Nguyên nhân và bệnh cơ theo Trung y
Khái luận
Trống ngực, hồi hộp là cảm giác người bệnh tự nhận thấy Tâm đập không yên, lúc nhanh, lúc mạnh, lúc hụt nhịp hoặc có cảm giác rung động trong lồng ngực. Mức độ có thể nhẹ, chỉ xuất hiện từng lúc khi xúc động hoặc mệt mỏi; cũng có thể kéo dài, tái diễn thường xuyên, kèm theo mất ngủ, chóng mặt, khó thở, đau ngực hoặc ngất.
Trong Trung y, chứng này chủ yếu thuộc phạm vi Tâm quý (心悸) và Chinh xung (怔忡).
Tâm quý thường chỉ cảm giác hồi hộp xuất hiện từng cơn, dễ bị khởi phát bởi kinh sợ, xúc động, lao lực hoặc ngoại tà.
Chinh xung thường biểu hiện nặng hơn, hồi hộp tự phát, kéo dài, người bệnh cảm thấy Tâm rung động không yên ngay cả khi không có tác nhân rõ ràng.
Trên phương diện mạch tượng, người bệnh có thể xuất hiện Kết mạch (结脉), Đại mạch (代脉), Xúc mạch (促脉), Trì mạch (迟脉) hoặc Sác mạch (数脉). Tuy nhiên, mạch tượng Trung y không thể thay thế điện tâm đồ trong việc xác định loại rối loạn nhịp.
Tâm chủ huyết mạch và tàng thần. Nhịp Tâm muốn điều hòa cần Tâm khí đầy đủ, Tâm dương ôn thông, Tâm huyết sung túc, Tâm âm nhu dưỡng; đồng thời Tỳ phải vận hóa tốt để sinh khí huyết, Thận âm dương phải đầy đủ để hỗ trợ Tâm, Can khí phải điều đạt, đàm trọc và huyết ứ không được bế trở Tâm mạch.
Vì vậy, bệnh cơ của chứng trống ngực có thể thuộc hư, thuộc thực hoặc hư thực xen lẫn. Hư thường liên quan đến khí, huyết, âm, dương suy tổn; thực thường liên quan đến đàm, hỏa, thủy ẩm, huyết ứ, khí trệ và ngoại tà.
Chú ý
Trống ngực không phải lúc nào cũng do bệnh Tâm nghiêm trọng, nhưng cũng không nên chỉ dựa vào cảm giác để tự chẩn đoán.
Khi hồi hộp kèm đau ngực, khó thở, ngất, gần ngất, vã mồ hôi lạnh, sắc mặt tái xám, yếu liệt, nói khó hoặc Tâm đập quá nhanh hay quá chậm kéo dài, cần được cấp cứu và làm điện tâm đồ.
Nguyên nhân gây trống ngực theo Trung y
Một. Thể chất vốn suy yếu
Người có thể chất yếu, khí huyết không đầy đủ hoặc Tâm khí vốn bất túc thường dễ xuất hiện hồi hộp.
Những nguyên nhân thường gặp gồm:
Bẩm tố hư nhược.
Thường xuyên mắc bệnh.
Lao lực kéo dài.
Ăn uống thiếu thốn.
Mất máu lâu ngày.
Sau sinh khí huyết chưa hồi phục.
Tuổi cao, khí huyết suy giảm.
Khi khí, huyết, âm hoặc dương không đầy đủ, Tâm mạch mất sự nuôi dưỡng và thúc đẩy. Tâm thần không có nơi nương tựa vững chắc nên người bệnh cảm thấy Tâm đập không yên.
Nếu thiên về Tâm khí hư, thường thấy hồi hộp, mệt, thở ngắn, tự ra mồ hôi và mạch hư.
Nếu thiên về Tâm huyết hư, thường thấy hồi hộp, mất ngủ, chóng mặt, sắc mặt nhợt và mạch tế.
Nếu thiên về Tâm âm hư, thường thấy hồi hộp, miệng khô, mất ngủ, lòng bàn tay chân nóng và mạch tế sác.
