Khái luận
Bệnh mạch vành là bệnh lý mạn tính của Tâm mạch, thường liên quan đến tình trạng động mạch vành bị xơ vữa, hẹp, co thắt hoặc tắc nghẽn, khiến cơ tim không được cung cấp đầy đủ khí huyết.
Điều trị bằng thuốc có vai trò quan trọng trong việc giảm triệu chứng, phòng ngừa biến cố, bảo vệ cơ tim và duy trì sự ổn định lâu dài. Thuốc dùng trong bệnh mạch vành có thể bao gồm thuốc của y học hiện đại theo chỉ định chuyên khoa và thuốc Trung y được lựa chọn theo biện chứng luận trị.
Trong Trung y, bệnh thường thuộc phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Đoản khí (短气) và Hư lao (虚劳). Bệnh cơ chủ yếu là bản hư tiêu thực (本虚标实): Tâm khí, Tâm dương, khí âm, Tỳ Thận suy yếu là phần gốc; khí trệ, huyết ứ, đàm trọc và hàn ngưng làm Tâm mạch không thông là phần ngọn.
Không có một bài thuốc duy nhất thích hợp cho mọi người bệnh mạch vành. Có người cần hoạt huyết hóa ứ; có người cần hóa đàm thông dương; có người cần sơ Can lý khí; có người lại phải ích khí, dưỡng âm hoặc ôn dương. Nếu chỉ căn cứ tên bệnh mà dùng một phương cố định, rất dễ bỏ sót sự khác biệt về hư thực, hàn nhiệt và thể chất.
Mục tiêu điều trị
Giảm triệu chứng
Thuốc có thể giúp cải thiện đau tức ngực, hồi hộp, thở ngắn, mệt khi gắng sức và cảm giác vùng ngực không khoan khoái.
Tuy nhiên, hết đau không đồng nghĩa bệnh đã khỏi. Nhiều thuốc được sử dụng không chỉ để giảm triệu chứng mà còn nhằm bảo vệ Tâm mạch và phòng ngừa biến cố lâu dài.
Phòng ngừa biến cố
Điều trị cần hướng đến việc giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, huyết khối, rối loạn nhịp, suy tim và các biến chứng liên quan.
Người đã đặt stent, từng nhồi máu cơ tim hoặc có nhiều yếu tố nguy cơ thường phải dùng thuốc lâu dài. Không nên tự ngừng thuốc khi thấy cơ thể dễ chịu hơn.
Điều chỉnh phần gốc
Theo Trung y, ngoài việc thông Tâm mạch, cần điều chỉnh phần gốc của bệnh. Khí hư thì phải ích khí; dương hư thì ôn dương; âm hư thì dưỡng âm; Tỳ hư thì kiện Tỳ; Thận hư thì điều bổ Thận khí hoặc Thận dương tùy chứng.
Điều chỉnh đàm, ứ, khí trệ và hàn ngưng
Đàm trọc, huyết ứ, khí trệ và hàn ngưng là những yếu tố thường làm Tâm mạch không thông. Việc dùng thuốc cần căn cứ yếu tố nào chiếm ưu thế, không nên lạm dụng một phép trị duy nhất.
Thuốc của y học hiện đại
Thuốc chống kết tập tiểu cầu
Nhóm thuốc này giúp hạn chế tiểu cầu kết dính và hình thành huyết khối trong động mạch. Thuốc thường được sử dụng ở người có bệnh mạch vành, sau nhồi máu cơ tim hoặc sau đặt stent tùy tình trạng.
Những thuốc thường gặp gồm aspirin và một số thuốc chống kết tập tiểu cầu khác.
Người bệnh không được tự ngừng thuốc sau đặt stent. Việc ngừng thuốc quá sớm có thể làm tăng nguy cơ huyết khối trong stent.
Khi đang dùng nhóm thuốc này, cần thận trọng với các vị hoạt huyết mạnh như Đan sâm (丹参), Tam thất (三七), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Nhũ hương (乳香) và Một dược (没药).
