Khái niệm
Táo bón là tình trạng đại tiện khó khăn, phân khô cứng, số lần đại tiện giảm, phải rặn nhiều hoặc sau khi đại tiện vẫn có cảm giác chưa hết phân.
Không thể chỉ căn cứ vào số ngày giữa hai lần đại tiện để xác định táo bón. Có người hai hoặc ba ngày mới đi ngoài một lần nhưng phân mềm, đại tiện dễ dàng và không có cảm giác khó chịu, vẫn có thể xem là bình thường. Ngược lại, có người đại tiện hằng ngày nhưng phân cứng, phải rặn lâu, cảm giác tắc nghẽn hoặc không đi hết, vẫn thuộc phạm vi táo bón.
Táo bón cũng không nhất thiết luôn kèm phân khô. Trong các thể khí hư, dương hư, thấp trệ hoặc rối loạn tống xuất, phân có thể mềm hoặc không thành khuôn nhưng vẫn rất khó bài xuất.
Biểu hiện thường gặp
Số lần đại tiện giảm so với thói quen bình thường.
Phân khô, cứng, thành viên nhỏ hoặc khối lớn.
Phải rặn nhiều.
Ngồi đại tiện kéo dài.
Muốn đi nhưng khó tống phân.
Cảm giác đại tiện không hết.
Cảm giác tắc ở hậu môn.
Bụng đầy, trướng hoặc đau âm ỉ.
Chán ăn, buồn nôn nhẹ, ợ hơi.
Có thể xuất hiện máu tươi nếu phân cứng làm tổn thương hậu môn.
Ở người cao tuổi, khối phân đóng chặt trong trực tràng có thể khiến phân lỏng rỉ quanh khối phân, dễ bị nhầm với tiêu chảy.
Phân loại
Theo thời gian mắc bệnh
Táo bón cấp tính
Xuất hiện trong thời gian ngắn, có thể liên quan đến thay đổi ăn uống, môi trường sống, thiếu vận động, bệnh cấp tính hoặc thuốc.
Táo bón xuất hiện đột ngột kèm đau bụng, chướng bụng, nôn hoặc bí trung tiện cần loại trừ tắc ruột.
Táo bón mạn tính
Kéo dài nhiều tuần, nhiều tháng hoặc nhiều năm. Nguyên nhân có thể do thói quen, rối loạn chức năng ruột, bệnh hậu môn – trực tràng, bệnh thần kinh, nội tiết hoặc tổn thương thực thể.
Theo nguyên nhân
Táo bón chức năng
Không phát hiện vật cản hoặc tổn thương thực thể rõ ràng. Bệnh thường liên quan đến chế độ ăn, thói quen nhịn đại tiện, ít vận động, căng thẳng, nhu động ruột chậm hoặc rối loạn cơ sàn chậu.
Táo bón thực thể
Có tổn thương hoặc bệnh lý cụ thể như khối u, hẹp lòng ruột, dính ruột, xoắn ruột, sa trực tràng, bệnh thần kinh hoặc bệnh nội tiết – chuyển hóa.
Theo vị trí và cơ chế
Táo bón do vận chuyển chậm ở đại tràng
Phân di chuyển chậm trong đại tràng, bị hấp thu nhiều nước và trở nên khô.
Táo bón trực tràng hoặc rối loạn tống xuất
Phân đã xuống trực tràng nhưng người bệnh khó bài xuất do cảm giác trực tràng giảm, cơ sàn chậu yếu hoặc phối hợp không đúng.
Nguyên nhân thường gặp
Chế độ ăn uống
Ăn quá ít, thiếu chất xơ, uống không đủ nước và dùng nhiều thức ăn tinh chế làm thể tích phân giảm, đại tràng không được kích thích đầy đủ.
Ăn quá nhiều thức ăn cay nóng, chiên nướng, uống nhiều rượu có thể làm hao tân dịch, khiến phân khô.
Ăn quá nhiều thực phẩm sống lạnh có thể ảnh hưởng đến công năng vận hóa của Tỳ ở người có thể trạng hư hàn.
Không nên cho rằng càng ăn nhiều chất xơ càng tốt. Người có hẹp lòng ruột, tắc nghẽn, bụng chướng nhiều hoặc rối loạn tống xuất có thể không cải thiện, thậm chí khó chịu hơn nếu tăng chất xơ quá mức.
