Khái quát
Trong y học cổ truyền không có bệnh danh hoàn toàn tương ứng với “tăng huyết áp” của y học hiện đại. Căn cứ vào những biểu hiện thường gặp như đau đầu, hoa mắt chóng mặt, ù tai, hồi hộp, mất ngủ, tê bì tay chân, miệng mắt méo lệch hoặc bán thân bất toại, bệnh thường được xem xét trong phạm vi các chứng huyễn vựng 眩晕, đầu thống 頭痛, tâm quý 心悸 và trúng phong 中風.
Tăng huyết áp được xác định bằng số đo huyết áp, không thể chỉ căn cứ vào triệu chứng. Nhiều người có huyết áp tăng nhưng không cảm thấy khó chịu rõ rệt. Vì vậy, biện chứng Trung y chỉ có ý nghĩa hỗ trợ nhận định tình trạng toàn thân và lựa chọn phương pháp điều trị phối hợp, không thay thế việc đo huyết áp, đánh giá nguy cơ tim mạch và sử dụng thuốc theo hướng dẫn chuyên môn.
NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y VỀ TĂNG HUYẾT ÁP
Những ghi chép trong y thư cổ
Trong Nội Kinh có câu:
“Chư phong điệu huyễn, giai thuộc vu can” 諸風掉眩,皆屬於肝.
Các chứng rung động, choáng váng, hoa mắt phần nhiều có quan hệ với Can.
Lại nói:
“Thận hư tắc đầu trọng cao dao, tủy hải bất túc, tắc não chuyển nhĩ minh” 腎虛則頭重高搖,髓海不足,則腦轉耳鳴.
Thận hư thì đầu nặng, thân thể không vững; tủy hải bất túc thì đầu óc choáng váng, tai ù.
Những nhận định này cho thấy chứng huyễn vựng có quan hệ mật thiết với Can và Thận.
Các y gia đời sau còn nhận thấy đau đầu, chóng mặt có thể phát sinh do Can hỏa thượng nghịch, Can dương thượng kháng, đàm trọc che lấp thanh khiếu hoặc âm tinh bất túc, không thể nuôi dưỡng não tủy.
Đan Khê tâm pháp có câu:
“Vô đàm bất tác huyễn” 無痰不作眩.
Ý nói đàm trọc là một trong những bệnh cơ thường gặp của chứng huyễn vựng. Tuy nhiên, câu này không nên hiểu tuyệt đối, bởi huyễn vựng còn có thể do khí huyết hư, Can Thận bất túc, huyết ứ, khí uất hoặc nhiều bệnh cơ kết hợp.
Bệnh danh và phạm vi chứng trạng
Căn cứ vào biểu hiện lâm sàng, tăng huyết áp thường liên quan đến các chứng sau:
Huyễn vựng: Hoa mắt, chóng mặt, cảm giác quay cuồng hoặc đứng không vững.
Đầu thống: Đau đầu, căng đầu, đau vùng đỉnh đầu hoặc vùng chẩm gáy.
Tâm quý: Hồi hộp, cảm giác tim đập mạnh hoặc không yên.
Bất mị: Khó ngủ, ngủ chập chờn, nhiều mộng.
Trúng phong: Đột ngột méo miệng, yếu hoặc liệt nửa người, nói khó, rối loạn ý thức.
Không phải mọi người tăng huyết áp đều có đầy đủ những biểu hiện trên. Ngược lại, đau đầu hoặc chóng mặt cũng không nhất thiết do tăng huyết áp. Khi xuất hiện triệu chứng, cần kết hợp số đo huyết áp và thăm khám để xác định nguyên nhân.
NGUYÊN NHÂN VÀ BỆNH CƠ
Tình chí thất điều
Căng thẳng kéo dài, tức giận, uất ức hoặc lo nghĩ quá độ có thể làm Can mất sơ tiết, Can khí uất kết. Khí uất lâu ngày hóa hỏa, Can hỏa thượng viêm; hoặc hỏa nhiệt làm tổn thương Can âm, khiến âm không chế được dương, Can dương thượng kháng.