Nếu xuất hiện phân đen, nôn ra máu, tiểu máu, bầm tím lan rộng hoặc chảy máu kéo dài, cần báo cho nhân viên y tế.
Thuốc chống đông
Thuốc chống đông không được dùng cho tất cả người mắc bệnh mạch vành. Nhóm thuốc này thường được chỉ định khi có thêm rung nhĩ, huyết khối, van tim nhân tạo hoặc một số tình trạng đặc biệt.
Người đang dùng thuốc chống đông cần đặc biệt thận trọng khi phối hợp với thuốc hoạt huyết, thuốc bổ, thực phẩm chức năng và trà dược.
Không nên tự thay đổi liều hoặc ngừng thuốc vì sợ chảy máu. Việc điều chỉnh cần căn cứ kết quả theo dõi và hướng dẫn chuyên môn.
Thuốc điều chỉnh mỡ máu
Thuốc hạ cholesterol, đặc biệt là nhóm statin, thường giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định mảng xơ vữa và giảm nguy cơ biến cố Tâm mạch.
Không nên tự ngừng thuốc chỉ vì kết quả mỡ máu đã giảm. Mỡ máu có thể được kiểm soát chính nhờ thuốc và sự thay đổi sinh hoạt.
Nếu có đau cơ nhiều, yếu cơ rõ, nước tiểu sẫm màu hoặc biểu hiện bất thường khác, cần trao đổi với bác sĩ để đánh giá và điều chỉnh.
Không nên tự dùng thêm các chế phẩm “giảm mỡ”, “thải độc gan” hoặc thuốc không rõ thành phần khi đang dùng thuốc hạ mỡ máu.
Thuốc làm giảm gánh nặng cho Tâm
Một số thuốc giúp làm chậm nhịp tim, hạ huyết áp, giảm nhu cầu khí huyết của cơ tim và cải thiện đau thắt ngực.
Những thuốc này cần được dùng đều đặn. Không nên ngừng đột ngột vì có thể làm nhịp tim tăng, huyết áp dao động hoặc đau ngực trở lại.
Người có nhịp tim chậm, huyết áp thấp, hen phế quản hoặc rối loạn dẫn truyền cần được theo dõi chặt chẽ.
Thuốc giãn mạch và giảm đau thắt ngực
Một số thuốc có tác dụng làm giãn mạch, giảm gánh nặng cho Tâm và hỗ trợ cắt hoặc phòng cơn đau thắt ngực.
Người đã được kê thuốc dùng khi lên cơn cần hiểu rõ cách sử dụng và thời điểm phải gọi cấp cứu.
Không dùng chung thuốc nitrate với thuốc điều trị rối loạn cương nếu chưa được bác sĩ cho phép, vì có thể gây tụt huyết áp nguy hiểm.
Nếu đau ngực không giảm theo hướng dẫn đã được cung cấp hoặc đau nặng dần, cần gọi cấp cứu, không tiếp tục chờ tại nhà.
Thuốc điều hòa huyết áp và bảo vệ Tâm Thận
Một số thuốc có tác dụng hạ huyết áp, giảm sức cản mạch, giảm gánh nặng cho Tâm và bảo vệ chức năng Thận trong những trường hợp phù hợp.
Người sử dụng cần theo dõi huyết áp, chức năng Thận và điện giải theo chỉ định. Không tự phối hợp thuốc lợi tiểu, thuốc bổ Thận hoặc thực phẩm chứa nhiều kali khi chưa rõ tình trạng.
Thuốc điều trị bệnh kèm theo
Bệnh mạch vành thường đi cùng tăng huyết áp, đái tháo đường, suy tim, rối loạn nhịp, bệnh Thận, béo phì và rối loạn mỡ máu.
Việc kiểm soát những bệnh kèm theo là một phần của điều trị Tâm mạch. Không nên chỉ chú trọng thuốc giảm đau ngực mà bỏ qua đường huyết, huyết áp, giấc ngủ, cân nặng và chức năng Thận.