Nếu thiên về Tâm dương hư, thường thấy hồi hộp, sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt, phù và mạch trầm trì.
Hai. Bệnh lâu ngày làm chính khí suy
Bệnh kéo dài thường làm khí huyết, âm dương hao tổn. Nếu bệnh nhiệt kéo dài, tân dịch và âm huyết dễ bị tổn thương; nếu bệnh hàn lâu ngày hoặc dùng thuốc công phạt quá mức, dương khí có thể suy giảm.
Bệnh nhiệt làm tổn thương âm, khiến Tâm âm và Thận âm không đủ. Thận thủy không thể chế ước Tâm hỏa, hư hỏa bốc lên quấy nhiễu Tâm thần, gây hồi hộp, mất ngủ, miệng khô và bứt rứt.
Bệnh lâu ngày cũng có thể làm Tâm khí và Tâm dương suy. Tâm không đủ sức thúc đẩy huyết vận hành, mạch đạo mất điều hòa, gây nhịp chậm, nhịp không đều hoặc cảm giác hụt nhịp.
Ba. Phòng thất quá độ
Sinh hoạt tình dục không điều độ có thể làm Thận tinh và Thận âm hao tổn.
Thận âm suy khiến thủy không tế hỏa, Tâm hỏa tương đối vượng và quấy nhiễu Tâm thần. Người bệnh có thể hồi hộp, mất ngủ, ù tai, lưng gối mỏi, miệng khô, mồ hôi đêm và lòng bàn tay chân nóng.
Nếu tổn thương đến Thận dương, người bệnh có thể hồi hộp, sợ lạnh, mệt, phù, tiểu ít và tay chân lạnh.
Như vậy, phòng thất quá độ có thể dẫn đến cả Tâm Thận âm hư lẫn Tâm Thận dương hư, tùy thể trạng và quá trình bệnh.
Bốn. Lao động và nghỉ ngơi không điều độ
Lao lực quá mức làm tổn thương khí.
Lao tâm, suy nghĩ kéo dài làm hao tổn Tâm huyết và Tỳ khí.
Ngồi lâu, nằm lâu, ít vận động làm khí cơ trì trệ, Tỳ vận hóa suy và đàm thấp dễ hình thành.
Làm việc quá sức trong thời gian dài khiến Tỳ khí bị tổn thương. Tỳ là nguồn sinh hóa khí huyết; Tỳ hư thì khí huyết sinh ra không đầy đủ, Tâm mất nuôi dưỡng và xuất hiện hồi hộp.
Người bệnh thường kèm:
Mệt.
Ăn kém.
Bụng đầy.
Sắc mặt nhợt.
Mất ngủ.
Nhiều mộng.
Trí nhớ giảm.
Đại tiện không điều hòa.
Đây thường là biểu hiện của Tâm Tỳ lưỡng hư.
Năm. Ăn uống không điều độ
Ăn uống thất thường, khi đói khi no, ăn quá nhiều đồ béo ngọt, chiên rán, cay nóng hoặc uống nhiều rượu có thể làm Tỳ Vị bị tổn thương.
Tỳ mất kiện vận thì thủy thấp đình lại, lâu ngày tụ thành đàm. Đàm trọc bế trở vùng ngực làm hung dương không thông, Tâm khí vận hành không thuận, gây hồi hộp, ngực nặng và khó thở.
Nếu đàm uất lâu ngày hóa nhiệt, đàm nhiệt thượng nhiễu Tâm thần, người bệnh có thể xuất hiện:
Tâm đập nhanh.
Bứt rứt.
Mất ngủ.
Nhiều mộng.
Miệng đắng.
Buồn nôn.
Đàm dính.
Rêu lưỡi vàng nhầy.
Nếu ăn uống quá nhiều món cay nóng, rượu và chất kích thích, hỏa nhiệt có thể bốc lên quấy nhiễu Tâm thần, khiến hồi hộp và mất ngủ tăng.
Sáu. Thất tình kích thích
Thất tình gồm hỉ, nộ, ưu, tư, bi, khủng và kinh.