Thói quen nhịn đại tiện
Đại tiện chịu sự điều khiển của hệ thần kinh và ý thức. Khi có cảm giác buồn đại tiện nhưng thường xuyên cố nhịn, phân có thể lưu lại lâu trong trực tràng.
Lâu ngày, các thụ thể cảm giác ở thành trực tràng giảm độ nhạy, người bệnh ít cảm nhận được nhu cầu đại tiện dù phân đã tích tụ. Đây là cơ chế quan trọng của táo bón do thói quen.
Người bị trĩ, nứt kẽ hậu môn hoặc đau khi đại tiện cũng thường chủ động nhịn, làm phân càng khô và bệnh càng nặng.
Căng thẳng tinh thần
Lo âu, uất ức, căng thẳng kéo dài hoặc thay đổi môi trường sống có thể làm khí cơ và nhu động ruột rối loạn.
Theo Trung y, giận dữ và uất ức thường làm Can khí uất trệ; tư lự và lao động trí óc quá mức lại làm tổn thương Tỳ khí. Cả hai đều có thể gây táo bón nhưng biểu hiện không giống nhau.
Thiếu vận động
Vận động giúp kích thích nhu động ruột. Người ngồi lâu, nằm lâu, người cao tuổi hoặc người suy nhược thường có nguy cơ táo bón cao hơn.
Thiếu vận động còn làm cơ bụng và cơ sàn chậu yếu, giảm lực tống phân.
Suy yếu động lực đại tiện
Quá trình đại tiện cần sự phối hợp của cơ hoành, cơ bụng, cơ nâng hậu môn, cơ sàn chậu và cơ thắt hậu môn.
Tuổi cao, suy dinh dưỡng, nằm lâu, bệnh phổi mạn tính, mang thai, sinh nhiều lần hoặc tổn thương sau phẫu thuật có thể làm các cơ này yếu đi.
Một số người có rối loạn phối hợp cơ sàn chậu: khi rặn, cơ hậu môn không thư giãn mà lại co chặt, khiến phân không đi ra dù không quá khô.
Bệnh hậu môn – trực tràng
Nứt kẽ hậu môn, trĩ, áp xe, rò hậu môn và viêm quanh hậu môn gây đau, khiến người bệnh sợ đi ngoài.
Hẹp hậu môn, sa trực tràng, khối u trực tràng hoặc sẹo sau phẫu thuật có thể trực tiếp cản trở sự bài xuất phân.
Bệnh đại tràng và ổ bụng
Các nguyên nhân cần chú ý gồm:
Ung thư đại trực tràng.
Polyp lớn.
Bệnh Crohn.
Viêm đại tràng mạn gây hẹp.
Viêm túi thừa.
Xoắn ruột.
Lồng ruột.
Dính ruột sau phẫu thuật.
Khối u vùng bụng hoặc vùng chậu.
U xơ tử cung hoặc nang buồng trứng lớn.
Những tình trạng này thuộc táo bón thực thể và không thể chỉ điều trị bằng thuốc nhuận tràng.
Bệnh thần kinh
Phản xạ đại tiện cần sự phối hợp giữa trực tràng, dây thần kinh vùng chậu, tủy sống và vỏ não.
Các bệnh có thể gây táo bón gồm:
Đột quỵ.
Bệnh Parkinson.
Đa xơ cứng.
Tổn thương tủy sống.
U não hoặc u tủy.
Bệnh thần kinh do đái tháo đường.
Tổn thương dây thần kinh vùng chậu sau phẫu thuật hoặc sinh nở.
Bệnh nội tiết và chuyển hóa
Suy giáp có thể làm nhu động ruột chậm.
Đái tháo đường lâu ngày có thể gây tổn thương thần kinh ruột.
Tăng calci máu làm giảm tính kích thích của thần kinh và cơ trơn.
Hạ kali máu làm nhu động ruột suy yếu; trường hợp nặng có thể gây liệt ruột.
Rối loạn điện giải gây táo bón thường kèm các biểu hiện toàn thân khác, cần được xét nghiệm và điều trị nguyên nhân.
Thuốc gây táo bón
Các thuốc thường liên quan gồm:
Thuốc giảm đau opioid.
Thuốc kháng cholinergic.
Một số thuốc chống trầm cảm.
Thuốc chống co giật.
Một số thuốc điều trị Parkinson.
Thuốc bổ sung sắt.
Thuốc bổ sung calci.
Thuốc kháng acid chứa nhôm.
