch lai sác, thời nhất chỉ phục lai giả, danh viết Xúc mạch.”
脉来数,时一止复来者,名曰促脉。
Xúc mạch là mạch nhanh, trong quá trình đập có lúc ngừng một lần rồi tiếp tục, khoảng ngừng không có quy luật.
Đặc điểm: Mạch nhanh, có lúc ngừng, ngừng không theo định số.
Ý nghĩa: Thường chủ dương thịnh, thực nhiệt, khí trệ, huyết ứ, đàm ẩm hoặc thực tích; nếu mạch Xúc vô lực cũng có thể liên quan chân nguyên suy.
Liên hệ hiện đại: Có thể gặp trong ngoại tâm thu trên nền nhịp nhanh, rung nhĩ đáp ứng thất nhanh, cuồng nhĩ dẫn truyền không đều hoặc các dạng nhịp nhanh không đều. Không thể căn cứ Xúc mạch để xác định một loại rối loạn nhịp cụ thể.
Trì mạch 迟脉
Mạch kinh viết:
“Trì mạch, hô hấp tam chí, lai khứ cực trì.”
迟脉,呼吸三至,来去极迟。
Trì mạch là mạch đến chậm, một hơi thở có khoảng ba lần mạch đến.
Đặc điểm: Tần suất mạch chậm hơn bình thường.
Ý nghĩa: Trì hữu lực thường chủ hàn thực; Trì vô lực thường chủ dương khí suy.
Liên hệ hiện đại: Có thể gặp trong nhịp chậm xoang, hội chứng nút xoang bệnh hoặc block dẫn truyền, nhưng mức độ nguy hiểm phải căn cứ điện tâm đồ và triệu chứng.
Kết mạch 结脉
Thương hàn luận – Bình mạch pháp viết:
“Mạch hoãn lai, thời nhất chỉ phục lai giả, danh viết Kết mạch.”
脉缓来,时一止复来者,名曰结脉。
Kết mạch là mạch tương đối chậm hoặc hòa hoãn, trong quá trình đập có lúc ngừng rồi tiếp tục, khoảng ngừng không theo quy luật.
Đặc điểm: Mạch không nhanh, ngừng không định số.
Ý nghĩa: Kết hữu lực có thể chủ khí kết, huyết ứ, hàn đàm, thủy ẩm hoặc khí uất; Kết vô lực thường chủ khí huyết suy, bệnh lâu ngày hoặc chân khí hư.
Liên hệ hiện đại: Có thể gặp trong ngoại tâm thu, rung nhĩ chậm, nhịp thoát hoặc các dạng nhịp không đều.
Đại mạch 代脉
Mạch Đại là mạch đang đập thì ngừng, thời gian ngừng tương đối dài và thường có quy luật.
Tần Hồ mạch học viết:
“Đại mạch động nhi trung chỉ, bất năng tự hoàn, nhân nhi phục động; mạch chí hoàn nhập xích, lương cửu phương lai.”
代脉,动而中止,不能自还,因而复动;脉至还入尺,良久方来。
Đặc điểm: Ngừng theo định số, khoảng ngừng thường tương đối dài.
Ý nghĩa: Thường chủ tạng khí suy, dương khí suy vi, khí huyết hư tổn hoặc mạch khí không liên tục; cũng có thể xuất hiện trong đau đớn, kinh sợ hoặc chấn thương.
Liên hệ hiện đại: Có thể gặp trong ngoại tâm thu có quy luật, nhịp đôi, nhịp ba, block dẫn truyền hoặc những khoảng ngừng Tâm, nhưng không thể đồng nhất hoàn toàn.
Biện chứng chủ yếu của rối loạn nhịp tim
Một. Tâm khí hư
Nguyên nhân: Thể chất suy yếu, bệnh lâu ngày, lao lực, tuổi cao, sau bệnh nặng hoặc Tâm khí bị tổn thương.
Chứng trạng: Hồi hộp tăng khi mệt, ngực tức, thở ngắn, mệt mỏi, ít nói, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt; lưỡi nhạt, to mềm, mạch hư nhược hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Tâm khí không đủ sức thúc đẩy huyết vận hành và duy trì nhịp Tâm, khiến Tâm mạch mất điều hòa.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, an thần định quý.