Nhận thức của Trung y
Trung y không dùng thuốc căn cứ tên “bệnh mạch vành” đơn thuần, mà căn cứ bệnh cơ biểu hiện ở từng người.
Tâm mạch huyết ứ thường đau cố định, đau như châm, lưỡi tím.
Đàm trọc bế trở thường ngực nặng, thân thể nặng, đàm nhiều, rêu nhầy.
Khí trệ huyết ứ thường đau liên quan đến căng thẳng, hay thở dài, ngực sườn đầy tức.
Hàn ngưng Tâm mạch thường đau gặp lạnh tăng, được ấm thì giảm.
Tâm khí hư thường mệt, thở ngắn, tự ra mồ hôi, vận động thì bệnh tăng.
Khí âm lưỡng hư thường hồi hộp, mệt, miệng khô, ra mồ hôi và ngủ kém.
Tâm dương hư thường sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt nhợt, có thể phù nhẹ.
Điều trị cần phân biệt phần nào là chủ, phần nào là thứ; phần nào thuộc bản hư, phần nào thuộc tiêu thực.
Một. Tâm mạch huyết ứ
Chứng trạng
Đau ngực rõ, đau như kim châm hoặc bó chặt, vị trí tương đối cố định, có thể lan ra vai, lưng hoặc cánh tay; sắc mặt tối, môi hơi tím, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, tĩnh mạch dưới lưỡi tím giãn, mạch sáp hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Huyết ứ bế trở Tâm mạch, khí huyết không thông nên đau. Đau cố định, lưỡi tím và môi tím là những dấu hiệu thường gặp của huyết ứ.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, thông mạch chỉ thống.
Phương thang
Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (血府逐瘀汤加减): Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Ngưu tất (牛膝), Sài hồ (柴胡), Chỉ xác (枳壳), Cát cánh (桔梗), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Đau nhiều gia Huyền hồ sách (玄胡索); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白); hồi hộp, ngủ kém gia Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁). Nhũ hương (乳香) và Một dược (没药) chỉ nên cân nhắc khi có người chuyên môn theo dõi.
Ý nghĩa
Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược, Xuyên khung và Đan sâm hoạt huyết hóa ứ; Đương quy và Sinh địa dưỡng huyết; Sài hồ, Chỉ xác và Uất kim điều khí; Cát cánh khai tuyên vùng ngực; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống.
Chú ý
Người đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu không được tự dùng phương này.
Hai. Đàm trọc bế trở Tâm mạch
Chứng trạng
Ngực tức nặng như bị đè, thân thể nặng nề, dễ béo, đàm nhiều, ăn kém, bụng đầy, buồn nôn, lưỡi nhạt hoặc hơi tối, rêu trắng dày nhầy, mạch hoạt hoặc huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc bế vùng ngực làm hung dương không thông và Tâm mạch bị trở ngại.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa đàm, thông dương khoan hung, lý khí thông mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Nhị trần thang gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合二陈汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓), Cam thảo (甘草), Chỉ xác (枳壳), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金), Trạch tả (泽泻), Sơn tra (山楂).
Gia giảm
Đàm nhiều, buồn nôn gia Trúc nhự (竹茹), Sinh khương (生姜); bụng đầy, ăn kém gia Sa nhân (砂仁), Mộc hương (木香), Bạch truật (白术); thân thể nặng gia Hà diệp (荷叶), Ý dĩ nhân (薏苡仁).
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Bán hạ, Trần bì, Phục linh và Cam thảo kiện Tỳ hóa đàm; Chỉ xác hành khí; Trạch tả khứ thấp; Đan sâm hoạt huyết; Uất kim hành khí hóa ứ.
Ba. Đàm ứ hỗ kết
Chứng trạng
Ngực nặng kèm đau âm ỉ hoặc đau thắt, thân thể nặng nề, bụng lớn, đầu nặng, môi hơi tím, sắc mặt tối, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, rêu dày nhầy, mạch huyền hoạt hoặc sáp.