Can và Thận đồng nguyên. Can âm tổn thương lâu ngày có thể liên lụy đến Thận âm; ngược lại, Thận âm bất túc cũng không thể tư dưỡng Can mộc. Vì vậy, Can Thận âm hư và Can dương thượng kháng thường cùng tồn tại.
Ẩm thực bất tiết
Ăn nhiều thức béo ngọt, uống rượu thường xuyên hoặc ăn uống không điều độ có thể làm tổn thương Tỳ Vị. Tỳ mất kiện vận thì thủy thấp đình tụ, thấp lâu ngày sinh đàm; đàm thấp trở trệ trung tiêu, thanh dương không thăng, trọc âm không giáng, từ đó phát sinh đầu nặng, chóng mặt, buồn nôn, ngực tức và cơ thể nặng nề.
Nếu thấp uất hóa nhiệt, đàm nhiệt có thể quấy nhiễu thanh khiếu, làm đau đầu, bứt rứt, mất ngủ và miệng đắng.
Lao quyện và tuổi cao
Làm việc quá sức, sinh hoạt thất thường, bệnh lâu ngày hoặc tuổi cao có thể làm khí huyết và tinh khí của Can Thận suy giảm. Thận tinh bất túc thì tủy hải không được nuôi dưỡng, gây hoa mắt, ù tai, trí nhớ giảm, lưng gối đau mỏi.
Nếu Thận âm bất túc, Can dương mất sự chế ước sẽ thượng kháng. Nếu bệnh kéo dài làm âm tổn cập dương, có thể xuất hiện Thận dương hư với biểu hiện sợ lạnh, chân tay lạnh, tiểu đêm nhiều và tinh thần mệt mỏi.
Đàm trọc và huyết ứ
Bệnh lâu ngày, khí cơ không thông, đàm thấp đình tụ hoặc huyết vận không điều hòa đều có thể hình thành huyết ứ. Đàm và ứ có thể cùng kết lại, trở trệ kinh lạc, khiến đau đầu cố định, tê bì tay chân, đau tức ngực hoặc lưỡi tím tối.
Trong trường hợp nặng, đàm, hỏa, phong và ứ cùng quấy nhiễu thanh khiếu có thể liên quan đến biểu hiện của trúng phong.
Đặc điểm bệnh cơ
Bệnh cơ tăng huyết áp theo Trung y thường có đặc điểm bản hư tiêu thực.
Bản hư chủ yếu là Can Thận âm hư, khí huyết bất túc, Tỳ khí hư hoặc âm dương lưỡng hư.
Tiêu thực thường là Can dương thượng kháng, Can hỏa thượng viêm, đàm thấp, đàm nhiệt, huyết ứ hoặc nội phong.
Ở giai đoạn đầu, biểu hiện thực chứng hoặc bản hư tiêu thực thường rõ hơn. Bệnh kéo dài có thể dần chuyển sang Can Thận hư tổn, âm dương đều suy, đồng thời xen lẫn đàm và huyết ứ.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Việc phân thể dưới đây chỉ trình bày những mô hình bệnh cơ thường gặp. Trên thực tế, một người có thể đồng thời mang nhiều thể bệnh và bệnh cơ có thể thay đổi theo từng giai đoạn.
Biểu hiện
Hoa mắt chóng mặt, đau đầu hoặc căng đầu, đau nhiều ở vùng thái dương hay đỉnh đầu, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng đắng, dễ cáu giận, ngủ không yên. Có thể kèm cổ gáy căng cứng.
Lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng. Mạch huyền, có thể huyền sác.
Bệnh cơ
Can âm hoặc Can Thận âm suy, không đủ chế ước Can dương; hoặc tình chí không điều hòa làm Can khí uất, hóa hỏa, khiến dương khí và hỏa nhiệt thượng nhiễu thanh khiếu.
Trị pháp
Bình Can tiềm dương, thanh nhiệt tức phong.
Phương thang tham khảo
Thiên ma câu đằng ẩm.
Nếu Can hỏa và thấp nhiệt rõ, có thể căn cứ chứng trạng mà xem xét phép thanh Can tả hỏa. Không nên mặc nhiên sử dụng Long đởm tả can thang cho mọi trường hợp đau đầu hoặc huyết áp tăng.
