Khái quát
Gan là cơ quan quan trọng trong quá trình chuyển hóa, phân giải và bài tiết nhiều loại thuốc. Trung dược sau khi đi vào cơ thể cũng phải trải qua các quá trình hấp thu và chuyển hóa tương tự. Vì vậy, mặc dù thảo dược có nguồn gốc tự nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi vị thuốc đều hoàn toàn vô hại.
Phần lớn Trung dược tương đối an toàn khi được nhận định đúng chứng, dùng đúng liều lượng, bào chế đúng phương pháp và sử dụng trong thời gian thích hợp. Tuy nhiên, một số vị thuốc vốn có độc tính; một số vị tuy độc tính không mạnh nhưng nếu dùng quá liều, kéo dài, phối hợp không hợp lý hoặc sử dụng ở người có bệnh gan nền vẫn có thể gây tổn thương gan.
Tổn thương gan do Trung dược có thể biểu hiện bằng mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, đầy bụng, đau vùng hạ sườn phải, nước tiểu sẫm, vàng mắt, vàng da hoặc chức năng gan bất thường. Một số trường hợp ban đầu gần như không có triệu chứng, chỉ được phát hiện khi xét nghiệm.
Quan niệm của Trung y về độc tính của thuốc
Trung y từ lâu đã nhận thức rõ thuốc có thể vừa trị bệnh, vừa gây hại nếu sử dụng không thích hợp. Bản thảo học thường phân thuốc thành các mức độ có độc và không độc, đồng thời nhấn mạnh phải biết dừng thuốc đúng lúc.
Trong Hoàng Đế Nội Kinh có ý rằng:
Thuốc đại độc trị bệnh, bệnh giảm sáu phần thì dừng.
Thuốc thường độc trị bệnh, bệnh giảm bảy phần thì dừng.
Thuốc tiểu độc trị bệnh, bệnh giảm tám phần thì dừng.
Thuốc không độc trị bệnh, bệnh giảm chín phần thì dừng.
Ý nghĩa căn bản không nằm ở những con số tuyệt đối, mà ở nguyên tắc “trúng bệnh thì dừng”. Ngay cả thuốc được xem là không độc cũng không nên sử dụng tùy tiện hoặc kéo dài vô hạn.
Trung y dùng thuốc căn cứ vào thiên lệch về tính vị để điều chỉnh thiên lệch của bệnh. Khi bệnh đã thay đổi mà vẫn tiếp tục giữ nguyên phương thuốc, thiên lệch của thuốc có thể trở thành nguyên nhân gây tổn thương.
Nguyên nhân Trung dược gây tổn thương gan
Dùng sai vị thuốc
Một số vị thuốc có tên gần giống nhau, hình dạng tương tự hoặc dễ bị thay thế bằng dược liệu khác. Nếu nhận diện sai, dùng nhầm hoặc pha trộn dược liệu kém chất lượng, nguy cơ ngộ độc và tổn thương gan sẽ tăng lên.
Dùng quá liều
Liều lượng là một trong những yếu tố quyết định giữa tác dụng điều trị và độc tính. Thuốc có độc tính rõ nếu dùng quá liều có thể trực tiếp gây tổn thương tế bào gan. Ngay cả một số vị thông dụng, nếu dùng lượng lớn kéo dài cũng có khả năng gây bất lợi.
Dùng quá lâu
Có những vị thuốc thích hợp dùng trong giai đoạn tà khí còn thịnh nhưng không thích hợp sử dụng kéo dài. Thuốc khổ hàn dùng lâu có thể làm tổn thương Tỳ Vị và dương khí; thuốc tân ôn dùng lâu có thể hao âm, động hỏa; thuốc công hạ, phá huyết hoặc nhuyễn kiên dùng lâu có thể tổn thương chính khí.
Bào chế không đúng
Bào chế có ý nghĩa giảm độc, thay đổi tính vị và điều chỉnh phạm vi tác dụng của dược liệu. Những vị cần chế mà lại dùng sống, hoặc chế không đúng quy trình, có thể làm độc tính tăng lên.