Tình chí biến động quá mạnh hoặc kéo dài đều có thể ảnh hưởng đến Tâm thần và khí cơ của các tạng.
Người vốn Tâm khí và Tâm huyết suy yếu, khi đột nhiên kinh sợ hoặc gặp biến cố tinh thần, Tâm thần dễ mất nơi nương tựa, gây hồi hộp, hoảng hốt và mất ngủ.
Tố Vấn và Linh Khu nhiều lần đề cập quan hệ giữa tình chí và Tâm. Tư lự quá độ làm hao tổn Tâm Tỳ; buồn thương làm Tâm khí suy; kinh sợ khiến khí loạn; phẫn nộ làm Can khí nghịch; vui mừng quá mức cũng có thể làm Tâm thần tán loạn.
Tình chí kéo dài có thể gây bệnh theo nhiều cơ chế:
Lo nghĩ nhiều làm Tâm Tỳ lưỡng hư.
Buồn sầu kéo dài làm Tâm khí hao tổn.
Kinh sợ làm Tâm thần bất an.
Can uất làm khí trệ và ảnh hưởng Tâm mạch.
Ngũ chí hóa hỏa làm Tâm hỏa vượng.
Khí uất lâu ngày sinh đàm.
Âm huyết hao tổn làm Tâm mất nuôi dưỡng.
Trong Chư bệnh nguyên hậu luận có ý rằng suy nghĩ, phiền muộn quá nhiều sẽ làm tổn thương Tâm. Linh Khu cũng nêu buồn thương, sầu não có thể khiến Tâm bị dao động. Những nhận định này cho thấy tình chí và hoạt động của Tâm có quan hệ mật thiết.
Bảy. Cảm thụ ngoại tà
Phong, hàn, thấp tà có thể kết hợp xâm nhập kinh lạc và hình thành Tý chứng.
Tý chứng kéo dài, tà khí từ kinh lạc tiến sâu vào tạng phủ, có thể ảnh hưởng Tâm mạch, làm khí huyết vận hành không thuận và xuất hiện hồi hộp, đau ngực hoặc khó thở.
Hàn tà có tính co rút và ngưng trệ. Hàn xâm nhập Tâm mạch làm huyết vận hành không thông, gây ngực đau, tay chân lạnh và hồi hộp.
Thấp tà dễ lưu trệ, làm Tỳ vận hóa suy và sinh đàm. Đàm thấp thượng phạm Tâm có thể gây ngực nặng, hồi hộp và khó thở.
Ôn tà, dịch độc và bệnh nhiệt có thể trực tiếp phạm Tâm, làm Tâm thần bất an hoặc tổn thương Tâm khí, Tâm âm. Sau sốt cao hoặc nhiễm trùng kéo dài, người bệnh thường còn hồi hộp, mệt, miệng khô và ngủ kém, thuộc khí âm lưỡng hư.
Viêm cơ tim sau nhiễm virus có thể biểu hiện hồi hộp, đau ngực, mệt và rối loạn nhịp. Trường hợp này cần được đánh giá bằng y học hiện đại, không nên chỉ xem là ngoại tà phạm Tâm.
Tám. Thuốc và độc chất
Dùng thuốc không đúng liều, phối hợp thuốc không phù hợp hoặc sử dụng chất kích thích có thể làm Tâm khí bị tổn thương và gây rối loạn nhịp.
Các thuốc và chất có thể ảnh hưởng nhịp Tâm gồm:
Digoxin.
Thuốc chống loạn nhịp.
Adrenaline và thuốc giống giao cảm.
Atropine.
Một số thuốc tâm thần.
Thuốc kéo dài khoảng QT.
Caffeine liều cao.
Nước tăng lực.
Rượu.
Cocaine và amphetamine.
Theo cách diễn đạt của Trung y, thuốc độc có thể làm Tâm khí bị tổn thương, Tâm thần bất an, khí huyết nghịch loạn và xuất hiện “mạch kết đại, Tâm động quý”.
Tuy nhiên, khi nghi ngộ độc thuốc, cần ngừng tự dùng thuốc và đi khám ngay. Không dùng phương thang Trung y để trì hoãn việc kiểm tra điện tâm đồ, điện giải và nồng độ thuốc.