Hai. Tâm dương bất túc
Nguyên nhân: Tâm khí hư kéo dài, bệnh nặng, bệnh lâu ngày, tuổi cao, dương khí suy hoặc hàn tà tổn thương dương.
Chứng trạng: Hồi hộp, thở ngắn, sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng xanh, đại tiện lỏng, tiểu trong dài; lưỡi nhạt hoặc tím tối, mạch vi nhược, trầm trì hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Tâm dương suy, không đủ ôn thông huyết mạch và cổ động Tâm khí.
Pháp trị
Ôn bổ Tâm dương, ích khí thông mạch.
Ba. Tâm âm bất túc
Nguyên nhân: Bệnh nhiệt thương âm, lao tâm, mất ngủ lâu ngày, tuổi cao, bệnh lâu hoặc âm huyết suy tổn.
Chứng trạng: Hồi hộp, bứt rứt, mất ngủ, sốt nhẹ, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khô; lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Tâm âm không đủ nuôi dưỡng Tâm mạch, hư hỏa quấy nhiễu Tâm thần.
Pháp trị
Tư âm dưỡng Tâm, thanh hư nhiệt, an thần.
Bốn. Tâm huyết bất túc
Nguyên nhân: Mất máu, sau sinh, lao tâm, ăn uống kém, Tỳ khí hư hoặc bệnh lâu ngày.
Chứng trạng: Hồi hộp, Chinh xung, hoa mắt, đầu óc không sáng, sắc mặt kém tươi, môi và móng nhợt, mất ngủ, nhiều mộng; lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Tâm huyết không đủ nuôi dưỡng Tâm thần và Tâm mạch.
Pháp trị
Bổ huyết dưỡng Tâm, ích khí an thần.
Năm. Tâm Tỳ lưỡng hư
Nguyên nhân: Lo nghĩ kéo dài, lao tâm, ăn uống không điều độ, bệnh lâu ngày hoặc mất máu.
Chứng trạng: Hồi hộp, hay quên, mất ngủ, nhiều mộng, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng, mệt mỏi; phụ nữ có thể kinh ít, sắc nhạt; lưỡi nhạt mềm, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư làm nguồn sinh hóa khí huyết không đủ; Tâm huyết suy nên Tâm thần mất nuôi dưỡng.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần.
Sáu. Thận tinh bất túc
Nguyên nhân: Tiên thiên bất túc, phát triển không đầy đủ, bệnh lâu ngày, tuổi cao hoặc phòng thất quá độ.
Chứng trạng: Hồi hộp, thở ngắn, lưng gối mỏi, ù tai, tóc rụng, răng lung lay, di tinh hoặc chức năng sinh dục suy; lưỡi nhạt hoặc đỏ ít rêu, mạch tế vô lực.
Bệnh cơ
Thận tinh không đủ, không thể sinh tủy, hóa huyết và hỗ trợ Tâm khí.
Pháp trị
Bổ Thận ích tinh, dưỡng Tâm định quý.
Bảy. Can Thận âm hư
Nguyên nhân: Tuổi cao, bệnh lâu ngày, lao lực, phòng thất quá độ hoặc âm dịch hao tổn.
Chứng trạng: Hồi hộp, phiền muộn, chóng mặt, ù tai, lưng gối đau mỏi, ngũ tâm phiền nhiệt, họng khô, sườn đau âm ỉ; lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế.
Bệnh cơ
Can Thận âm hư, Tâm mạch mất nuôi dưỡng, hư dương thượng nhiễu.
Pháp trị
Tư dưỡng Can Thận, dưỡng Tâm an thần.
Tám. Kinh khủng nhiễu Tâm
Nguyên nhân: Gặp sự việc kinh hãi, hoảng sợ hoặc sang chấn tinh thần.
Chứng trạng: Hồi hộp không yên, dễ sợ hãi, cảm xúc bất ổn, dễ giật mình; lưỡi đỏ nhạt, rêu trắng mỏng, mạch tế hơi sác hoặc mạch Động.
Bệnh cơ
Kinh làm khí loạn, Tâm thần mất nơi nương tựa.
Pháp trị
Trấn kinh định chí, an thần.
Chín. Tâm hư Đởm khiếp
Nguyên nhân: Thể chất nhạy cảm, Tâm khí hư, kinh sợ kéo dài hoặc gặp việc nguy hiểm.
