Khái quát
Thuốc lợi mật là những thuốc có tác dụng làm tăng sự hình thành dịch mật ở gan, hỗ trợ dịch mật lưu thông xuống ruột hoặc làm giảm sự co thắt của đường mật.
Các thuốc này có thể được sử dụng trong một số trường hợp rối loạn bài tiết mật, khó tiêu sau bữa ăn nhiều chất béo, một số bệnh gan mật mạn tính hoặc sau phẫu thuật đường mật. Tuy nhiên, thuốc lợi mật không thể thay thế việc giải trừ tắc nghẽn khi sỏi hoặc khối u đã làm bít đường mật.
Căn cứ tác dụng chủ yếu, thuốc lợi mật có thể chia thành ba nhóm:
Thuốc tăng tạo và bài tiết dịch mật tại gan.
Thuốc thúc đẩy túi mật co bóp và bài xuất dịch mật.
Thuốc làm giãn cơ trơn đường mật hoặc cơ thắt Oddi, giúp dịch mật thoát xuống tá tràng thuận lợi hơn.
Một số thuốc có thể đồng thời mang nhiều tác dụng kể trên.
Thuốc tăng tiết mật
Nhóm thuốc này tác động chủ yếu lên tế bào gan, làm tăng lượng dịch mật được tạo thành và bài tiết vào đường mật.
Một số thuốc chủ yếu làm tăng lượng nước và chất điện giải trong dịch mật, khiến dịch mật loãng hơn. Một số thuốc khác có thể làm tăng bài tiết acid mật hoặc những thành phần rắn của dịch mật.
Acid dehydrocholic
Acid dehydrocholic là một dẫn xuất của acid mật, từng được sử dụng với mục đích làm tăng dòng chảy dịch mật.
Thuốc có thể làm tăng lượng dịch mật được bài tiết trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, việc sử dụng kéo dài hoặc dùng không đúng chỉ định không mang lại lợi ích chắc chắn và có thể gây rối loạn tiêu hóa.
Không sử dụng thuốc khi nghi ngờ đường mật bị tắc hoàn toàn.
Acid mật và các dẫn xuất acid mật
Các acid mật có thể tham gia điều hòa thành phần dịch mật, hỗ trợ tiêu hóa và hấp thu chất béo.
Trong điều trị hiện nay, ursodeoxycholic acid được sử dụng phổ biến hơn một số acid mật cũ. Thuốc có thể được chỉ định trong một số bệnh gan mật gây ứ mật và một số trường hợp sỏi cholesterol được lựa chọn kỹ.
Acid chenodeoxycholic từng được dùng để làm tan sỏi cholesterol, nhưng có nhiều tác dụng không mong muốn hơn và hiện ít được lựa chọn hơn.
Thuốc acid mật không làm tan được:
Sỏi sắc tố.
Sỏi đã vôi hóa.
Sỏi lớn.
Sỏi trong túi mật đã mất chức năng.
Sỏi gây tắc ống mật chủ.
Thuốc thường phải sử dụng kéo dài và sỏi vẫn có thể tái phát sau khi ngừng điều trị.
Không tự mua acid mật uống khi chưa xác định thành phần sỏi, chức năng túi mật và tình trạng thông suốt của đường mật.
Thuốc hỗ trợ bài xuất dịch mật
Nhóm này có thể làm túi mật co bóp hoặc làm giảm sức cản tại cơ thắt Oddi, giúp dịch mật thoát xuống tá tràng.
Tác dụng này có thể hỗ trợ một số người bị rối loạn vận động đường mật hoặc đầy bụng, khó tiêu sau bữa ăn.
Tuy nhiên, khi có sỏi ở cổ túi mật hoặc ống mật chủ, việc kích thích túi mật co bóp có thể khiến sỏi mắc chặt hơn, làm đau tăng hoặc gây viêm cấp.
Vì vậy, không nên dùng thuốc kích thích bài xuất mật trong các trường hợp:
Đau quặn mật dữ dội.
Sốt hoặc rét run.
Vàng da.
Nôn liên tục.
Nghi tắc nghẽn đường mật.
Viêm túi mật hoặc viêm đường mật cấp.
Thuốc làm giãn đường mật và cơ thắt
Một số thuốc có thể làm giảm co thắt cơ trơn đường mật, nhờ đó hỗ trợ giảm đau và giảm áp lực trong đường mật.
Các thuốc chống co thắt không loại bỏ được nguyên nhân gây tắc nghẽn. Việc cơn đau giảm sau khi dùng thuốc không có nghĩa viên sỏi đã được bài xuất hoặc đường mật đã thông hoàn toàn.
Không tự dùng atropin, opioid hoặc thuốc chống co thắt mạnh để xử trí đau quặn mật tại nhà, vì các thuốc này có thể gây tác dụng không mong muốn và che lấp diễn biến của bệnh.
Các chế phẩm lợi mật từ Trung dược
Một số chế phẩm Trung dược hoặc Trung dược thành phẩm được sử dụng với mục đích sơ Can, lợi Đởm, thanh nhiệt, lợi thấp, tiêu viêm và giảm đau.
Những vị thường gặp gồm:
Nhân trần.
Kim tiền thảo.
Uất kim.
Sài hồ.
Chi tử.
Hoàng cầm.
Bồ công anh.
Kê nội kim.
Các vị thuốc này thường được vận dụng căn cứ thể bệnh, không nên phối hợp theo một công thức cố định cho mọi người.
Can Đởm khí trệ
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn, ngực bụng đầy, hay thở dài, ợ hơi, triệu chứng tăng khi căng thẳng.
Phép trị
Sơ Can lý khí, lợi Đởm, hòa Vị.
Thường dùng
Sài hồ, Uất kim, Hương phụ, Chỉ xác, Bạch thược.