Phối hợp thuốc không thích hợp
Nhiều người tự phối hợp thuốc sắc, thành dược Trung y, thuốc Tây, vitamin, thực phẩm bổ sung và các loại trà dược. Số lượng thuốc càng nhiều, nguy cơ tương tác và tăng gánh nặng chuyển hóa cho gan càng lớn.
Dùng thuốc không căn cứ biện chứng
Thuốc phù hợp với thể thấp nhiệt chưa chắc thích hợp với người Tỳ hư hàn thấp. Thuốc bổ âm chưa chắc phù hợp khi thấp trọc còn nặng. Thuốc hoạt huyết không thích hợp với người đang xuất huyết hoặc rối loạn đông máu.
Nếu chỉ căn cứ tên bệnh mà dùng một phương thuốc cố định, không xét hàn nhiệt, hư thực và tình trạng Tỳ Vị, thuốc có thể không những không trị được bệnh mà còn gây tổn thương.
Dược liệu nhiễm bẩn hoặc pha trộn
Dược liệu có thể bị nhiễm nấm mốc, thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng hoặc bị pha trộn với chất khác. Đây cũng là một nguyên nhân quan trọng gây độc tính đối với gan.
Những đối tượng có nguy cơ cao
Người đã mắc viêm gan, xơ gan, gan nhiễm mỡ nặng hoặc suy giảm chức năng gan.
Người cao tuổi, chức năng chuyển hóa và bài tiết thuốc suy giảm.
Người suy dinh dưỡng, cơ thể yếu, ăn uống kém.
Người đang dùng nhiều thuốc Tây cùng lúc.
Người uống rượu bia thường xuyên.
Phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú.
Người có tiền sử dị ứng thuốc.
Người từng bị tổn thương gan do thuốc trước đó.
Một số Trung dược cần đặc biệt thận trọng
Nha đảm tử
Nha đảm tử vị đắng, tính hàn, có công năng thanh nhiệt giải độc, trị lỵ và sát trùng. Tuy nhiên, thuốc có khả năng kích ứng mạnh đường tiêu hóa và gây tổn thương gan, thận nếu dùng quá liều hoặc kéo dài.
Không nên tự dùng Nha đảm tử để điều trị lỵ, ký sinh trùng hoặc các bệnh khác. Người có bệnh gan, bệnh thận, xuất huyết tiêu hóa, phụ nữ mang thai và người thể trạng suy yếu cần đặc biệt tránh dùng tùy tiện.
Khổ hạnh nhân
Khổ hạnh nhân có công năng giáng Phế khí, chỉ khái bình suyễn, nhuận tràng. Vị thuốc chứa thành phần có thể giải phóng chất độc nếu dùng quá liều hoặc chế biến không đúng.
Người dùng quá lượng có thể xuất hiện đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, khó thở, rối loạn ý thức và ngộ độc nặng. Khổ hạnh nhân cần được dùng đúng liều và đúng phương pháp bào chế.
Thiềm tô
Thiềm tô có tính độc mạnh, thường chỉ được dùng với lượng rất nhỏ trong một số phương thuốc chuyên khoa. Dùng quá liều có thể gây buồn nôn, nôn, rối loạn nhịp tim, co giật và tổn thương nhiều cơ quan.
Không được tự dùng Thiềm tô hoặc các chế phẩm không rõ hàm lượng.
Ngải diệp
Ngải diệp có công năng ôn kinh chỉ huyết, tán hàn chỉ thống và an thai. Khi dùng đúng chứng với lượng phù hợp, đây là vị thuốc thường dùng.
Tuy nhiên, dùng lượng lớn hoặc kéo dài có thể gây buồn nôn, chóng mặt, kích thích thần kinh và ảnh hưởng chức năng gan. Không nên cho rằng Ngải diệp là vị thuốc quen thuộc nên có thể sử dụng không giới hạn.