Bệnh cơ của chứng trống ngực
Một. Tâm huyết bất túc
Nguyên nhân
Lao tâm quá độ.
Mất máu.
Sau sinh.
Ăn uống kém.
Tỳ Vị khí hư.
Bệnh lâu ngày.
Bệnh cơ
Tâm huyết không đủ nuôi dưỡng Tâm thần và Tâm mạch. Tâm thần mất chỗ nương tựa nên hồi hộp, mất ngủ và dễ giật mình; huyết không đủ nhu dưỡng mạch nên nhịp dễ không điều hòa.
Chứng trạng
Hồi hộp.
Mất ngủ.
Nhiều mộng.
Chóng mặt.
Trí nhớ giảm.
Sắc mặt nhợt.
Môi nhạt.
Lưỡi nhạt.
Mạch tế nhược.
Pháp trị
Dưỡng huyết bổ Tâm, kiện Tỳ an thần.
Phương thang
Quy Tỳ thang gia giảm (归脾汤加减): Đảng sâm (党参), Hoàng kỳ (黄芪), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Đương quy (当归), Long nhãn nhục (龙眼肉), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Mộc hương (木香), Chích cam thảo (炙甘草), Đại táo (大枣), Sinh khương (生姜).
Hai. Âm hư hỏa vượng
Nguyên nhân
Bệnh nhiệt thương âm.
Bệnh lâu ngày.
Tuổi cao.
Phòng thất quá độ.
Lao tâm.
Tình chí hóa hỏa.
Bẩm tố âm hư.
Bệnh cơ
Tâm âm và Thận âm suy tổn, thủy không chế hỏa. Hư hỏa bốc lên quấy nhiễu Tâm thần, Tâm mạch không được âm huyết nhu dưỡng nên hồi hộp và mất ngủ.
Chứng trạng
Hồi hộp.
Tâm đập nhanh.
Mất ngủ.
Miệng họng khô.
Lòng bàn tay chân nóng.
Mồ hôi đêm.
Ù tai.
Lưng gối mỏi.
Lưỡi đỏ ít rêu.
Mạch tế sác.
Pháp trị
Tư âm giáng hỏa, dưỡng Tâm an thần, giao thông Tâm Thận.
Phương thang
Thiên vương bổ tâm đan hợp Giao thái hoàn gia giảm (天王补心丹合交泰丸加减): Sinh địa hoàng (生地黄), Huyền sâm (玄参), Mạch môn đông (麦门冬), Thiên môn đông (天门冬), Đan sâm (丹参), Đương quy (当归), Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁), Viễn chí (远志), Phục linh (茯苓), Ngũ vị tử (五味子), Hoàng liên (黄连) lượng nhỏ, Nhục quế (肉桂) lượng rất nhỏ.
Ba. Tâm dương bất túc
Nguyên nhân
Bệnh nặng.
Bệnh lâu ngày.
Dương khí suy nhược.
Phát hãn quá mức.
Dùng thuốc hàn lương lâu ngày.
Tuổi cao.
Bệnh Tâm mạn tính.
Bệnh cơ
Tâm dương suy, không đủ sức ôn thông Tâm mạch và thúc đẩy huyết vận hành. Huyết hành chậm, thủy dịch không hóa, có thể hình thành huyết ứ và thủy ẩm.
Chứng trạng
Hồi hộp.
Nhịp chậm hoặc không đều.
Ngực tức.
Thở ngắn.
Mệt.
Sợ lạnh.
Tay chân lạnh.
Sắc mặt trắng xanh.
Phù.
Lưỡi nhạt bệu.
Mạch trầm trì hoặc kết đại.
Pháp trị
Ôn dương ích khí, thông mạch định quý.
Phương thang
Quế chi cam thảo thang hợp Tham phụ thang gia giảm (桂枝甘草汤合参附汤加减): Quế chi (桂枝), Chích cam thảo (炙甘草), Đảng sâm (党参) hoặc Nhân sâm (人参), Phụ tử chế (制附子), Hoàng kỳ (黄芪), Phục linh (茯苓), Ngũ vị tử (五味子), Đan sâm (丹参).