Bệnh cơ
Đàm trọc và huyết ứ cùng kết trong Tâm mạch. Đàm làm mạch đạo nặng nề; huyết ứ làm khí huyết không thông. Hai yếu tố kết hợp khiến bệnh kéo dài và khó giải.
Pháp trị
Hóa đàm khứ trọc, hoạt huyết hóa ứ, thông Tâm mạch.
Phương thang
Ôn đảm thang hợp Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (温胆汤合血府逐瘀汤加减): Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Đan sâm (丹参), Ngưu tất (牛膝), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Ngực đau gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Huyền hồ sách (玄胡索); thấp trọc rõ gia Trạch tả (泽泻), Hà diệp (荷叶), Ý dĩ nhân (薏苡仁); mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤).
Ý nghĩa
Ôn đảm thang hóa đàm và điều hòa Đởm Vị; Huyết phủ trục ứ thang hoạt huyết, điều khí vùng ngực; Đan sâm, Xích thược, Đào nhân, Hồng hoa và Xuyên khung thông mạch; Uất kim hành khí hóa ứ.
Chú ý
Đây là nhóm phương có nhiều vị hoạt huyết, không thích hợp để tự sử dụng cùng thuốc chống đông.
Bốn. Khí trệ huyết ứ
Chứng trạng
Đau tức ngực liên quan đến giận dữ, lo nghĩ hoặc căng thẳng; ngực sườn đầy tức, hay thở dài, dễ cáu, ngủ kém, lưỡi tối hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Can khí uất kết làm khí cơ vùng ngực không thông. Khí trệ lâu ngày khiến huyết hành chậm, Tâm mạch bị ứ trở.
Pháp trị
Sơ Can lý khí, hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Sài hồ sơ Can tán hợp Đan sâm ẩm gia giảm (柴胡疏肝散合丹参饮加减): Sài hồ (柴胡), Hương phụ (香附), Chỉ xác (枳壳), Bạch thược (白芍), Xuyên khung (川芎), Trần bì (陈皮), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍).
Gia giảm
Dễ giận, miệng đắng gia Chi tử (栀子), Hoàng cầm (黄芩); mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤), Hợp hoan bì (合欢皮); đau ngực rõ gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Huyền hồ sách (玄胡索).
Ý nghĩa
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác và Trần bì sơ Can lý khí; Bạch thược hòa Can; Đan sâm, Xuyên khung và Xích thược hoạt huyết; Đàn hương, Sa nhân và Uất kim hành khí khoan hung.
Năm. Hàn ngưng Tâm mạch
Chứng trạng
Đau ngực gặp lạnh tăng, được ấm thì giảm, sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng xanh, ngực tức, khó thở, lưỡi nhạt tím, rêu trắng, mạch trầm khẩn hoặc trầm trì.
Bệnh cơ
Hàn có tính ngưng trệ và co rút. Hàn tà hoặc dương khí suy làm khí huyết trong Tâm mạch vận hành chậm, sinh đau.
Pháp trị
Tán hàn thông dương, ôn thông Tâm mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch quế chi thang gia giảm (瓜蒌薤白桂枝汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Quế chi (桂枝), Bán hạ (半夏), Chỉ thực (枳实), Hậu phác (厚朴), Đan sâm (丹参), Xuyên khung (川芎), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Sợ lạnh rõ gia Can khương (干姜); đau nhiều gia Huyền hồ sách (玄胡索); dương khí hư gia Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参). Phụ tử chế (制附子) và Tế tân (细辛) chỉ được dùng khi có chỉ định chuyên môn.
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch thông dương khoan hung; Quế chi ôn thông Tâm mạch; Bán hạ hóa đàm; Chỉ thực và Hậu phác hành khí; Đan sâm và Xuyên khung hoạt huyết.
Chú ý
Không tự dùng Phụ tử hoặc Tế tân. Đau ngực gặp lạnh vẫn có thể là tình trạng cấp.
Sáu. Tâm khí hư
Chứng trạng
Hồi hộp, thở ngắn, mệt mỏi, đau ngực âm ỉ, vận động thì tăng, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt, tiếng nói nhỏ, lưỡi nhạt, mạch hư nhược hoặc tế nhược.