Một số thuốc hạ huyết áp.
Thuốc lợi tiểu gián tiếp gây mất nước hoặc rối loạn điện giải.
Không nên tự ngừng thuốc đang điều trị. Khi táo bón xuất hiện sau khi bắt đầu một thuốc mới, cần trao đổi với bác sĩ để điều chỉnh.
Táo bón ở người cao tuổi
Người cao tuổi dễ mắc đồng thời táo bón do vận chuyển chậm và táo bón trực tràng.
Các yếu tố thường gặp gồm:
Ăn ít và thiếu chất xơ.
Uống ít nước.
Ít vận động.
Nhu động đại tràng suy giảm.
Cảm giác buồn đại tiện giảm.
Cơ bụng và cơ sàn chậu yếu.
Dùng nhiều loại thuốc.
Bệnh thần kinh hoặc chuyển hóa kèm theo.
Người cao tuổi còn dễ bị ứ phân. Biểu hiện có thể là nhiều ngày không đại tiện, bụng chướng, chán ăn, rỉ phân lỏng, lú lẫn hoặc bí tiểu.
Táo bón trong hội chứng ruột kích thích
Hội chứng ruột kích thích là rối loạn tương tác giữa ruột và hệ thần kinh, không phải chỉ là tình trạng đại tràng “co thắt quá mạnh”.
Đặc điểm thường gặp gồm:
Đau bụng tái diễn.
Đau liên quan đến đại tiện.
Trướng bụng.
Thay đổi số lần hoặc hình dạng phân.
Táo bón kéo dài hoặc táo bón xen kẽ tiêu chảy.
Triệu chứng tăng khi căng thẳng, thay đổi ăn uống hoặc sinh hoạt.
Trong đợt táo bón, phân có thể thành viên nhỏ. Trong đợt tiêu chảy, phân có thể lỏng và có chất nhầy nhưng thường không kèm sốt hoặc máu.
Người có máu trong phân, thiếu máu, sụt cân, sốt hoặc triệu chứng xuất hiện ở tuổi lớn cần được kiểm tra, không nên quy ngay cho hội chứng ruột kích thích.
Nhận định của Trung y
Trong Trung y, táo bón thuộc phạm vi chứng Tiện bí 便秘. Bệnh chủ yếu do chức năng truyền đạo của Đại trường thất thường.
Đại tiện bình thường cần hai điều kiện căn bản:
Tân dịch đầy đủ để làm nhuận phân.
Khí cơ thông thuận và có đủ sức đẩy phân xuống dưới.
Có thể dùng hình ảnh thuyền đi trên sông để minh họa:
Phân là con thuyền.
Tân dịch là nước.
Khí là sức gió và lực đẩy.
Thuyền không đi được có thể do thiếu nước, thiếu gió hoặc thiếu sức đẩy. Vì vậy, táo bón không chỉ do phân khô mà còn có thể do khí trệ, khí hư hoặc dương hư.
Các tạng phủ liên quan mật thiết gồm Vị, Đại trường, Tỳ, Can, Thận và Phế.
Vị và Đại trường
Vị nhiệt hoặc Đại trường nhiệt làm hao tân dịch, gây phân khô.
Vị âm hư làm nguồn sinh tân dịch suy giảm, ruột mất sự nhu nhuận.
Tỳ
Tỳ khí hư làm chức năng vận hóa và vận chuyển chất thải suy yếu. Người bệnh muốn đi nhưng không đủ sức, phân có thể không khô.
Can
Can khí uất trệ làm khí cơ Hạ tiêu không thông, phân không được truyền xuống thuận lợi. Người bệnh thường bụng trướng, phân thành viên nhỏ, triệu chứng thay đổi theo cảm xúc.
Thận
Thận âm hư làm tân dịch thiếu, phân khô.
Thận dương hư làm khí hóa Hạ tiêu suy giảm, ruột thiếu sức vận chuyển; phân có thể không khô nhưng khó đi.
Phế
Phế và Đại trường có quan hệ biểu lý. Phế khí không túc giáng có thể làm Đại trường thiếu sức đẩy, thường gặp ở người cao tuổi hoặc sau bệnh lâu ngày.
Biện chứng luận trị
Thể nhiệt bí
Triệu chứng
Phân khô cứng, đại tiện thưa; miệng khô, khát; hơi thở hôi; bụng đầy hoặc đau; tiểu ít và vàng; mặt đỏ hoặc người nóng; lưỡi đỏ, rêu vàng khô; mạch sác.