Biểu hiện
Hoa mắt chóng mặt kéo dài, đầu nặng chân nhẹ, ù tai, mắt khô, nhìn mờ, hay quên, lưng gối đau mỏi, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng họng khô, hồi hộp và mất ngủ.
Lưỡi đỏ, ít rêu hoặc rêu mỏng. Mạch huyền tế sác.
Bệnh cơ
Can Thận âm tinh bất túc, không thể tư dưỡng cân mạch và não tủy; âm không chế được dương nên Can dương thượng kháng.
Trị pháp
Tư dưỡng Can Thận, dưỡng âm tiềm dương.
Phương thang tham khảo
Kỷ cúc địa hoàng hoàn gia giảm.
Tri bá địa hoàng hoàn có thể được xem xét khi âm hư hỏa vượng rõ, nhưng cần biện chứng, không nên dùng chỉ vì có huyết áp cao.
Biểu hiện
Chóng mặt, đầu nặng như bị quấn bọc, ngực bụng đầy tức, buồn nôn, nhiều đờm, cơ thể nặng nề, ăn kém, buồn ngủ, có thể thừa cân.
Lưỡi nhạt hoặc bệu, rêu trắng dày nhớt. Mạch nhu hoạt hoặc huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thủy thấp đình tụ, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc trở trệ trung tiêu, thanh dương không thăng lên được đầu mặt.
Trị pháp
Kiện Tỳ hóa đàm, táo thấp giáng nghịch.
Phương thang tham khảo
Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia giảm.
Biểu hiện
Chóng mặt, đau đầu, ngực tức, nhiều đàm, miệng đắng, bứt rứt, dễ cáu, ngủ không yên, có thể buồn nôn.
Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt. Mạch huyền hoạt sác.
Bệnh cơ
Đàm thấp uất lâu hóa nhiệt, đàm nhiệt theo khí nghịch lên trên, quấy nhiễu tâm thần và thanh khiếu.
Trị pháp
Thanh nhiệt hóa đàm, bình Can giáng nghịch.
Phương thang cần được lựa chọn căn cứ vào biểu hiện cụ thể, tránh sử dụng thuốc đắng lạnh kéo dài khi Tỳ Vị hư yếu.
Biểu hiện
Đau đầu có vị trí cố định, đau như kim châm, thường tăng về đêm; chóng mặt kéo dài, tê bì tay chân, đau tức ngực, môi hoặc sắc mặt tối.
Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ huyết. Mạch sáp hoặc huyền sáp.
Bệnh cơ
Khí trệ, đàm thấp hoặc bệnh lâu ngày làm huyết hành không thông, huyết ứ trở trệ mạch lạc.
Trị pháp
Hoạt huyết hóa ứ, thông lạc chỉ thống.
Khi người bệnh đang dùng thuốc chống đông, thuốc chống kết tập tiểu cầu hoặc có nguy cơ xuất huyết, việc sử dụng dược liệu hoạt huyết phải đặc biệt thận trọng.
Biểu hiện
Chóng mặt tăng khi đứng dậy hoặc sau lao lực, sắc mặt nhợt, hồi hộp, đoản hơi, mệt mỏi, ăn kém, ngủ không yên.
Lưỡi nhạt. Mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Khí huyết không đủ, thanh dương không thăng, não tủy và tâm thần không được nuôi dưỡng.
Trị pháp
Bổ ích khí huyết, kiện Tỳ dưỡng tâm.
Thể này cần phân biệt với tụt huyết áp tư thế, thiếu máu, rối loạn nhịp tim và các nguyên nhân chóng mặt khác.
Biểu hiện
Hoa mắt, ù tai, nhìn mờ, hồi hộp, lưng gối đau mỏi, tinh thần mệt mỏi, mất ngủ, tiểu đêm nhiều; vừa có miệng họng khô, lòng bàn tay chân nóng, vừa có sợ lạnh, chân tay lạnh hoặc phù nhẹ.
Lưỡi nhạt bệu hoặc đỏ ít rêu tùy mức độ thiên về âm hư hay dương hư. Mạch trầm tế hoặc huyền tế.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài làm Can Thận hư tổn, âm tổn cập dương hoặc âm dương cùng suy.