Bệnh cơ
Tâm khí hư không đủ sức thúc đẩy huyết dịch. Tâm mạch mất nuôi dưỡng nên hồi hộp, ngực tức và mệt khi gắng sức.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, kiêm hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Bảo nguyên thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm (保元汤合丹参饮加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Chích cam thảo (炙甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子). Nhục quế (肉桂) chỉ dùng lượng nhỏ khi hàn tượng rõ.
Gia giảm
Mệt nhiều gia Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); hồi hộp, ngủ kém gia Toan táo nhân (酸枣仁), Long cốt (龙骨).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Đan sâm hoạt huyết; Đàn hương và Sa nhân hành khí; Mạch môn đông dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí định Tâm.
Bảy. Khí âm lưỡng hư
Chứng trạng
Hồi hộp, thở ngắn, mệt mỏi, miệng khô, ra mồ hôi, ngủ kém, ngực đau âm ỉ, lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế sác hoặc hư sác.
Bệnh cơ
Khí hư thì vận huyết không đủ lực; âm hư thì Tâm mạch thiếu nhu dưỡng. Khí âm cùng suy làm người bệnh mệt, hồi hộp, thở ngắn và ngủ không yên.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, phục mạch thông lạc, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Uất kim (郁金).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông và Sinh địa dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí; Chích cam thảo và A giao dưỡng huyết phục mạch; Quế chi thông dương; Đan sâm thông Tâm mạch; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Tám. Tâm dương hư
Chứng trạng
Đau hoặc tức ngực âm ỉ, gặp lạnh thì tăng, hồi hộp, thở ngắn, mệt mỏi, sắc mặt trắng xanh, sợ lạnh, tay chân lạnh, có thể phù nhẹ, lưỡi nhạt tối, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm tế.
Bệnh cơ
Tâm dương hư làm huyết mạch mất sự ôn thông. Huyết hành chậm, hàn và ứ dễ kết, khiến người bệnh đau ngực, hồi hộp và lạnh tứ chi.
Pháp trị
Ôn dương ích khí, hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Tham phụ thang hợp Quế chi cam thảo thang gia giảm (参附汤合桂枝甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Phụ tử chế (制附子), Quế chi (桂枝), Chích cam thảo (炙甘草), Hoàng kỳ (黄芪), Đan sâm (丹参), Xuyên khung (川芎), Đương quy (当归), Phục linh (茯苓).
Gia giảm
Sợ lạnh rõ gia Can khương (干姜); phù nhẹ gia Trạch tả (泽泻), Xa tiền tử (车前子); hồi hộp, ngủ kém gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Đảng sâm và Hoàng kỳ ích khí; Phụ tử chế và Quế chi ôn dương thông mạch; Đan sâm, Xuyên khung và Đương quy dưỡng huyết hoạt huyết; Phục linh kiện Tỳ lợi thủy.
Chú ý
Phụ tử có độc tính. Không tự dùng phương ôn dương mạnh khi có rối loạn nhịp, huyết áp không ổn định hoặc đau ngực cấp.
Các dạng thuốc Trung y
Thuốc thang
Thuốc thang có ưu điểm là có thể gia giảm theo chứng trạng, thể chất và giai đoạn bệnh. Tuy nhiên, người bệnh mạch vành thường đang sử dụng nhiều thuốc khác, nên việc kê phương cần biết rõ toàn bộ thuốc đang dùng.
Không nên tự sao chép một phương trong sách rồi sắc uống kéo dài.
Thuốc hoàn, tán, cao và viên
Thuốc thành phẩm có ưu điểm tiện sử dụng, nhưng thành phần, hàm lượng và chỉ định có thể khác nhau. Không nên chọn thuốc chỉ dựa vào những từ như “hoạt huyết”, “bổ Tâm” hoặc “thông mạch” trên nhãn.
Người đang dùng thuốc chống đông, thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc hạ huyết áp hoặc thuốc hạ đường huyết càng cần thận trọng.