Chứng cơ
Nhiệt tích ở Vị và Đại trường, làm hao tân dịch và khiến phân khô kết.
Phép trị
Thanh nhiệt, nhuận tràng, thông tiện.
Phương thang
Ma tử nhân hoàn gia giảm.
Nếu tân dịch tổn thương rõ, có thể phối hợp Sinh địa hoàng, Huyền sâm, Mạch môn đông.
Không nên dùng các vị công hạ mạnh kéo dài trong táo bón mạn tính.
Thể khí bí
Triệu chứng
Muốn đại tiện nhưng khó đi; phân có thể khô hoặc không khô, thường thành viên nhỏ; bụng trướng, đau tức, ợ hơi, hay thở dài; triệu chứng tăng khi căng thẳng; lưỡi có thể bình thường; mạch huyền.
Chứng cơ
Can khí uất trệ, khí cơ Đại trường không thông, phân không được truyền xuống.
Phép trị
Sơ Can, lý khí, đạo trệ, thông tiện.
Phương thang
Lục ma thang gia giảm.
Nếu phân khô, có thể phối hợp các vị nhuận tràng.
Nếu khí uất hóa nhiệt, cần phối hợp thanh nhiệt nhưng không nên dùng thuốc hàn lương quá mức.
Thể khí hư bí
Triệu chứng
Phân không quá khô; có cảm giác muốn đi nhưng không đủ sức; phải rặn lâu; khi rặn ra mồ hôi, hơi thở ngắn; sau đại tiện mệt lả; sắc mặt nhợt, người yếu; lưỡi nhạt, mềm; mạch hư.
Chứng cơ
Tỳ khí hoặc Phế khí hư, không đủ sức vận chuyển và đẩy phân.
Phép trị
Bổ khí, kiện Tỳ, ích Phế, nhuận tràng.
Phương thang
Hoàng kỳ thang gia giảm.
Nếu khí hư hạ hãm, bụng dưới sa nặng hoặc kèm sa trực tràng, có thể dùng Bổ trung ích khí thang gia giảm.
Không nên dùng thuốc tẩy mạnh vì có thể làm khí càng hư.
Thể huyết hư bí
Triệu chứng
Phân khô; sắc mặt nhợt hoặc kém tươi; chóng mặt, hồi hộp, nhìn mờ, tê bì chân tay; phụ nữ có thể kinh nguyệt ít; lưỡi nhạt; mạch tế hoặc sáp.
Chứng cơ
Huyết hư, Đại trường mất sự nhu dưỡng, phân khô khó đi.
Phép trị
Dưỡng huyết, nhuận táo, thông tiện.
Phương thang
Nhuận trường hoàn gia giảm.
Có thể phối hợp Đương quy, Thục địa hoàng, Hỏa ma nhân, Chế thủ ô, Đào nhân hoặc Úc lý nhân tùy chứng trạng.
Táo bón sau sinh thường thuộc khí huyết hư, không nên công hạ mạnh.
Thể âm hư bí
Triệu chứng
Phân khô, có thể thành viên nhỏ; người gầy; miệng họng khô, nhất là chiều tối; khát nhưng uống từng ngụm nhỏ; chóng mặt, ù tai, lưng gối mỏi; có thể nóng âm ỉ hoặc ra mồ hôi trộm; lưỡi ít rêu hoặc không rêu; mạch tế.
Chứng cơ
Âm dịch bất túc, Đại trường mất sự nhu nhuận.
Phép trị
Dưỡng âm, sinh tân, nhuận tràng.
Phương thang
Tăng dịch thang gia giảm.
Nếu thiên về Thận âm hư, có thể phối hợp ý của Lục vị địa hoàng hoàn, nhưng cần thêm thuốc nhuận tràng khi cần thiết.
Thể lãnh bí hoặc dương hư bí
Triệu chứng
Phân có thể không khô nhưng rất khó đi; phải rặn nhiều; bụng đau lạnh, thích chườm ấm; sợ lạnh, chân tay lạnh; lưng gối mỏi; tiểu trong dài; lưỡi nhạt, ướt; mạch trầm trì hoặc trầm nhược.
Chứng cơ
Tỳ Thận dương hư, Hạ tiêu thiếu sự ôn vận, Hàn ngưng làm khí cơ không thông.
Phép trị
Ôn dương, tán Hàn, nhuận tràng, thông tiện.