Chứng trạng: Hồi hộp, dễ kinh hãi, sợ tiếng động, gặp việc nhỏ cũng bất an, ngủ không yên; lưỡi tương đối bình thường, rêu mỏng, mạch tế hơi sác.
Bệnh cơ
Tâm khí và Đởm khí hư, thần chí không vững.
Pháp trị
Ích khí trấn kinh, ninh Tâm an thần.
Mười. Tâm huyết ứ trở
Nguyên nhân: Tâm khí hư, Tâm dương hư, khí trệ, hàn ngưng hoặc bệnh Tâm kéo dài làm huyết hành không thông.
Chứng trạng: Hồi hộp, ngực tức, đau nhói hoặc đau lan vai lưng, môi móng tím; lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, mạch sáp, Kết hoặc Đại.
Bệnh cơ
Huyết ứ bế trở Tâm mạch, khiến khí huyết vận hành không thông.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, thông Tâm mạch.
Mười một. Đàm hỏa nhiễu Tâm
Nguyên nhân: Can uất hóa hỏa, ăn nhiều béo ngọt, uống rượu, Tỳ hư sinh đàm hoặc đàm uất hóa nhiệt.
Chứng trạng: Hồi hộp, bứt rứt, mất ngủ, miệng lở, miệng đắng, có thể chảy máu mũi; đầu lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Đàm hỏa thượng nhiễu Tâm thần, làm Tâm mạch mất điều hòa.
Pháp trị
Thanh nhiệt hóa đàm, ninh Tâm an thần.
Mười hai. Thủy khí lăng Tâm
Nguyên nhân: Tâm dương hoặc Thận dương hư, khí hóa không lợi, thủy ẩm tràn lên.
Chứng trạng: Hồi hộp, ngực tức, phù, ho, khạc đàm trắng loãng, tiểu ít hoặc không thuận; lưỡi nhạt, rêu trắng nhầy, mạch trầm huyền hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Dương hư không hóa thủy, thủy ẩm thượng phạm Tâm Phế.
Pháp trị
Ôn dương hóa ẩm, kiện Tỳ lợi thủy.
Mười ba. Hàn ngưng Tâm mạch
Nguyên nhân: Dương khí suy, cảm thụ hàn tà hoặc thời tiết lạnh làm hàn ngưng khí trệ.
Chứng trạng: Đột nhiên đau trước ngực, đau xuyên sang lưng hoặc từ lưng lan ra ngực, sợ lạnh, tay chân lạnh, mồ hôi lạnh, hồi hộp, thở ngắn; rêu trắng, mạch khẩn.
Bệnh cơ
Hàn ngưng làm khí huyết không thông, Tâm mạch bế trở.
Pháp trị
Ôn kinh tán hàn, thông dương hoạt huyết.
Mười bốn. Ẩm đình ngực sườn
Nguyên nhân: Tỳ Thận dương hư, thủy ẩm không hóa, đình lại vùng ngực sườn.
Chứng trạng: Ngực sườn đầy tức, thở ngắn, ho làm đau ngực sườn; nặng có hồi hộp, ho suyễn, không thể nằm; rêu trắng, mạch trầm huyền hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Ẩm tà đình tụ, cản trở Tâm Phế và khí cơ vùng ngực.
Pháp trị
Ôn hóa thủy ẩm, thông dương lợi khí.
Mười lăm. Thực tích trở Vị
Nguyên nhân: Ăn uống quá nhanh, quá nhiều hoặc không điều độ.
Chứng trạng: Bụng và Vị quản trướng đau, ợ hơi, hồi hộp, ngực trái khó chịu; rêu lưỡi dày nhầy, mạch hoạt hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Thực tích làm Vị khí không giáng, khí cơ Trung tiêu bế tắc, ảnh hưởng Tâm mạch.
Pháp trị
Tiêu thực đạo trệ, hòa Vị lý khí.
Mười sáu. Can uất hóa hỏa
Nguyên nhân: Uất ức, tức giận hoặc tình chí không thư thái kéo dài.
Chứng trạng: Hồi hộp, phiền muộn, dễ cáu, ngực sườn đầy, mắt đỏ, miệng đắng; lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.
Bệnh cơ
Can khí uất lâu hóa hỏa, hỏa thượng nhiễu Tâm.
Pháp trị
Sơ Can giải uất, thanh hỏa an thần.
Mười bảy. Tâm hỏa vượng
Nguyên nhân: Tình chí hóa hỏa, ăn nhiều cay nóng, lao tâm, mất ngủ hoặc âm hư.