Chú ý
Phụ tử có độc tính và có thể gây rối loạn nhịp. Không tự dùng ở người có bệnh Tâm, block dẫn truyền, huyết áp không ổn định hoặc đang sử dụng thuốc chống loạn nhịp.
Bốn. Thủy ẩm, đàm trọc lăng Tâm
Nguyên nhân
Tỳ dương hư.
Thận dương hư.
Ăn uống không điều độ.
Ăn nhiều béo ngọt.
Ít vận động.
Suy tim.
Thủy thấp đình trệ.
Bệnh cơ
Tỳ Thận dương hư, khí hóa không lợi, thủy dịch không được vận hóa và bài tiết. Thủy ẩm, đàm trọc thượng phạm Tâm Phế, ngăn trở Tâm dương và khí cơ vùng ngực.
Chứng trạng
Hồi hộp.
Ngực nặng.
Khó thở.
Đàm nhiều.
Buồn nôn.
Bụng đầy.
Phù.
Tiểu ít.
Chóng mặt.
Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng nhầy.
Mạch huyền hoạt hoặc trầm hoạt.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa đàm, ôn dương hóa ẩm, khoan hung thông dương.
Phương thang
Linh quế truật cam thang hợp Qua lâu giới bạch bán hạ thang gia giảm (苓桂术甘汤合瓜蒌薤白半夏汤加减): Phục linh (茯苓), Quế chi (桂枝), Bạch truật (白术), Chích cam thảo (炙甘草), Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Chỉ thực (枳实), Sinh khương (生姜), Đan sâm (丹参).
Năm. Huyết ứ trở lạc
Nguyên nhân
Tâm khí hư.
Tâm dương hư.
Can khí uất.
Hàn ngưng.
Đàm trọc.
Bệnh Tâm kéo dài.
Tuổi cao.
Bệnh mạch vành.
Bệnh van Tâm.
Bệnh cơ tim.
Bệnh cơ
Khí không đủ sức hành huyết hoặc khí cơ uất trệ làm huyết vận hành không thuận. Huyết ứ lưu lại trong Tâm mạch, khiến mạch đạo không thông và nhịp mất điều hòa.
Chứng trạng
Hồi hộp.
Ngực tức hoặc đau.
Đau có vị trí tương đối cố định.
Sắc mặt tối.
Môi hơi tím.
Lưỡi tím hoặc có điểm ứ.
Tĩnh mạch dưới lưỡi tím giãn.
Mạch sáp, kết hoặc đại.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, hành khí thông mạch, định quý.
Phương thang
Đan sâm ẩm hợp Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (丹参饮合血府逐瘀汤加减): Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Chỉ xác (枳壳), Cát cánh (桔梗), Uất kim (郁金), Cam thảo (甘草).
Chú ý
Người đang dùng thuốc chống đông hoặc chống kết tập tiểu cầu không được tự dùng phương hoạt huyết.
Sáu. Tâm khí hư
Nguyên nhân
Thể chất suy yếu.
Bệnh lâu ngày.
Lao lực.
Tuổi cao.
Sau nhiễm trùng.
Sau viêm cơ tim.
Bệnh Tâm mạn tính.
Bệnh cơ
Tâm khí không đủ sức thúc đẩy huyết vận hành. Tâm mạch mất điều hòa, Tâm thần không yên và vệ biểu không vững.
Chứng trạng
Hồi hộp.
Tâm đập yếu hoặc không đều.
Mệt.
Thở ngắn.
Tự ra mồ hôi.
Vận động nhẹ đã mệt.
Sắc mặt nhợt.
Lưỡi nhạt.
Mạch hư nhược hoặc kết.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, cố biểu, định quý.
Phương thang
Bảo nguyên thang hợp Sinh mạch tán gia giảm (保元汤合生脉散加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Chích cam thảo (炙甘草), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Phục linh (茯苓), Toan táo nhân (酸枣仁), Đan sâm (丹参).