Phương thang
Tế xuyên tiễn gia giảm.
Nếu Hàn thực gây đau bụng dữ dội, cần phân biệt với tắc ruột trước khi dùng thuốc ôn hạ.
Thể thấp trệ
Triệu chứng
Phân mềm, nhão hoặc không thành khuôn nhưng khó đi; sau đại tiện vẫn cảm thấy còn phân; bụng nặng, trướng; người nặng nề, mệt mỏi; miệng nhạt; lưỡi rêu dày nhờn; mạch nhu hoặc hoạt.
Chứng cơ
Thấp tà có tính nặng và nhớt, làm trở ngại khí cơ Đại trường. Tỳ mất kiện vận nên phân tuy không khô nhưng vẫn ứ trệ.
Phép trị
Kiện Tỳ, hóa thấp, hành khí, thông tiện.
Phương thang
Có thể căn cứ chứng trạng phối hợp các vị kiện Tỳ hóa thấp và lý khí. Không nên dùng nhiều thuốc nhuận táo có dầu khi thấp trệ là chính.
Táo bón mà phân không khô
Táo bón không có phân khô thường gặp trong hai cơ chế chính.
Khí hư
Tỳ khí không đủ sức vận chuyển, người bệnh phải rặn nhiều, sau đại tiện mệt. Phân có thể mềm hoặc nhão.
Thấp trệ
Thấp cản trở khí cơ, khiến phân mềm nhưng dính, khó đi hết và gây cảm giác nặng nề.
Ngoài ra, cần lưu ý rối loạn cơ sàn chậu, sa trực tràng hoặc hẹp hậu môn khi phân không khô nhưng luôn có cảm giác tắc ở hậu môn.
Châm cứu
Các huyệt thường dùng cần được lựa chọn theo thể bệnh:
Vị-25 Thiên khu: Điều hòa Đại trường.
Tỳ-15 Đại hoành: Điều lý Đại trường, hỗ trợ thông tiện.
Tam tiêu-6 Chi câu: Điều khí Tam tiêu, thúc đẩy đại tiện.
Vị-36 Túc tam lý: Kiện Tỳ, ích khí, điều hòa trường vị.
Tỳ-6 Tam âm giao: Kiện Tỳ, dưỡng huyết, điều Can Thận.
Đại trường-4 Hợp cốc: Điều lý Đại trường, thanh nhiệt.
Đại trường-11 Khúc trì: Thanh nhiệt.
Can-3 Thái xung: Sơ Can, lý khí.
Nhâm-6 Khí hải: Bổ khí và điều khí Hạ tiêu.
Nhâm-4 Quan nguyên: Bổ Thận, ích nguyên khí.
Bàng quang-25 Đại trường du: Điều lý Đại trường.
Thận-6 Chiếu hải: Dưỡng âm, nhuận táo.
Bàng quang-23 Thận du: Bổ Thận.
Thể nhiệt và khí trệ thường dùng phép tả hoặc bình bổ bình tả.
Thể khí hư, huyết hư, âm hư và dương hư thường dùng phép bổ.
Thể dương hư, Hàn rõ có thể phối hợp cứu.
Không dùng cứu khi Âm hư hoặc Nhiệt rõ.
Dưỡng sinh và phòng ngừa
Tạo thói quen đại tiện
Nên đi đại tiện khi có nhu cầu, không nhịn kéo dài. Có thể tập ngồi đại tiện vào một giờ tương đối cố định, thường sau bữa sáng.
Không nên ngồi trong nhà vệ sinh quá lâu và không cố rặn liên tục.
Điều chỉnh tư thế
Khi ngồi bồn cầu, có thể kê chân lên ghế thấp để đầu gối cao hơn hông. Tư thế này giúp góc hậu môn – trực tràng mở thuận lợi hơn.
Thở ra nhẹ, thả lỏng bụng dưới và cơ sàn chậu, không nín thở quá lâu.
Chế độ ăn
Nên tăng dần:
Rau xanh.
Trái cây.
Các loại đậu.
Yến mạch.
Ngũ cốc nguyên hạt.
Vừng đen.
Hồ đào.
Khoai lang.
Mận khô.
Kiwi.
Chất xơ cần đi kèm lượng nước thích hợp. Không nên tăng đột ngột vì có thể gây đầy hơi.
Người có tắc nghẽn, hẹp ruột hoặc bụng chướng nhiều không nên tự ý ăn lượng lớn chất xơ.