Trị pháp
Điều bổ âm dương, lấy bổ Thận làm căn bản, đồng thời căn cứ đàm, ứ và dương kháng để phối hợp.
Phương thang tham khảo
Kim quỹ thận khí hoàn chỉ thích hợp khi có biểu hiện Thận dương hư rõ. Không dùng chỉ căn cứ vào tuổi cao, đau lưng hoặc huyết áp tăng.
Biểu hiện
Tay chân tê yếu, miệng mắt méo lệch, nói khó, vận động không linh hoạt hoặc bán thân bất toại.
Lưỡi lệch, rêu nhớt. Mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ
Phong, đàm và huyết ứ trở trệ kinh lạc.
Trị pháp
Tức phong hóa đàm, hoạt huyết thông lạc.
Những biểu hiện này có thể là dấu hiệu đột quỵ. Cần gọi cấp cứu ngay, không chờ sắc thuốc, châm cứu hoặc tự điều trị tại nhà.
TRUNG DƯỢC THƯỜNG ĐƯỢC ĐỀ CẬP
Các vị thuốc dưới đây được trình bày theo công năng truyền thống. Liều lượng và cách phối hợp phải căn cứ thể chất, bệnh kèm theo và những thuốc người bệnh đang sử dụng.
Cát căn 葛根
Công năng giải cơ, thư cân, sinh tân. Thường được đề cập khi đau đầu, chóng mặt kèm cổ gáy cứng. Cát căn không phải thuốc thay thế thuốc hạ huyết áp.
Cúc hoa 菊花
Sơ phong thanh nhiệt, bình Can minh mục. Thường dùng khi hoa mắt, đau đầu, mắt đỏ hoặc Can dương thượng kháng nhẹ.
Hạ khô thảo 夏枯草
Thanh Can hỏa, tán uất kết. Có thể được xem xét khi đau đầu, mắt đỏ, miệng đắng, bứt rứt thuộc Can hỏa. Tính thuốc thiên về đắng lạnh, người Tỳ Vị hư hàn không nên tự dùng kéo dài.
Hoàng cầm 黃芩
Thanh nhiệt táo thấp, tả hỏa giải độc. Thường phối hợp trong chứng đàm nhiệt hoặc Can hỏa, nhưng không thích hợp với mọi thể tăng huyết áp.
Câu đằng 鉤藤
Thanh nhiệt bình Can, tức phong. Thường dùng trong chứng đau đầu, chóng mặt, mất ngủ và Can dương thượng kháng. Khi sắc thuốc thường được cho vào sau để hạn chế ảnh hưởng đến thành phần dễ bay hơi.
Thiên ma 天麻
Bình Can tức phong, chỉ huyễn. Có thể dùng trong nhiều loại huyễn vựng nhưng phải phối hợp theo bệnh cơ. Đàm thấp thường phối với Bán hạ, Bạch truật, Phục linh; Can dương thượng kháng thường phối với Câu đằng, Thạch quyết minh.
Thạch quyết minh 石決明
Bình Can tiềm dương, thanh Can minh mục. Thường dùng khi Can dương thượng kháng kèm mắt đỏ, nhìn mờ hoặc đau đầu. Là dược liệu khoáng xác cứng, khi sắc thường cần đập vụn và sắc trước.
Địa long 地龍
Thanh nhiệt tức phong, thông lạc. Thường xuất hiện trong các phương điều trị kinh lạc bế trở, tê bì hoặc bán thân bất toại. Không nên tự sử dụng vì có thể tương tác với thuốc ảnh hưởng đến đông máu.
La bố ma diệp 羅布麻葉
Bình Can an thần, thanh nhiệt lợi thủy. Một số tài liệu sử dụng trong chứng chóng mặt, hồi hộp và mất ngủ. Dược liệu này vẫn có thể gây hạ huyết áp quá mức hoặc tương tác với thuốc, vì vậy không nên tùy tiện uống như trà hằng ngày.
Xuyên khung 川芎
Hoạt huyết hành khí, khu phong chỉ thống. Thường dùng khi đau đầu liên quan khí trệ huyết ứ. Cần thận trọng ở người có nguy cơ xuất huyết hoặc đang dùng thuốc chống đông, chống kết tập tiểu cầu.