Bảy. Khí âm lưỡng hư
Nguyên nhân
Sốt kéo dài.
Viêm cơ tim.
Bệnh lâu ngày.
Tuổi cao.
Lao lực.
Ra nhiều mồ hôi.
Dùng thuốc công phạt.
Bệnh cơ
Khí hư làm huyết mạch vận hành thiếu lực; âm hư làm Tâm mạch mất nhu dưỡng. Khí âm cùng tổn thương khiến Tâm đập không đều, người mệt và ngủ kém.
Chứng trạng
Hồi hộp.
Mệt.
Thở ngắn.
Miệng khô.
Ra mồ hôi.
Ngủ kém.
Ngực tức âm ỉ.
Lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu.
Mạch tế sác hoặc kết đại.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, phục mạch dưỡng Tâm.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Tám. Đàm nhiệt nhiễu Tâm
Nguyên nhân
Ăn nhiều béo ngọt.
Rượu.
Tỳ hư sinh đàm.
Đàm uất hóa nhiệt.
Can uất hóa hỏa.
Ngoại cảm nhiệt tà.
Bệnh cơ
Đàm nhiệt thượng nhiễu Tâm thần, làm Tâm thần bất an và nhịp không điều hòa. Đàm trở vùng ngực gây tức; nhiệt làm Tâm đập nhanh và bứt rứt.
Chứng trạng
Hồi hộp.
Tâm đập nhanh.
Ngực tức.
Bứt rứt.
Mất ngủ.
Đàm dính.
Buồn nôn.
Miệng đắng.
Lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy.
Mạch hoạt sác.
Pháp trị
Thanh nhiệt hóa đàm, an thần định quý, khoan hung.
Phương thang
Hoàng liên ôn đảm thang gia giảm (黄连温胆汤加减): Hoàng liên (黄连), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Qua lâu (瓜蒌), Đan sâm (丹参), Viễn chí (远志), Toan táo nhân (酸枣仁).
Chín. Can uất khí trệ
Nguyên nhân
Lo âu.
Tức giận.
Buồn phiền.
Tinh thần căng thẳng.
Mất ngủ kéo dài.
Bệnh cơ
Can khí uất làm khí cơ không điều đạt. Khí trệ ảnh hưởng huyết hành, lâu ngày có thể hóa hỏa, sinh đàm hoặc hình thành huyết ứ, làm Tâm thần và Tâm mạch không yên.
Chứng trạng
Hồi hộp tăng khi xúc động.
Ngực sườn đầy tức.
Hay thở dài.
Dễ cáu.
Mất ngủ.
Miệng đắng.
Lưỡi đỏ nhạt hoặc hơi tối.
Mạch huyền.
Pháp trị
Sơ Can lý khí, giải uất an thần, điều hòa Tâm mạch.
Phương thang
Sài hồ sơ can tán hợp Đan sâm ẩm gia giảm (柴胡疏肝散合丹参饮加减): Sài hồ (柴胡), Hương phụ (香附), Chỉ xác (枳壳), Bạch thược (白芍), Xuyên khung (川芎), Trần bì (陈皮), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金), Toan táo nhân (酸枣仁).
Mười. Kinh khủng nhiễu Tâm
Nguyên nhân
Đột nhiên kinh sợ.
Sang chấn tinh thần.
Lo âu kéo dài.
Sau biến cố nguy hiểm.
Bệnh cơ
Kinh làm khí loạn, khủng làm khí hạ. Tâm thần mất nơi nương tựa, Tâm khí bị nhiễu động, gây hồi hộp, hoảng hốt và dễ giật mình.
Chứng trạng
Hồi hộp đột ngột.
Hoảng sợ.
Dễ giật mình.
Ngủ không yên.
Nhiều mộng.
Bồn chồn.
Lưỡi nhạt hoặc đỏ nhạt.
Mạch động hoặc huyền.