Uống nước
Nên uống nước đều trong ngày. Không nhất thiết phải uống nước muối vào sáng sớm; uống nước muối thường xuyên có thể không phù hợp với người tăng huyết áp, bệnh tim hoặc bệnh thận.
Nước ấm có thể giúp một số người hình thành phản xạ đại tiện, nhưng không phải là phương pháp điều trị thay thế.
Vận động
Đi bộ, vận động toàn thân và các bài tập phù hợp giúp kích thích nhu động ruột.
Có thể xoa bụng nhẹ theo đường đi của đại tràng: bắt đầu từ bụng dưới bên phải, đi lên, sang trái rồi đi xuống. Không xoa mạnh khi đang đau bụng cấp, có thai, sau phẫu thuật hoặc nghi tắc ruột.
Điều hòa tinh thần
Giữ sinh hoạt điều độ, ngủ đủ và giảm căng thẳng có ý nghĩa đặc biệt đối với táo bón do Can khí uất hoặc hội chứng ruột kích thích.
Không cần áp dụng những lời khuyên mang tính khuôn mẫu. Trọng điểm là lựa chọn hoạt động giúp người bệnh thư giãn và duy trì đều đặn.
Thận trọng với thuốc nhuận tràng và thụt tháo
Thuốc nhuận tràng có nhiều nhóm khác nhau, không phải loại nào cũng gây lệ thuộc. Tuy nhiên, thuốc kích thích mạnh và thụt tháo không nên được dùng kéo dài tùy tiện.
Lạm dụng có thể gây:
Đau quặn.
Rối loạn nước và điện giải.
Phụ thuộc tâm lý hoặc sinh lý.
Giảm phản xạ đại tiện tự nhiên.
Che lấp bệnh lý thực thể.
Người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ có thai và người có bệnh tim, thận cần đặc biệt thận trọng.
Liệu pháp ăn uống tham khảo
Các món ăn chỉ có tác dụng hỗ trợ, không thay thế điều trị nguyên nhân.
Cháo vừng đen
Vừng đen nghiền nhỏ, nấu cùng gạo thành cháo. Thích hợp hơn với người phân khô, cơ thể suy yếu hoặc Huyết hư.
Cháo Hỏa ma nhân
Hỏa ma nhân cần được sử dụng với lượng phù hợp và chế biến đúng. Người bệnh không nên tự dùng liều cao kéo dài.
Nước mật ong
Mật ong pha nước ấm có thể hỗ trợ làm mềm phân ở một số người. Người mắc đái tháo đường cần cân nhắc lượng đường.
Canh rau xanh
Các món canh từ cải bó xôi, mướp, rau dền hoặc rau lang vừa cung cấp nước vừa bổ sung chất xơ.
Không khuyến khích sử dụng thường xuyên các phương có Úc lý nhân, Thảo quyết minh hoặc các vị có tác dụng tả hạ khi chưa rõ thể bệnh. Đây là dược liệu, không chỉ là thực phẩm thông thường.
Biến chứng
Ứ phân
Phân đóng thành khối cứng ở trực tràng, thường gặp ở người cao tuổi hoặc nằm lâu. Phân lỏng có thể rỉ quanh khối phân, tạo tiêu chảy giả. Trong Trung y, hiện tượng này có thể liên hệ với chứng nhiệt kết bàng lưu.
Loét do phân
Khối phân cứng đè ép lâu ngày có thể làm niêm mạc đại tràng hoặc trực tràng thiếu máu, loét và chảy máu.
Trĩ và nứt kẽ hậu môn
Phân cứng và rặn nhiều làm tăng áp lực lên tĩnh mạch hậu môn, đồng thời gây tổn thương da ống hậu môn.
Sa trực tràng
Rặn kéo dài làm sàn chậu và tổ chức nâng đỡ trực tràng suy yếu.
Bí tiểu
Khối phân lớn ở trực tràng có thể chèn ép bàng quang hoặc niệu đạo, đặc biệt ở người cao tuổi.
Tắc ruột và thủng ruột
Ứ phân nặng hoặc bệnh lý tắc nghẽn có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng.
Ảnh hưởng đối với một số bệnh nền
Bệnh tim mạch và mạch máu não
Rặn mạnh làm áp lực trong lồng ngực và ổ bụng tăng, có thể làm huyết áp dao động và tăng gánh cho tim.