Tang ký sinh 桑寄生
Khu phong thấp, bổ Can Thận, cường gân cốt. Có thể được phối hợp khi tăng huyết áp kèm Can Thận bất túc, lưng gối đau mỏi.
Đỗ trọng 杜仲
Bổ Can Thận, cường gân cốt. Thường được đề cập trong chứng Can Thận hư kèm đau lưng, gối yếu. Không nên chỉ căn cứ vào tác dụng hạ huyết áp được ghi nhận trong một số nghiên cứu để sử dụng đơn độc.
Đan bì 牡丹皮
Thanh nhiệt lương huyết, hoạt huyết tán ứ. Có thể phối hợp trong âm hư nội nhiệt hoặc huyết ứ, nhưng cần thận trọng nếu đang dùng thuốc chống đông.
Hoàng liên 黃連
Thanh nhiệt táo thấp, tả hỏa giải độc. Thuốc rất đắng lạnh, không phải dược liệu dùng thường quy để hạ huyết áp và có thể tương tác với nhiều thuốc khác.
THUỐC THÀNH PHẨM TRUNG Y
Long đởm tả can hoàn
Công năng thanh tả Can Đởm thực hỏa, thanh lợi thấp nhiệt. Chỉ phù hợp khi có biểu hiện thực nhiệt hoặc thấp nhiệt rõ như miệng đắng, mắt đỏ, đau đầu, bứt rứt, tiểu vàng, lưỡi đỏ rêu vàng.
Không nên dùng kéo dài hoặc tự dùng cho người Tỳ Vị hư yếu, phụ nữ mang thai và người không có biểu hiện thực nhiệt.
Đương quy long hội hoàn
Có công năng thanh Can tả hỏa, thông tiện. Tính thuốc khổ hàn và công hạ tương đối mạnh, chỉ thích hợp với một số trường hợp Can hỏa thực thịnh kèm đại tiện bí kết.
Không dùng như một loại thuốc hạ huyết áp thông thường. Phụ nữ mang thai và người thể hư không nên sử dụng.
Não Lập Thanh
Thường được giới thiệu với công năng bình Can tiềm dương, tỉnh não an thần. Thành phần và hàm lượng có thể khác nhau tùy nhà sản xuất. Cần đọc kỹ nhãn thuốc, tránh dùng đồng thời nhiều sản phẩm có tác dụng an thần hoặc hạ huyết áp.
Thanh não giáng áp phiến
Thường được dùng theo hướng tư âm thanh Can, bình Can tiềm dương. Đây là thuốc thành phẩm cần được sử dụng theo đúng chỉ định và thành phần cụ thể, không nên dùng chỉ dựa vào tên gọi “giáng áp”.
Kỷ cúc địa hoàng hoàn
Có công năng tư bổ Can Thận, dưỡng âm minh mục. Thích hợp hơn với người có biểu hiện Can Thận âm hư như mắt khô, nhìn mờ, ù tai, lưng gối đau mỏi, lưỡi đỏ ít rêu.
Sản phẩm này không có tác dụng thay thế thuốc kiểm soát huyết áp và không phù hợp với người đàm thấp nặng, đầy bụng, tiêu hóa kém nếu chưa được gia giảm thích hợp.
CHÂM CỨU HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc chung
Châm cứu có thể được sử dụng như phương pháp hỗ trợ nhằm cải thiện đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, căng thẳng và một số rối loạn thần kinh thực vật. Hiệu quả thay đổi tùy từng người và không thay thế thuốc điều trị tăng huyết áp.
Việc chọn huyệt cần căn cứ vào biện chứng, tình trạng tim mạch và sức khỏe tổng thể.
Một số huyệt thường được đề cập
Can-3 Thái xung 太衝: Sơ Can lý khí, bình Can tức phong.
Đởm-20 Phong trì 風池: Sơ phong, thanh đầu mục, thường dùng khi đau đầu và chóng mặt.
Đốc-20 Bách hội 百會: Thăng dương, tỉnh não, điều hòa thần chí; thủ pháp cần thận trọng ở người dương kháng.
Đại trường-11 Khúc trì 曲池: Sơ phong thanh nhiệt, điều hòa khí huyết.