Can Đởm thấp nhiệt
Biểu hiện
Miệng đắng, đau hạ sườn, ngán dầu mỡ, tiểu vàng, táo bón, rêu lưỡi vàng nhớt.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, lợi Đởm.
Thường dùng
Nhân trần, Hoàng cầm, Chi tử, Kim tiền thảo, Uất kim.
Nếu kèm sốt, rét run hoặc vàng da tăng, phải đi khám cấp cứu, không chỉ dùng thuốc thanh nhiệt lợi mật.
Tỳ hư đàm thấp
Biểu hiện
Ăn ít, đầy bụng, buồn nôn, phân lỏng, cơ thể nặng nề, rêu lưỡi dày nhớt.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa thấp, lý khí hòa Vị.
Thường dùng
Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Bán hạ chế, Sa nhân, Mộc hương.
Trong thể này, dùng quá nhiều thuốc đắng lạnh lợi mật có thể làm Tỳ Vị suy yếu hơn.
Nhận thức đúng về tác dụng “tiêu viêm, lợi mật”
Một số chế phẩm cũ thường được giới thiệu với các tác dụng như:
Bảo vệ gan.
Lợi mật.
Kháng khuẩn.
Tiêu viêm.
Giải co thắt.
Giảm đau.
Làm tan cholesterol.
Những mô tả này không đồng nghĩa thuốc có thể chữa khỏi viêm túi mật, viêm đường mật hoặc làm tan mọi loại sỏi.
Trong nhiễm khuẩn đường mật, kháng sinh và việc giải trừ tắc nghẽn giữ vai trò quyết định. Trung dược hoặc thuốc lợi mật chỉ có thể được cân nhắc trong vai trò hỗ trợ khi đường mật còn thông và người bệnh đã được đánh giá đầy đủ.
Không nên sử dụng các tên thuốc cũ khi chưa xác định rõ hoạt chất
Một số tên như Thư Đởm Linh, Lợi Đởm Thuần, Đởm Ninh, Đởm Thông, Đởm Ích Ninh, Đởm Lạc hoặc Viên Ô Quân Trị Đởm có thể là tên thương mại cũ, tên phiên dịch hoặc chế phẩm có thành phần khác nhau tùy nhà sản xuất.
Không nên chỉ căn cứ tên gọi trong tài liệu cũ để mua hoặc sử dụng.
Trước khi dùng cần xác định rõ:
Hoạt chất và hàm lượng.
Nhà sản xuất.
Chỉ định được phê duyệt.
Chống chỉ định.
Tương tác với thuốc đang dùng.
Ảnh hưởng đối với gan và thận.
Khi nào không được dùng thuốc lợi mật?
Không tự dùng thuốc lợi mật khi có:
Đau dữ dội vùng hạ sườn phải.
Sốt cao hoặc rét run.
Vàng da tăng nhanh.
Nước tiểu sẫm, phân bạc màu.
Nôn liên tục.
Bụng cứng hoặc đau lan rộng.
Huyết áp giảm.
Lú lẫn hoặc ngủ gà.
Nghi sỏi ống mật chủ.
Tắc nghẽn đường mật hoàn toàn.
Viêm tụy cấp.
Trong các trường hợp này, việc kích thích tạo thêm dịch mật trong khi đường thoát đang bị tắc có thể làm áp lực đường mật tăng lên và khiến tình trạng nghiêm trọng hơn.
Tác dụng không mong muốn cần lưu ý
Tùy loại thuốc, người dùng có thể gặp:
Tiêu chảy.
Đau hoặc đầy bụng.
Buồn nôn.
Trào ngược dịch mật.
Tăng men gan.
Rối loạn điện giải.
Dị ứng.
Tương tác với thuốc chống đông hoặc thuốc điều trị bệnh gan.
Nếu xuất hiện đau tăng, vàng da, nước tiểu sẫm hoặc mệt mỏi rõ sau khi dùng thuốc, cần ngừng thuốc và đi khám.
Nguyên tắc sử dụng an toàn
Chỉ dùng thuốc sau khi đã xác định nguyên nhân gây rối loạn đường mật.
Cần phân biệt sỏi túi mật, sỏi ống mật chủ, viêm túi mật, viêm đường mật và rối loạn vận động đường mật.
Không dùng thuốc lợi mật với mục đích cưỡng ép bài sỏi.
Không phối hợp nhiều thuốc lợi mật, thuốc tả hạ và thức ăn nhiều chất béo.
Không dùng kéo dài mà không theo dõi chức năng gan.
Không cho rằng thuốc làm hết đau đồng nghĩa bệnh đã khỏi.
Tái khám và thực hiện siêu âm hoặc phương pháp hình ảnh khác khi có chỉ định.
Kết luận
Thuốc lợi mật có thể làm tăng sự tạo thành dịch mật, thúc đẩy dịch mật bài xuất hoặc làm giảm co thắt đường mật. Mỗi nhóm có cơ chế và phạm vi sử dụng khác nhau.
Các acid mật có thể được sử dụng trong một số bệnh ứ mật và một số trường hợp sỏi cholesterol được lựa chọn kỹ. Trung dược lợi mật thường được vận dụng theo các phép sơ Can, lợi Đởm, thanh nhiệt lợi thấp hoặc kiện Tỳ hóa đàm.
Nói tóm lại, thuốc lợi mật chỉ thích hợp khi đường mật còn thông và đã xác định rõ nguyên nhân bệnh. Khi có tắc nghẽn, sốt, vàng da hoặc đau dữ dội, việc nội soi, dẫn lưu hoặc phẫu thuật có thể giữ vai trò quyết định; không nên trì hoãn bằng cách tiếp tục tự dùng thuốc lợi mật.
Trường Xuân biên soạn