Người mắc bệnh mạch vành, suy tim, tăng huyết áp nặng hoặc có tiền sử đột quỵ nên tránh rặn kéo dài và cần xử lý táo bón sớm.
Không nên cho rằng táo bón trực tiếp gây tăng huyết áp hoặc xơ vữa động mạch. Tuy nhiên, chế độ ăn ít chất xơ, ít vận động và căng thẳng có thể là những yếu tố chung giữa các tình trạng này.
Xơ gan
Ở người xơ gan, táo bón có thể làm tăng sự hình thành và hấp thu amoniac trong ruột, góp phần thúc đẩy bệnh não gan.
Rặn mạnh còn làm tăng áp lực ổ bụng, không có lợi cho người bị tăng áp lực tĩnh mạch cửa và giãn tĩnh mạch thực quản.
Bệnh nhân xơ gan cần được bác sĩ hướng dẫn cách giữ đại tiện thông thuận, không tự dùng thuốc nhuận tràng hoặc phương thuốc Trung y.
Bệnh phổi có ho ra máu
Rặn mạnh làm áp lực trong lồng ngực tăng. Người đang ho ra máu hoặc có bệnh phổi nặng cần tránh táo bón và không nên cố rặn.
Tuy nhiên, táo bón không phải nguyên nhân trực tiếp gây lao phổi hoặc ho ra máu.
Ảnh hưởng đến da và lão hóa
Táo bón có thể gây đầy bụng, khó chịu, mất ngủ và ảnh hưởng đến sinh hoạt. Tuy nhiên, các quan niệm cho rằng chất độc từ phân gây nám da, mụn, lão hóa sớm hoặc “ngộ độc tự thân” chưa có đủ căn cứ để khẳng định như một cơ chế trực tiếp.
Các thay đổi ở da có thể liên quan gián tiếp đến chế độ ăn, thiếu nước, mất ngủ, căng thẳng, bệnh nội tiết hoặc lối sống ít vận động.
Táo bón và ung thư đại trực tràng
Không nên khẳng định táo bón kéo dài trực tiếp gây ung thư đại tràng hoặc polyp.
Chế độ ăn nhiều thịt chế biến, ít chất xơ, béo phì, ít vận động, hút thuốc, uống rượu và yếu tố di truyền có thể làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng. Một số yếu tố này đồng thời cũng làm tăng nguy cơ táo bón.
Ngược lại, ung thư đại trực tràng có thể gây táo bón hoặc thay đổi thói quen đại tiện. Vì vậy, táo bón mới xuất hiện kèm máu trong phân, thiếu máu, sụt cân hoặc phân nhỏ kéo dài cần được kiểm tra.
Dấu hiệu cảnh báo
Cần đi khám khi xuất hiện:
Táo bón mới khởi phát và kéo dài.
Táo bón ngày càng nặng.
Máu trong phân hoặc phân đen.
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
Thiếu máu hoặc mệt mỏi rõ.
Đau bụng kéo dài.
Bụng chướng, nôn hoặc bí trung tiện.
Táo bón xen kẽ tiêu chảy.
Phân nhỏ bất thường kéo dài.
Sốt.
Khối bất thường ở bụng hoặc hậu môn.
Người trên 50 tuổi mới xuất hiện thay đổi thói quen đại tiện.
Có tiền sử gia đình ung thư đại trực tràng.
Nói tóm lại
Táo bón không chỉ là tình trạng nhiều ngày không đại tiện và cũng không nhất thiết luôn có phân khô. Bệnh có thể xuất phát từ chế độ ăn, thói quen nhịn đại tiện, thiếu vận động, rối loạn cơ sàn chậu, thuốc hoặc nhiều bệnh lý thực thể.
Theo Trung y, táo bón chủ yếu liên quan đến Nhiệt, khí trệ, khí hư, Huyết hư, Âm hư, dương hư, Hàn hoặc thấp trệ. Điều trị cần căn cứ vào tính chất phân, sức rặn, cảm giác nóng lạnh, đau trướng và thể trạng toàn thân.
Trọng điểm lâu dài là tìm đúng nguyên nhân, tạo lại phản xạ đại tiện, giữ phân mềm nhưng thành khuôn, vận động đều và tránh lạm dụng thuốc tẩy. Các trường hợp có dấu hiệu cảnh báo cần được kiểm tra y học hiện đại trước khi sử dụng phương dược hoặc châm cứu.
Trường Xuân biên soạn