Tâm bào-6 Nội quan 內關: Khoan hung, lý khí, an thần, điều hòa tâm mạch.
Tỳ-6 Tam âm giao 三陰交: Điều hòa Can, Tỳ, Thận; không châm tùy tiện ở phụ nữ mang thai.
Thận-3 Thái khê 太谿: Bổ Thận, ích âm, điều hòa âm dương.
Thận-7 Phục lưu 復溜: Điều bổ Thận khí, điều hòa thủy dịch.
Vị-36 Túc tam lý 足三里: Kiện Tỳ ích khí, điều hòa khí huyết.
Can-2 Hành gian 行間: Thanh Can tả hỏa.
Đởm-34 Dương lăng tuyền 陽陵泉: Sơ Can lợi Đởm, thư cân.
Đởm-39 Huyền chung 懸鐘, còn gọi Tuyệt cốt 絕骨: Điều hòa tủy hội, thư cân hoạt lạc.
Thận-1 Dũng tuyền 湧泉: Khai khiếu, giáng nghịch, dẫn hỏa quy nguyên.
Vị-9 Nhân nghênh 人迎: Huyệt nằm gần động mạch cảnh, chỉ được châm bởi người có chuyên môn vững; không tự day ấn mạnh hai bên cùng lúc.
Bàng quang-18 Can du 肝俞: Điều Can, dưỡng huyết, thanh Can nhiệt.
Châm cứu vùng cổ, huyệt Nhân nghênh hoặc các huyệt gần mạch máu lớn cần đặc biệt thận trọng. Người đang dùng thuốc chống đông, có rối loạn đông máu hoặc huyết áp chưa ổn định phải thông báo đầy đủ cho người thực hiện.
KHÍ CÔNG VÀ LUYỆN THỞ
Vai trò hỗ trợ
Các phương pháp thả lỏng, luyện thở chậm, thiền tĩnh hoặc khí công nhẹ nhàng có thể giúp giảm căng thẳng, cải thiện giấc ngủ và hỗ trợ điều hòa thần kinh thực vật. Đây là biện pháp bổ trợ, không phải phương pháp thay thế thuốc.
Phương pháp thả lỏng ba đường
Tư thế
Có thể đứng hoặc ngồi trên ghế chắc chắn. Giữ lưng tương đối thẳng, cổ thả lỏng, cằm hơi thu, hai bàn chân đặt vững trên mặt đất. Người cao tuổi hoặc dễ chóng mặt nên ưu tiên tư thế ngồi.
Cách luyện
Nhắm mắt nhẹ hoặc nhìn xuống phía trước. Hít thở tự nhiên, không nín thở và không cố kéo hơi quá sâu.
Lần lượt đưa sự chú ý qua ba đường của cơ thể:
Đường trước: Từ mặt, cổ, ngực, bụng, mặt trước hai chân xuống bàn chân.
Đường hai bên: Từ hai bên đầu, cổ, vai, cánh tay, hông và mặt ngoài hai chân xuống bàn chân.
Đường sau: Từ sau đầu, gáy, lưng, thắt lưng, mặt sau hai chân xuống gót chân.
Ở mỗi vùng, chỉ cần cảm nhận và nhẹ nhàng thả lỏng. Không cần cố tưởng tượng luồng khí đi vào cơ thể hoặc ép buộc xuất hiện cảm giác đặc biệt.
Thời gian
Có thể luyện từ 5 đến 15 phút mỗi lần, một hoặc hai lần trong ngày. Nên dừng lại khi xuất hiện chóng mặt tăng, đau ngực, khó thở, tim đập bất thường hoặc cảm giác sắp ngất.
Những điểm cần chú ý
Không luyện khi quá đói, quá no, đang xúc động mạnh hoặc vừa uống rượu.
Không đứng luyện một mình nếu thường xuyên chóng mặt hoặc có nguy cơ té ngã.
Không tự ý giảm thuốc vì thấy huyết áp hạ sau khi luyện.
Đo huyết áp đúng cách và ghi lại kết quả để bác sĩ đánh giá.