Quảng đậu căn và Bắc đậu căn
Hai vị thuốc này thường được dùng trong các chứng hầu họng sưng đau, nhưng có tính khổ hàn và độc tính nhất định. Dùng quá liều có thể gây buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, chóng mặt, rối loạn thần kinh và tổn thương gan.
Cần phân biệt rõ hai loại dược liệu, vì tên gần giống nhưng nguồn gốc và độc tính không hoàn toàn giống nhau.
Hoàng dược tử
Hoàng dược tử từng được dùng trong một số chứng đàm kết, anh lựu và khối kết, nhưng đã được ghi nhận có khả năng gây tổn thương gan.
Vị thuốc này không thích hợp để tự sử dụng hoặc dùng kéo dài. Trong quá trình dùng cần theo dõi chức năng gan theo chỉ định chuyên môn.
Thiên lý quang
Thiên lý quang có công năng thanh nhiệt giải độc, minh mục. Tuy nhiên, một số loài hoặc chế phẩm có thể chứa thành phần bất lợi cho gan nếu sử dụng kéo dài hoặc không kiểm soát chất lượng.
Không nên dùng làm trà uống thường xuyên.
Hà thủ ô
Hà thủ ô thường được dùng với mục đích bổ Can Thận, ích tinh huyết, làm đen tóc. Tuy nhiên, Hà thủ ô, nhất là Hà thủ ô sống hoặc chế biến không đúng, có thể gây tổn thương gan ở một số người.
Các triệu chứng có thể gồm mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nước tiểu sẫm và vàng da. Không nên tự dùng Hà thủ ô kéo dài chỉ với mục đích dưỡng tóc hoặc bồi bổ.
Ngay cả Hà thủ ô chế cũng không hoàn toàn loại bỏ nguy cơ, nhất là ở người có bệnh gan nền hoặc dùng cùng nhiều thuốc khác.
Lôi công đằng
Lôi công đằng có tác dụng khu phong trừ thấp và được sử dụng trong một số bệnh miễn dịch, nhưng độc tính tương đối mạnh, có thể ảnh hưởng gan, thận, tủy xương và cơ quan sinh sản.
Thuốc chỉ được sử dụng dưới sự giám sát nghiêm ngặt của người có chuyên môn.
Thương lục
Thương lục có tác dụng trục thủy tiêu thũng, thông lợi nhị tiện nhưng có độc. Dùng sai hoặc quá liều có thể gây đau bụng, nôn, tiêu chảy, rối loạn thần kinh, tim mạch và tổn thương gan thận.
Không dùng Thương lục như thực phẩm hoặc thuốc giảm cân.
Chu sa và Hùng hoàng
Chu sa chứa thủy ngân; Hùng hoàng chứa hợp chất của arsen. Đây là những khoáng vật có độc tính rõ, có thể tích lũy trong cơ thể và gây tổn thương gan, thận, thần kinh.
Không nên tự dùng các chế phẩm chứa Chu sa, Hùng hoàng, đặc biệt không dùng kéo dài hoặc dùng với mục đích an thần, giải độc theo kinh nghiệm truyền miệng.
Cần chú ý rằng danh sách trên không bao gồm toàn bộ những vị có khả năng gây tổn thương gan. Độc tính còn phụ thuộc nguồn dược liệu, cách bào chế, liều lượng, thời gian dùng, sự phối hợp và thể trạng từng người.
Nhân Trần và Nhân Chi Hoàng
Nhân trần là vị thuốc thường được dùng trong chứng thấp nhiệt hoàng đản, có công năng thanh lợi thấp nhiệt và thoái hoàng.
Nhân Chi Hoàng là chế phẩm được xây dựng trên cơ sở các vị thanh nhiệt, lợi thấp, thoái hoàng như Nhân trần và Chi tử. Chế phẩm này từng được sử dụng trong một số trường hợp vàng da hoặc ứ mật.