Chứng trạng: Hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng, miệng lưỡi lở loét, miệng đắng, đầu lưỡi đỏ; mạch sác.
Bệnh cơ
Tâm hỏa nội thịnh, quấy nhiễu Tâm thần và Tâm mạch.
Pháp trị
Thanh Tâm tả hỏa, an thần.
Mười tám. Tâm Thận bất giao
Nguyên nhân: Thận âm hư, bệnh lâu ngày, tuổi cao, phòng thất quá độ hoặc Tâm hỏa vượng.
Chứng trạng: Hồi hộp, hay quên, phiền muộn, mất ngủ, chóng mặt, ù tai, ngũ tâm phiền nhiệt, lưng gối mỏi; lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Thận thủy không thể tế Tâm hỏa, Tâm Thận mất giao thông.
Pháp trị
Tư âm giáng hỏa, giao thông Tâm Thận.
Mười chín. Âm hư dương kháng
Nguyên nhân: Can Thận âm hư, tuổi cao, bệnh lâu ngày hoặc lao lực.
Chứng trạng: Chóng mặt, hồi hộp, mắt khô, hoa mắt, bứt rứt, ngủ ít, nhiều mộng, lòng bàn tay chân nóng; lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác hoặc huyền tế.
Bệnh cơ
Âm không chế được dương, hư dương thượng nhiễu thanh khiếu và Tâm thần.
Pháp trị
Tư âm tiềm dương, dưỡng Tâm an thần.
Chú ý
Không nên đồng nhất trực tiếp từng mạch tượng hoặc thể bệnh Đông y với một loại rối loạn nhịp hiện đại.
Người bệnh có thể đồng thời mang nhiều bệnh cơ, chẳng hạn khí hư huyết ứ, khí âm lưỡng hư, đàm ứ hỗ kết hoặc dương hư thủy ẩm.
Điện tâm đồ là căn cứ cần thiết để xác định nhịp nhanh, nhịp chậm, ngoại tâm thu, rung nhĩ, block dẫn truyền hoặc nhịp nhanh thất.
Khi có đau ngực, khó thở, ngất, gần ngất, nhịp rất nhanh hoặc quá chậm, cần khám hoặc cấp cứu, không nên chỉ dựa vào biện chứng Đông y.
Kết luận
Rối loạn nhịp tim trong Đông y chủ yếu thuộc phạm vi Tâm quý, Kinh quý, Chinh xung, Hung tý, Huyễn vựng, Bất mị và Quyết chứng. Các mạch tượng thường gặp gồm Kết, Đại, Xúc, Trì và Sác.
Vị trí bệnh chủ yếu tại Tâm, nhưng có quan hệ mật thiết với Tỳ, Can, Thận, Phế và Đởm.
Bệnh cơ có thể quy về hai phương diện là bản hư và tiêu thực. Bản hư gồm khí, huyết, âm, dương, tinh và tạng phủ suy tổn; tiêu thực gồm đàm, ẩm, huyết ứ, khí trệ, hàn ngưng và hỏa nhiệt.
Kinh quý thường liên quan kinh sợ và phát thành từng cơn. Chinh xung thường liên quan hư tổn, phát kéo dài và không có thời gian nhất định. Tâm quý là tên gọi chung cho cảm giác Tâm đập không yên.
Trong điều trị, hư thì ích khí, dưỡng huyết, tư âm, ôn dương và bổ Thận; thực thì hóa đàm, lợi ẩm, hoạt huyết, lý khí, tán hàn hoặc thanh hỏa; đồng thời thường phối hợp phương pháp dưỡng Tâm, an thần và định quý.
Nói tóm lại, biện chứng rối loạn nhịp không chỉ căn cứ cảm giác hồi hộp hay mạch ngừng, mà cần xem xét toàn bộ tình trạng khí, huyết, âm, dương, đàm, ứ, hàn, nhiệt và chức năng của các tạng.
Đông y có thể hỗ trợ điều chỉnh thể trạng và triệu chứng khi đã biện chứng rõ, nhưng không thay thế điện tâm đồ, thuốc chống loạn nhịp, thuốc chống đông, tạo nhịp, đốt điện hoặc các biện pháp cấp cứu khi có chỉ định.
Trường Xuân Đường biên soạn và tổng hợp