ĐIỀU DƯỠNG TRONG SINH HOẠT
Điều hòa tình chí
Giữ nhịp sinh hoạt tương đối ổn định, tránh căng thẳng kéo dài và hạn chế những kích thích làm cảm xúc dao động mạnh. Ngủ đủ, nghỉ ngơi hợp lý và luyện thở chậm có thể hỗ trợ điều hòa Can khí và thần chí.
Ẩm thực điều độ
Ăn thanh đạm, hạn chế muối, thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn quá béo, rượu và lượng đường quá cao. Không nên vì quan niệm “bổ” mà dùng nhiều cao bổ, rượu thuốc hoặc dược liệu ôn nhiệt khi chưa xác định thể bệnh.
Vận động thích hợp
Đi bộ, đạp xe nhẹ, bơi hoặc vận động vừa sức có thể hỗ trợ kiểm soát huyết áp. Cường độ cần tăng dần. Người có bệnh tim mạch, đau ngực, khó thở hoặc huyết áp rất cao cần được đánh giá trước khi luyện tập.
Theo dõi huyết áp
Nên đo huyết áp vào thời điểm tương đối cố định, sau khi ngồi nghỉ yên ít nhất vài phút. Tránh đo ngay sau khi vận động, hút thuốc, uống cà phê hoặc đang xúc động.
Không nên đo liên tục quá nhiều lần vì lo lắng, nhưng cũng không nên chỉ căn cứ vào cảm giác cơ thể để cho rằng huyết áp đã ổn định.
CHÚ Ý AN TOÀN
Không tự ý ngừng thuốc hạ huyết áp
Các thuốc điều trị tăng huyết áp cần được dùng đều đặn theo chỉ định. Tự ý ngừng thuốc có thể làm huyết áp tăng trở lại, thậm chí dẫn đến cơn tăng huyết áp, đột quỵ, nhồi máu cơ tim hoặc tổn thương thận.
Không sử dụng phương dân gian nguy hiểm
Không nên sử dụng các phương có Phụ tử chưa được chế biến và kiểm soát chặt chẽ, Tỳ ma nhân, giun đất sống, trứng sống ngâm giấm hoặc các nguyên liệu không bảo đảm vệ sinh. Những phương pháp này có thể gây ngộ độc, nhiễm khuẩn, tổn thương gan thận hoặc tương tác với thuốc đang dùng.
Đắp thuốc vào huyệt Dũng tuyền không có căn cứ để thay thế thuốc hạ huyết áp. Một số dược liệu đắp ngoài vẫn có thể hấp thu qua da hoặc gây phỏng, viêm da và ngộ độc.
Dấu hiệu cần cấp cứu
Cần gọi cấp cứu ngay khi huyết áp tăng rất cao kèm một trong các biểu hiện sau:
Đau ngực, khó thở hoặc vã mồ hôi lạnh.
Đau đầu dữ dội đột ngột.
Méo miệng, yếu hoặc tê một bên cơ thể.
Nói khó, nhìn mờ đột ngột hoặc mất thăng bằng.
Lú lẫn, co giật, ngất hoặc rối loạn ý thức.
Không nên chờ châm cứu, sắc thuốc, cạo gió hoặc luyện khí công khi xuất hiện những dấu hiệu này.
KẾT LUẬN
Theo Trung y, tăng huyết áp thường có quan hệ với Can, Thận, Tỳ và Tâm; bệnh cơ thường biểu hiện dưới dạng Can dương thượng kháng, Can hỏa, Can Thận âm hư, đàm thấp, đàm nhiệt, huyết ứ hoặc âm dương lưỡng hư. Trong đó, bản hư và tiêu thực thường xen lẫn, đồng thời thay đổi theo tuổi tác, thể chất và diễn biến bệnh.
Biện chứng luận trị có thể góp phần cải thiện những biểu hiện như đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, hồi hộp và mệt mỏi. Tuy nhiên, điều trị tăng huyết áp phải lấy việc kiểm soát huyết áp, giảm nguy cơ tổn thương tim, não, thận và mạch máu làm trọng tâm. Trung dược, châm cứu, khí công và điều dưỡng nên được sử dụng như những phương pháp phối hợp thích hợp, không thay thế việc theo dõi và điều trị theo y học hiện đại.
Trường Xuân biên soạn