Tuy nhiên, vàng da không phải lúc nào cũng thuộc thấp nhiệt. Vàng da có thể do viêm gan do virus, tắc mật, sỏi mật, khối u, tan máu hoặc tổn thương gan do thuốc. Vì vậy, không nên thấy vàng da là tự dùng Nhân trần hoặc Nhân Chi Hoàng.
Người Tỳ Vị hư hàn, phân lỏng, sợ lạnh, ăn uống kém hoặc dương khí suy không thích hợp dùng thuốc khổ hàn kéo dài.
Biểu hiện tổn thương gan do Trung dược
Giai đoạn đầu có thể xuất hiện:
Mệt mỏi không rõ nguyên nhân.
Chán ăn hoặc cảm giác ăn không ngon.
Buồn nôn, đầy bụng.
Khó chịu hoặc đau tức vùng hạ sườn phải.
Ngứa da.
Nước tiểu sẫm màu.
Sau đó có thể xuất hiện:
Vàng mắt, vàng da.
Phân bạc màu.
Gan to hoặc đau khi ấn.
Phát ban, sốt, đau khớp khi có phản ứng dị ứng.
Chảy máu bất thường.
Lơ mơ hoặc rối loạn ý thức trong trường hợp suy gan nặng.
Một số trường hợp chỉ có men gan tăng mà chưa xuất hiện triệu chứng. Vì vậy, người phải dùng Trung dược kéo dài cần được theo dõi chức năng gan khi có chỉ định.
Cần làm gì khi nghi ngờ tổn thương gan do thuốc?
Ngừng sản phẩm nghi ngờ
Cần ngừng loại thuốc hoặc thực phẩm bổ sung đang nghi gây tổn thương gan và liên hệ cơ sở y tế. Không nên tự giảm liều rồi tiếp tục dùng khi chưa xác định nguyên nhân.
Không tự dùng thêm thuốc “giải độc gan”
Việc tiếp tục uống thêm nhiều loại thuốc bổ gan, trà thanh nhiệt hoặc thực phẩm chức năng có thể làm tình trạng phức tạp hơn và gây khó khăn cho chẩn đoán.
Ghi lại toàn bộ thuốc đã dùng
Cần cung cấp cho bác sĩ tên thuốc, thành phần, liều lượng, thời gian bắt đầu, thời điểm ngừng, nguồn mua và những sản phẩm dùng đồng thời.
Nếu còn bao bì, toa thuốc hoặc mẫu dược liệu, nên giữ lại để đối chiếu.
Xét nghiệm và theo dõi
Người bệnh có thể cần được kiểm tra men gan, bilirubin, chức năng đông máu, chức năng thận và siêu âm hoặc các xét nghiệm khác nhằm đánh giá mức độ tổn thương và loại trừ nguyên nhân khác.
Không tự dùng lại thuốc nghi ngờ
Việc dùng lại thuốc từng gây tổn thương gan có thể khiến phản ứng xảy ra nhanh và nặng hơn. Không nên thử lại để xác định nguyên nhân.
Nguyên tắc dùng Trung dược an toàn
Dùng thuốc căn cứ biện chứng
Phải xác định rõ bệnh thuộc hàn hay nhiệt, hư hay thực, có thấp, đàm, ứ hoặc âm dương suy tổn hay không.
Không chỉ căn cứ tên bệnh hiện đại để chọn một bài thuốc cố định.
Dùng đúng liều
Không tự tăng liều với suy nghĩ dùng nhiều sẽ có hiệu quả nhanh hơn. Đối với các vị có độc, khoảng cách giữa liều điều trị và liều gây độc có thể không lớn.
Dùng đúng thời gian
Khi triệu chứng và bệnh cơ đã thay đổi, cần điều chỉnh hoặc dừng phương thuốc. Không nên uống một bài thuốc trong nhiều tháng chỉ vì thấy có tác dụng ban đầu.
Chú trọng bào chế
Những vị thuốc cần chế phải sử dụng dạng đã bào chế đúng quy chuẩn. Không tự mua dược liệu sống về ngâm rượu, nghiền bột hoặc dùng theo kinh nghiệm.