Dùng riêng từng vị thuốc
Đan sâm, Tam thất, Sơn tra, Qua lâu, Giới bạch, Uất kim, Xuyên khung, Hoàng kỳ, Mạch môn đông và Ngũ vị tử thường được nhắc đến trong điều trị Tâm mạch.
Tuy nhiên, không có vị nào thích hợp cho tất cả mọi người. Đan sâm và Tam thất không phải thuốc bổ tim dùng hằng ngày; Hoàng kỳ không phải cứ mệt là dùng; Nhục quế và Phụ tử không phải cứ lạnh là uống; Mạch môn đông không thích hợp với mọi người Tỳ Vị hư hàn.
Phối hợp thuốc Trung y và thuốc hiện đại
Phối hợp hai hệ thống thuốc có thể đem lại lợi ích khi được theo dõi đúng, nhưng cũng có thể làm tăng nguy cơ tương tác.
Người bệnh cần cung cấp đầy đủ danh sách thuốc, dược liệu, trà thuốc và thực phẩm bổ sung đang sử dụng.
Những phối hợp cần đặc biệt thận trọng gồm thuốc chống đông với thuốc hoạt huyết; thuốc hạ huyết áp với thuốc lợi thủy hoặc giãn mạch; thuốc ngủ với thuốc an thần Trung y; thuốc hạ đường huyết với dược liệu có thể làm đường huyết giảm thêm; thuốc hạ mỡ máu với chế phẩm có thể ảnh hưởng chức năng gan.
Không nên giấu bác sĩ việc đang uống thuốc Trung y, cũng không nên giấu thầy thuốc Trung y những thuốc hiện đại đang sử dụng.
Dấu hiệu cần chú ý khi dùng thuốc
Chảy máu cam kéo dài.
Chảy máu chân răng nhiều.
Bầm tím bất thường.
Phân đen hoặc nôn ra máu.
Tiểu máu.
Đau cơ hoặc yếu cơ rõ.
Chóng mặt, choáng hoặc huyết áp thấp.
Nhịp tim quá chậm hoặc quá nhanh.
Phù chân tăng.
Khó thở hoặc đau ngực tăng.
Khi xuất hiện những dấu hiệu này, không nên tự thêm thuốc để xử lý mà cần đánh giá nguyên nhân.
Những sai lầm thường gặp
Thấy hết đau thì tự ngừng thuốc.
Quên thuốc nhiều ngày rồi uống bù tùy tiện.
Tự ngừng thuốc sau đặt stent.
Sợ ảnh hưởng gan nên bỏ thuốc hạ mỡ máu mà không trao đổi chuyên môn.
Dùng rượu thuốc để thông mạch.
Uống Tam thất hoặc Đan sâm kéo dài như thuốc bổ.
Tự phối hợp nhiều bài thuốc hoạt huyết.
Dùng thuốc của người khác vì cho rằng cùng mắc bệnh mạch vành.
Dùng thuốc giảm đau hoặc thuốc cảm mà không kiểm tra tương tác.
Không khai báo đầy đủ thuốc đang sử dụng.
Điều dưỡng hỗ trợ
Uống thuốc đúng giờ
Nên dùng hộp chia thuốc, lịch uống thuốc hoặc thiết bị nhắc giờ. Việc dùng thuốc đều đặn quan trọng hơn việc dùng nhiều loại nhưng thất thường.
Không tự uống bù gấp đôi khi quên thuốc, trừ khi đã được hướng dẫn cụ thể.
Theo dõi và tái khám
Cần theo dõi huyết áp, nhịp tim, đường huyết, mỡ máu, chức năng gan Thận và các chỉ số khác theo tình trạng.
Thuốc có thể cần được điều chỉnh khi tuổi tác, cân nặng, chức năng Thận hoặc bệnh kèm theo thay đổi.
Ăn uống
Thuốc không thay thế việc điều chỉnh ăn uống. Người bệnh vẫn cần hạn chế thức ăn béo ngọt, chiên rán, quá mặn, rượu và ăn quá no.