Pháp trị
Trấn kinh định chí, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
An thần định chí hoàn gia giảm (安神定志丸加减): Nhân sâm (人参) hoặc Đảng sâm (党参), Phục thần (茯神), Phục linh (茯苓), Viễn chí (远志), Thạch xương bồ (石菖蒲), Long xỉ (龙齿), Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁), Ngũ vị tử (五味子).
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu chỉ nên được thực hiện khi người bệnh đã được xác định không có tình trạng cấp cứu và rối loạn nhịp tương đối ổn định.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Tâm-7 Thần môn (神门), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-14 Quyết âm du (厥阴俞), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Vị-40 Phong long (丰隆), Can-3 Thái xung (太冲), Thận-3 Thái khê (太溪), Nhâm-6 Khí hải (气海), Nhâm-12 Trung quản (中脘) và An miên.
Tâm khí hư phối Tâm bào-6 Nội quan, Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải và Bàng quang-15 Tâm du.
Tâm huyết hư phối Tâm-7 Thần môn, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-36 Túc tam lý và An miên.
Tâm âm hư phối Tâm-7 Thần môn, Thận-3 Thái khê, Tỳ-6 Tam âm giao và Tâm bào-6 Nội quan.
Đàm trọc phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý và Tâm bào-6 Nội quan.
Can uất phối Can-3 Thái xung, Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung và Tâm-7 Thần môn.
Huyết ứ phối Tâm bào-6 Nội quan, Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải và Tỳ-6 Tam âm giao.
Không châm cứu khi người bệnh đau ngực, khó thở, ngất, huyết áp không ổn định, nhịp rất nhanh hoặc rất chậm chưa rõ nguyên nhân.
Kết luận
Theo Trung y, chứng trống ngực, hồi hộp chủ yếu thuộc Tâm quý và Chinh xung. Bệnh hình thành khi Tâm khí, Tâm huyết, Tâm âm hoặc Tâm dương suy tổn; hoặc khi đàm trọc, đàm nhiệt, thủy ẩm, huyết ứ, khí trệ và ngoại tà quấy nhiễu Tâm mạch.
Nguyên nhân thường gặp gồm thể chất suy yếu, bệnh lâu ngày, lao lực, phòng thất quá độ, ăn uống không điều độ, thất tình kích thích, cảm thụ ngoại tà và sử dụng thuốc không phù hợp.
Bệnh cơ căn bản có thể quy về hai phương diện.
Một là Tâm mất nuôi dưỡng, gồm Tâm khí hư, Tâm huyết hư, Tâm âm hư, Tâm dương hư và khí âm lưỡng hư.
Hai là Tâm mạch bị quấy nhiễu hoặc bế trở, gồm đàm nhiệt, đàm trọc, thủy ẩm, huyết ứ, khí trệ và hàn ngưng.
Trên lâm sàng, hư và thực thường xen lẫn. Khí hư có thể dẫn đến huyết ứ; dương hư có thể sinh thủy ẩm; Tỳ hư có thể sinh đàm; âm hư có thể sinh hỏa; Can uất có thể hóa hỏa và hình thành huyết ứ.
Vì vậy, biện trị không chỉ căn cứ cảm giác hồi hộp, mà cần xem xét toàn bộ tình trạng khí, huyết, âm, dương, đàm, ứ, hàn, nhiệt và chức năng của Tâm, Tỳ, Can, Thận.
Nói tóm lại, điều trị chứng trống ngực cần vừa dưỡng Tâm, an thần, vừa điều chỉnh căn nguyên. Khí hư thì ích khí; huyết hư thì dưỡng huyết; âm hư thì tư âm; dương hư thì ôn dương; đàm trọc thì hóa đàm; huyết ứ thì hoạt huyết; Can uất thì sơ Can; kinh sợ thì trấn kinh định chí.
Tuy nhiên, khi hồi hộp liên quan đến rối loạn nhịp thực sự, điện tâm đồ và đánh giá Tâm mạch vẫn là căn cứ cần thiết. Trung y nên được dùng theo biện chứng và phối hợp thận trọng, không thay thế điều trị cấp cứu hoặc các phương pháp Tâm mạch hiện đại khi đã có chỉ định.
Trường Xuân Đường biên soạn và tổng hợp