Hạn chế phối hợp quá nhiều sản phẩm
Không nên cùng lúc sử dụng nhiều loại thuốc sắc, thành dược, trà thảo mộc, vitamin, thực phẩm bổ sung và thuốc Tây mà không có người theo dõi tổng thể.
Chọn nguồn dược liệu đáng tin cậy
Dược liệu cần có nguồn gốc rõ ràng, được bảo quản đúng cách, không mốc, không biến màu, không có mùi lạ và không bị pha trộn.
Thông báo bệnh gan và thuốc đang dùng
Người có bệnh gan nền cần thông báo đầy đủ cho thầy thuốc Trung y. Cũng cần cho bác sĩ điều trị biết các loại thảo dược và thành dược đang sử dụng.
Theo dõi định kỳ
Khi phải dùng thuốc có khả năng ảnh hưởng gan hoặc điều trị kéo dài, nên xét nghiệm chức năng gan theo hướng dẫn chuyên môn.
Những quan niệm cần tránh
“Thuốc Bắc, thuốc Nam đều tự nhiên nên không hại gan”
Nguồn gốc tự nhiên không đồng nghĩa với hoàn toàn an toàn. Nhiều dược liệu có hoạt tính mạnh và độc tính rõ.
“Thuốc càng đắng càng giải độc tốt”
Vị đắng thường có tác dụng thanh tiết, táo thấp nhưng dùng quá mức dễ tổn thương Tỳ Vị và chính khí. Thuốc đắng không đồng nghĩa với khả năng giải độc gan.
“Men gan tăng thì chỉ cần uống thuốc hạ men”
Men gan giảm không nhất thiết có nghĩa tổn thương gan đã hết. Cần xác định nguyên nhân và đánh giá toàn diện chức năng gan.
“Uống thuốc bổ gan có thể phòng mọi tổn thương”
Không có một loại thuốc bổ gan nào bảo vệ được gan trước mọi độc tính. Phương pháp quan trọng nhất vẫn là dùng thuốc đúng chỉ định, đúng liều và tránh sản phẩm không cần thiết.
“Bài thuốc gia truyền đã dùng nhiều đời nên chắc chắn an toàn”
Độ an toàn còn phụ thuộc thành phần thật sự, liều lượng, bào chế, chất lượng dược liệu và thể trạng người dùng. Kinh nghiệm lâu năm không thay thế được việc kiểm soát độc tính.
Chú ý
Cần đến cơ sở y tế ngay khi xuất hiện vàng mắt, vàng da, nước tiểu sẫm, nôn nhiều, đau hạ sườn phải tăng, chảy máu bất thường, bụng trướng, lơ mơ hoặc mệt lả sau khi dùng thuốc.
Không tự sử dụng các vị có độc mạnh hoặc những phương thuốc không rõ thành phần.
Không dùng rượu thuốc khi đang có bệnh gan. Rượu vừa làm tăng tổn thương gan, vừa có thể làm thay đổi sự hấp thu và độc tính của dược liệu.
Phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người cao tuổi, người suy gan, suy thận và người dùng thuốc chống đông cần đặc biệt thận trọng.
Kết luận
Trung dược có giá trị quan trọng trong phòng và trị bệnh, nhưng chỉ an toàn khi được sử dụng đúng nguyên tắc. Độc tính không chỉ nằm ở bản thân vị thuốc mà còn liên quan đến liều lượng, thời gian sử dụng, cách bào chế, sự phối hợp, chất lượng dược liệu và thể trạng người bệnh.
Nói tóm lại, dùng thuốc phải căn cứ biện chứng, trúng bệnh thì dừng, không lạm dụng thuốc thanh nhiệt, thuốc bổ hoặc các sản phẩm được quảng cáo là giải độc gan. Khi có dấu hiệu bất thường, cần ngừng thuốc nghi ngờ và được đánh giá kịp thời, không tự dùng thêm nhiều loại thuốc để xử lý.
Trường Xuân biên soạn