Nên dùng rau củ nấu chín, ngũ cốc, đậu, cá, đậu phụ và thịt nạc lượng vừa phải.
Vận động
Vận động nhẹ, đều đặn giúp khí huyết lưu thông và hỗ trợ kiểm soát huyết áp, cân nặng, mỡ máu và đường huyết.
Không tập mạnh khi đang đau ngực, khó thở, chóng mặt hoặc tim đập loạn.
Giấc ngủ và tình chí
Mất ngủ, căng thẳng và giận dữ làm khí cơ vùng ngực bất lợi. Người bệnh nên giữ giờ ngủ tương đối ổn định, giảm kích thích tinh thần vào buổi tối và nghỉ xen kẽ khi làm việc.
Những điều nên làm
Dùng thuốc đúng đơn và đúng giờ.
Ghi lại danh sách đầy đủ các thuốc đang sử dụng.
Hỏi người có chuyên môn trước khi thêm thuốc Trung y.
Tái khám và xét nghiệm đúng hẹn.
Mang đủ thuốc khi đi xa.
Hiểu rõ cách xử trí cơn đau ngực đã được hướng dẫn.
Theo dõi huyết áp, nhịp tim, đường huyết và mỡ máu.
Bỏ thuốc lá và hạn chế rượu.
Điều chỉnh ăn uống, giấc ngủ và vận động.
Những điều không nên làm
Không tự ngừng thuốc sau đặt stent.
Không tự ngừng thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc hạ mỡ máu hoặc thuốc kiểm soát huyết áp.
Không tự dùng nhiều vị hoạt huyết khi đang dùng thuốc chống đông.
Không dùng rượu thuốc để trị đau ngực.
Không dùng thuốc cường dương cùng thuốc nitrate khi chưa được đánh giá.
Không dùng thuốc giảm cân hoặc thuốc lợi tiểu không rõ nguồn gốc.
Không thay hoàn toàn thuốc đang dùng bằng thuốc Trung y.
Không chờ thuốc thang phát huy tác dụng trong cơn đau ngực cấp.
Chú ý
Bài viết trình bày nguyên tắc điều trị bằng thuốc và biện chứng Trung y. Khi xuất hiện đau ngực dữ dội hoặc kéo dài, đau lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ, hàm hoặc vùng thượng vị, kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất, sắc mặt tái xám hoặc tay chân lạnh, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời.
Không dùng thuốc thang, rượu thuốc, dầu xoa, châm cứu hoặc bấm huyệt để trì hoãn việc xử trí.
Kết luận
Điều trị bằng thuốc là một phần quan trọng trong quản lý bệnh mạch vành. Thuốc của y học hiện đại có thể giúp giảm triệu chứng, ổn định mảng xơ vữa, phòng huyết khối, kiểm soát huyết áp, mỡ máu, đường huyết và giảm nguy cơ biến cố Tâm mạch.
Trong Trung y, thuốc cần được lựa chọn theo biện chứng. Huyết ứ thì hoạt huyết hóa ứ; đàm trọc thì kiện Tỳ hóa đàm; khí trệ thì sơ Can lý khí; hàn ngưng thì ôn thông tán hàn; Tâm khí hư thì ích khí dưỡng Tâm; khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm; Tâm dương hư thì ôn dương thông mạch.
Không nên đối lập thuốc Trung y và thuốc hiện đại. Thuốc hiện đại có vai trò rõ trong phòng ngừa biến cố, còn Trung y có thể hỗ trợ điều chỉnh thể chất và bệnh cơ khi được dùng đúng. Điều quan trọng là phối hợp thận trọng, hiểu rõ tương tác, không tự ngừng thuốc và không tự dùng những phương có tác dụng hoạt huyết hoặc ôn dương mạnh.
Nói tóm lại, điều trị bệnh mạch vành bằng thuốc cần lấy sự an toàn, phù hợp với bệnh cơ và theo dõi lâu dài làm căn cứ; không căn cứ cảm giác nhất thời hoặc một tên bệnh chung để tự lựa chọn thuốc.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp