Chức năng tạo máu của tủy xương kém hoặc bị cản trở, giống như máy móc trong nhà máy bị giảm chất lượng hoặc hư hỏng, nguyên liệu tuy dồi dào nhưng số lượng sản phẩm tất yếu sẽ giảm đi. Tại thời điểm này, xét nghiệm máu có thể cho thấy tình trạng giảm toàn thể huyết cầu, tức là số lượng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu giảm. Xét nghiệm chọc dò tủy xương cho thấy sự suy giảm các tế bào tạo máu, đây là cơ sở chính để chẩn đoán bệnh này.
Khoảng 50% trường hợp thiếu máu bất sản không rõ nguyên nhân và được gọi là nguyên phát; Phần còn lại là thứ phát do dùng một số loại thuốc (như chloramphenicol, thuốc sulfa, thuốc chống ung thư), v.v.), tiếp xúc lâu dài với các hóa chất như benzen và thủy ngân. không có biện pháp bảo vệ thích hợp, tiếp xúc với bức xạ hoặc xảy ra một số bệnh (chẳng hạn như viêm gan siêu vi, nhiễm trùng huyết, viêm thận mạn tính, urê huyết, ung thư giai đoạn nặng, v.v.).
Việc điều trị bệnh thiếu máu bất sản có hiệu quả chậm, thường được sử dụng là nội tiết tố nam (testosterone propionate, Stanozolol, v.v.), vitamin và y học cổ truyền. Những người không đáp ứng với thuốc lâu dài có thể được điều trị bằng cắt lách hoặc ghép tủy xương. Nếu có thể xác nhận rằng căn bệnh này là do cơ chế miễn dịch gây ra thì cũng có thể thử điều trị ức chế miễn dịch. Nếu là bệnh thứ phát so với các bệnh khác thì việc điều trị bệnh nguyên phát phải là trọng tâm chính.
Tư liệu tham khảo:
Thiếu máu bất sản là gì?
Thiếu máu bất sản (AA, gọi tắt là thiếu máu bất sản) là do tổn thương tế bào gốc tủy xương, vi môi trường tạo máu và thay đổi cơ chế miễn dịch do nhiều nguyên nhân khác nhau, dẫn đến suy giảm tạo máu ở tủy xương và giảm số lượng tế bào máu toàn phần (hồng cầu, bạch cầu hạt, tiểu cầu) là biểu hiện chính của bệnh.
Sự thay đổi bệnh lý của bệnh thiếu máu bất sản chủ yếu là tủy xương đỏ bị mỡ hóa, tức là tủy đỏ ban đầu có chức năng tạo máu bị thay thế bằng mỡ, lượng thay thế càng nhiều thì tình trạng thiếu máu sẽ càng nghiêm trọng. Căn cứ vào thời điểm khởi phát bệnh, mức độ nghiêm trọng của bệnh, mức độ hủy hoại tủy xương và kết quả, bệnh được chia thành cấp tính và mạn tính. Theo khảo sát ở một số khu vực ở nước tôi, tỷ lệ mắc bệnh là 1,87 đến 2,1 trên 100.000 người, tương tự như tỷ lệ mắc bệnh được báo cáo ở Nhật Bản. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn ở người trẻ tuổi, nam nhiều hơn nữ. Tỷ lệ cấp tính và mạn tính là 1:4,6.
Thiếu máu bất sản dường như thuộc về các phạm trù “Hư lao”, “Hư tổn” và “Huyết chứng” trong y học cổ truyền. Nó từng được coi là một căn bệnh nan y, nhưng sau hơn 40 năm thực hành sử dụng kết hợp y học cổ truyền và y học phương Tây, tiên lượng bệnh đã được cải thiện. Theo khảo sát, độ tuổi trung bình khi chết tăng lên, tỷ lệ tử vong giảm và tỷ lệ mắc bệnh tăng lên.
Nguyên nhân gây thiếu máu bất sản theo y học cổ truyền là gì?
Y học cổ truyền cho rằng tim, can, tỳ, phế, thận và các cơ quan nội tạng khác có liên quan đến việc sản xuất máu. Thực phẩm vào dạ dày, được tỳ và vị tiêu hóa và hấp thu, các chất vi tế “Thủy cốc chi khí” (水谷之气) khí của thủy cốc trong đó chuyển thành hồng cầu thông qua tác dụng của “Tâm sinh huyết” (心生血). “Thận tàng tinh, chủ cốt, sinh tủy” (肾藏精、主骨、生髓) Thận chứa tinh, chủ xương, sinh tủy và “Huyết vi tinh sở hóa” (血为精所化) máu là tinh chuyển hóa, điều này giải thích mối quan hệ giữa thận, tủy và máu. Đặc biệt, tủy xương có liên quan trực tiếp đến quá trình tạo máu. Tủy xương ẩn trong xương, do thận điều khiển, sức mạnh của thận có thể ảnh hưởng đến việc tủy xương sản xuất tinh trùng và tạo máu. Người ta cũng cho rằng gan lưu trữ máu (can tàng huyết), “Dĩ sinh khí huyết” và có thể lưu trữ các chất tinh tế trong thực phẩm làm nguyên liệu cho quá trình tạo máu, điều này cho thấy gan cũng có liên quan đến quá trình tạo máu.
Y học cổ truyền tin rằng huyết và khí, huyết và tinh có liên quan chặt chẽ với nhau. Khí thuộc về Dương, huyết thuộc về âm, việc sản xuất máu phụ thuộc vào khí, và khí có thể thúc đẩy quá trình tạo máu. Tinh và huyết đều thuộc âm, có thể chuyển hóa và tác động lẫn nhau.
Vì vậy, tâm, can, tỳ, phế, thận và các cơ quan nội tạng khác cũng như tinh và khí đều có liên quan đến tạo máu, bất kỳ cơ quan nào trong số này rối loạn chức năng đều có thể ảnh hưởng đến chức năng tạo máu của cơ thể. Đông y cho rằng tủy xương tạo máu có quan hệ mật thiết với thận nên thận có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình tạo máu.
Về nguyên nhân gây ra bệnh thiếu máu bất sản, y học cổ truyền cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do bẩm sinh hư tổn, lục lâm, thất tình, chế độ ăn uống không đúng cách, mệt mỏi, sắc dục và các yếu tố khác làm tổn thương khí, huyết và các cơ quan nội tạng, đặc biệt là tâm, can, tỳ và thận, vì thế xuất hiện các hội chứng thiếu máu và hư lao*
Khuyết tật bẩm sinh (Tiên thiên bất túc): “Đính bổ minh y chỉ chưởng” viết: “Tiểu nhi chi lao, đắc vu mẫu thai” (小儿之劳,得于母胎)Sức khỏe của trẻ em có được từ trong bào thai “Hư lao tâm truyền” của Hà Tự Tôn nói: “Hữu đồng tử hoạn thử giả, tắc do tiên thiêm bẩm phú bất túc, nhi bẩm vu mẫu khí giả vưu đa, cố vi nhất ban xưng vi đồng tử lao” (有童子患此者,则由于先天禀赋不足,而禀于母气者尤多,故一般称为童子劳) Nếu trẻ em mắc phải tình trạng này, đó là do bẩm sinh không đủ, đặc biệt là những đứa trẻ những người được nhận năng lượng của mẹ.” Vì vậy nó thường được gọi là “Vi đồng tử lao” có thể bao gồm một số bệnh thiếu máu bất sản bẩm sinh ở trẻ em.
Lục dâm: Phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa goi là “Lục dâm” . Ví dụ, phong hàn có thể trực trúng tam âm, gồm có kinh Tỳ Thái Âm, kinh thận Thiếu Âm và kinh can quyết âm, gây tổn thương can, tỳ, thận.
Bảy cảm xúc quá độ (vọng động): Giận dữ làm tổn thương gan; Suy nghĩ quá mức làm tổn thương tâm và tỳ; mệt mỏi và nội thương là nguyên nhân quan trọng gây ra các bệnh hư yếu; Tiêu hao cơ thể và tinh thần quá mức có thể làm tổn thương các cơ quan nội tạng, và sau đó gây ra rối loạn chức năng nội tạng và tinh của nội tạng bị suy giảm, dẫn đến hư lao;
Ăn uống không tiết độ có thể tổn thương tỳ vị, quan hệ tình dục có thể làm tổn thương thận, làm cho âm dương của thận bị tổn hại.
Khi các cơ quan này bị tổn thương, không chỉ xuất hiện hội chứng cơ quan ban đầu mà do các cơ quan này có liên quan đến tạo máu nên khi chức năng tạo máu bị ảnh hưởng sẽ xuất hiện hội chứng thiếu máu. {Hoàng đế Nội kinh} ghi lại: “Tinh khí nội đoạt tắc tích hư thành tổn, tích tổn thành lao” (精气内夺则积虚成损,积损成劳). Tinh khí bị chiếm đoạt thì tích hư thành tổn, tổn hại tích lại thành lao quyện . {Loại chứng trị tải} ghi: “Phàm hư tổn khởi vu tỳ vị, lao sái đa khởi vu thận kinh” (凡虚损起于脾胃,劳瘵多起于肾经)Mọi hư tổn đều bắt nguồn từ tỳ vị, và lao sái (lao phổi) hầu hết đều bắt nguồn từ kinh thận.” Nó cũng cho thấy loại bệnh thiếu hụt này là do nội tạng thiếu hụt tinh khí và có liên quan đến tỳ và thận.
Khí và huyết là thành phần quan trọng tạo nên năng lượng khỏe mạnh của cơ thể con người. Bệnh nhân bị thiếu máu dễ bị nhiễm trùng do thiếu khí huyết và thiếu hụt tinh khí. Xuất huyết có thể do khí hư không thống nhiếp (gìn giữ) được huyết, âm hư nội nhiệt đến sốt ngoại cảm, tổn thương nhiệt đối với lạc mạch, hoặc bức bách huyết vọng hành (đi sai đường). Đây là cơ chế gây ra 3 triệu chứng chính của bệnh thiếu máu bất sản: Huyết hư, xuất huyết và sốt.
Y học cổ truyền biện chứng phân hình bệnh thiếu máu bất sản như thế nào?
Y học cổ truyền cho rằng các biểu hiện lâm sàng của bệnh thiếu máu bất sản thường bao gồm mệt mỏi, chóng mặt, khó thở, đánh trống ngực, chảy máu cam, chảy máu lợi răng, chảy máu ở lỗ chân lông, nóng ở lòng bàn tay và lòng bàn chân, hoặc sợ lạnh, phân lỏng, đau lưng, mỏi chân, chán ăn. Mạch tế sác hoặc hoạt sác; Chất lưỡi nhạt rêu lưỡi trắng, hoặc có vết bầm máu ở bề mặt lưỡi, biểu hiện khí huyết hư, tỳ thận hư, âm dương lưỡng hư. Ở giai đoạn đầu của bệnh chỉ có triệu chứng khí huyết suy yếu, khi bệnh tiến triển, hội chứng tạng phủ và âm dương hư tổn dần dần xuất hiện. Trường hợp nặng thường có hội chứng âm hư nghiêm trọng, thời kỳ cuối của bệnh thường có hội chứng dương hư nghiêm trọng. Theo biện chứng, thiếu máu bất sản thường được chia thành ba loại: Âm hư, dương hư và âm dương lưỡng hư.
I/ Loại hình âm hư
Có các chứng trạng như: Trống ngực, thở ngắn, suy nhược toàn thân, sắc mặt nhợt nhạt không tươi, môi nhợt nhạt. Kèm theo sốt nhẹ, nóng lòng bàn chân, đổ mồ hôi ban đêm, khát nước, xuất huyết rõ rệt, táo bón, mạch tế hơi nhanh; Chất lưỡi nhợt nhạt, rêu lưỡi mỏng, đầu lưỡi đỏ, v.v.
II/ Loại hình dương hư
Có các chứng trạng như: Trống ngực, thở ngắn, suy nhược toàn thân, sắc mặt nhợt nhạt không tươi, môi nhợt nhạt. Kèm theo sợ lạnh ưa ấm áp, tay chân lạnh, đau lưng, tiểu đêm nhiều, phân lỏng, phù mặt, tay chân thũng, thường không xuất huyết, thậm chí có khi có thì cũng nhẹ, mạch tế vô lực, lưỡi mập mềm, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng.
III/ Loại hình âm dương lưỡng hư
Đã có biểu hiện âm hư lại có biểu hiện dương hư, hội chứng đan xen phức tạp, hoặc chứng trạng âm dương lưỡng hư đều không rõ ràng.
Những điểm biện chứng chính yếu của y học cổ truyền đối với chứng thiếu máu bất sản là gì?
Điểm mấu chốt của biện chứng thiếu máu bất sản là trước tiên phải xác định rõ âm hư, dương hư và âm dương lưỡng hư. Âm hư biểu hiện bằng sốt nhẹ, lòng bàn tay, lòng bàn chân nóng, đổ mồ hôi ban đêm, xuất huyết rõ rệt, miệng lưỡi khô, phân khô cứng, mạch tế sác, đầu lưỡi đỏ. Ngoài việc loại trừ những nguyên nhân do thực nhiệt gây ra, chẩn đoán có thể được thực hiện nếu có một trong các triệu chứng. Dương hư biểu hiện như lạnh, tay chân lạnh, phù nề, phân lỏng, lưỡi mập, nếu có một trong các triệu chứng này thì có thể chẩn đoán. Mức độ trầm trọng của âm hư, dương hư tùy thuộc vào mức độ và số lượng của các triệu chứng trên.
Vì khí thuộc dương và máu thuộc âm nên những người bị khí yếu hoặc thiếu máu có thể xếp vào loại âm thiếu hoặc thiếu dương, nhưng phải điều trị bằng thuốc bổ khí, bổ máu. Trên cơ sở phân biệt âm dương hư, cần chú ý đến các triệu chứng của nội tạng, chẳng hạn như tỳ hư như kém ăn, đại tiện lỏng, tứ chi yếu ớt, tim hư như hồi hộp, khó chịu. thuốc đó có thể được sử dụng cho phù hợp.
Y học cổ truyền Trung Quốc cho rằng có ba loại xuất huyết chính trong bệnh thiếu máu bất sản: Hư nhiệt, thực nhiệt và khí hư. Trường hợp xuất huyết nhẹ có thể thêm thuốc cầm máu vào đơn thuốc để điều trị thiếu máu, trường hợp xuất huyết nặng thì cầm máu là phương pháp chủ yếu, phương pháp điều trị như sau.
I/ Xuất huyết do hư nhiệt
Triệu chứng: Xuất huyết bắt đầu chậm, lượng nhiều, màu đỏ tươi, thường sốt nhẹ, lòng bàn tay, lòng bàn chân nóng, đổ mồ hôi đêm, đầu lưỡi đỏ, mạch tế sác.
Trị pháp: Tư âm thoái nhiệt, lương huyết chỉ huyết (mát máu cầm máu).
Xử phương: Dùng phương Ngọc nữ tiễn (Thạch cao, Thục địa hoàng, Mạch đông, Tri mẫu, Ngưu tất), Đại bổ âm hoàn (Hoàng bá, Tri mẫu, Thục địa, Quy bản), Tây căn tán (Tây thảo căn, Hoàng cầm, A giao, Trắc bá diệp, Sinh địa hoàng, Cam thảo)
II/ Thực nhiệt xuất huyết
Triệu chứng: Xuất huyết đột ngột, lượng nhiều, màu đỏ tươi, thường sốt, rêu lưỡi vàng, mạch huyền hoặc mạch nhanh. Thường gặp ở chảy máu cam và xuất huyết tiêu hóa.
Trị pháp: Thanh nhiệt tả hỏa, lương huyết chỉ huyết (mát máu, cầm máu).
Xử phương: Công thức: Tê giác địa hoàng thang (Tê giác, Sinh địa, Xích thược, Đan bì), Tả tâm thang (Đại hoàng, Hoàng liên, Hoàng cầm), Long đảm tả can thang (Long đảm thảo, Sinh địa, Sài hồ, Đương quy, Cam thảo, Mộc thông, Trạch tả, Xa tiền tử, Chi tử, Hoàng cầm).Thập khôi tán (Đại kế, Tiểu kế, Hà diệp, Trắc bách diệp, Bạch mao căn, Tây thảo căn, Sơn chi, Đại hoàng, Đan bì, Tông lư bì), Gia vị thanh vị tán (Sinh địa, Đan bì, Đương quy, Hoàng liên, Liên kiều, Tê giác, Thăng ma, Cam thảo sống).
III/ Khí hư xuất huyết
Triệu chứng: Xuất huyết mạn tính, lượng máu lúc nhiều lúc ít, màu sắc hơi nhạt, chủ yếu ở hạ bộ (phần dưới cơ thể), kèm theo mệt mỏi, khó thở, đổ mồ hôi tự phát (tự hãn), mặt trắng và môi nhợt nhạt, hoặc thân thể lạnh và không chịu được lạnh, rêu lưỡi trắng mỏng, Chất lưỡi nhạt, mạch trầm tế vô lực.
Trị pháp: Bổ khí nhiếp huyết.
Xử phương: Thang Quy tỳ (Bạch truật, Phục linh, Hoàng kỳ, Long nhãn nhục, Toan táo nhân, Nhân sâm., Mộc hương, Cam thảo, Đương quy, Viễm chí), Thang Bổ trung ích khí (Nhân sâm, Hoàng kỳ, Đương quy, Bạch truật, Thăng ma, Sài hồ, Trần bì, Cam thảo), và Thang Hoàng thổ (Đỗ tâm hoàng thổ, Cam thảo, Can địa hoàng, Bạch truật, pháo Phụ tử, A giao, Hoàng cầm).
Các bài thuốc trị chứng xuất huyết nêu trên, ngoài việc gia giảm tùy theo biện chứng còn phải bổ sung thêmcác vị thuốc cầm máu để tăng cường tác dụng cầm máu. Những người bị chảy máu cam phải dùng bông nhét mũi. Người bị chảy máu nướu răng có thể dùng nước phèn chua 2% hoặc Ngũ bội tử, Địa cốt bì mỗi loại 50g để súc miệng. Xuất huyết nội sọ phần lớn là do can hỏa thượng xung (bốc lên), tổn thương lạc mạch, có thể dùng thang Long đảm tả can để mát gan tả hỏa; Nếu hôn mê gia thêm An cung ngưu hoàng hoàn hoặc Chí bảo đan hòa với nước cho uống bằng đường mũi có tác dụng thanh nhiệt khai khiếu. Trường hợp kinh nguyệt quá nhiều, trước khi hành kinh 3 ngày bắt đầu uống thang Phòng băng (Bạch mao căn, Ngẫu tiết, Trắc bách diệp, Chi tử sao đen, Sinh địa, Đan bì, A giao, Hoa nhị Thạch, Long cốt nung, Mẫu lệ chín) gia Hoàng kỳ, Đảng sâm để bổ khí nhiếp (giữ gìn)) huyết
Điều trị bệnh nhân thiếu máu bất sản khi bị sốt như thế nào?
Một khi bệnh nhân thiếu máu bất sản bị nhiễm trùng hoặc bị sốt thì cần được điều trị tích cực. Cảm lạnh thường gặp ở bệnh nhân thiếu máu bất sản và không nên dùng thuốc hạ sốt tây dược, giảm đau ảnh hưởng đến hệ tạo máu. Tốt nhất nên sử dụng liệu pháp y học cổ truyền.
Y học cổ truyền cho rằng có hai loại sốt chính trong bệnh thiếu máu bất sản: Hư nhiệt và thực nhiệt. Nguyên nhân chủ yếu của loại hình hư nhiệt là do bệnh tật gây ra, thường là sốt nhẹ, có thể căn cứ vào loại hình âm hư của huyết hư mà luận trị. Những trường hợp do thực nhiệt bệnh thường khởi phát đột ngột và sốt cao. Biện chứng luận trị có thể tiến hành dựa trên tính chất và vị trí nhiễm trùng.
Cảm mạo phát sốt thường dùng Ngân kiều tán (Kim ngân hoa, Liên kiều, Đậu thị, Ngưu bàng tử, Bạc hà, Kinh giới tuệ, Cát cánh, Cam thảo, Trúc diệp, Lô căn tươi), Tang cúc ẩm (Tang diệp, Cúc hoa, Hạnh nhân, Cát cánh, Cam thảo, Bạc hà, Liên kiều, Lô căn). Cảm nhiễm xoang miệng có thể dùng Phổ tế tiêu độc ẩm (Hoàng cầm, Hoàng liên, Liên kiều, Huyền sâm, Bản lam căn, Mã bột, Ngưu bàng tử, Cương tàm, Thăng ma, Sài hồ, Trần bì, Cát cánh, Cam thảo, Bạc hà), nếu bị loét thì đắp Tích loại tán hoặc Dưỡng âm sinh cơ tán, đồng thời dùng Bản lam căn, Bồ công anh mỗi vị 30g sắc lấy nước để ngậm súc miệng. Nếu phế bị cảm nhiễm dùng Ma hạnh Thạch cam thang đến Thiên kim vi kính thang. Nhiễm trùng đường ruột dùng thang Cát căn cầm liên, thang Bạch đầu ông, Hương liên hoàn. Cảm nhiễm hệ thống tiết niệu dùng Bát chính tán (Mộc thông, Cù mạch, Biển súc, Xa tiền tử, Hoạt thạch, chích Cam thảo, Đại hoàng, Chi tử), Phân thanh ẩm )Tỳ giải, Bạch truật, Xa tiền tử, Phục linh, Thạch xương bồ, Hoàng bá, Liên tử tâm, Đan sâm). Cảm nhiễm mô mềm dùng thang Hoàng liên giải độc (Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá, Chi tử). Nhiễm trùng máu (Bại huyết chứng) dùng Thanh ôn bại độc ẩm (Thạch cao sống, Sinh địa hoàng, Tê giác, Hoàng liên, Chi tử, Cát cánh, Hoàng cầm, Tri mẫu, Xích thược, Huyền sâm, Liên kiều, Cam thảo, Đan bì, Trúc diệp) thang Hoàng liên giải độc. Khi thiếu máu bất sản kết hợp với nhiễm trùng, ngoài việc trừ khứ bệnh còn phải chú ý bồi bổ sức khỏe cho người bệnh.
Làm thế nào để sử dụng y dược học cổ truyền để điều trị bệnh thiếu máu bất sản khi vấn đề chính là thiếu máu?
Biểu hiện lâm sàng của bệnh thiếu máu bất sản chủ yếu là huyết hư, xuất huyết và ngoại cảm phát nhiệt. Trong đó, huyết hư là nguyên nhân căn bản, xuất huyết và sốt là tiêu chứng. Khi điều trị, trong trường hợp bình thường, huyết hư là vấn đề chính và cần được tập trung điều trị. Một khi xuất huyết và sốt nghiêm trọng xảy ra, mâu thuẫn sẽ thay đổi và trọng tâm điều trị sẽ là xuất huyết và nhiễm trùng. Việc điều trị huyết hư phải dựa trên biện chứng phân loại hình luận trị theo y học cổ truyền..
I/ Loại hình Thận âm hư
Trị pháp: Tư âm bổ thận.
Xử phương: Đại thố ti tử ẩm (Thố ti tử, Nữ trinh tử, Cẩu kỷ tử, Thục địa, Hà thủ ô, Sơn du nhục, Hạn liên thảo, Bổ cốt chỉ) gia giảm; Nếu âm hư nặng, có thể tuyển gia Huyền sâm, Hoàng tinh, Quy bản giao, Miết giáp, Thiên môn đông.
II/ Loại hình thận dương hư
Trị pháp: Bổ thận trợ dương.
Xử phương: Dùng thang Thập tứ kiến trung (Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Cam thảo, Nhân sâm, Mạch đông, Xuyên khung, Nhục quế, Phụ tử, Nhục thung dung, Bán hạ , Hoàng kỳ, Phục linh, Thục địa), thang Bát vị Quế phụ (Can địa hoàng, Sơn dược, Sơn thù du, Trạch tả, Phục linh, Đan bì, Quế chi, pháo Phụ tử)
Gia giảm: Dương hư nặng có thể gia Tiên linh tỳ, Tiên mao, Bổ cốt chỉ, Thố ti, Hải mã, Lộc giác chế phẩm (Lộc nhung, Lộc giác giao, Lộc giác sương), Ba kích thiên, Tỏa dương.
III/ Loại hình thận âm dương lưỡng hư
Trị pháp: Tư âm trợ dương
Xử phương: Hữu quy ẩm (Thục địa, Sơn dược, Cẩu kỷ tử, Sơn du nhục, chích Cam thảo, Nhục quế, Đỗ trọng, Phụ tử) hoặc Tiên mao, Tiên linh tỳ, Bổ cốt chỉ, Nhục thung dung, Ba kích thiên, Thục địa, Hà thủ ô, Nữ trinh tử, Cẩu kỷ tử, Tang thầm. Tình trạng bệnh nặng, có thể gia cao Quy bản là thuốc bổ âm và Tiên linh tỳ là thuốc bổ dương.
IV/ Ứ huyết đình trệ
Bệnh nhân ngoài các chứng trạng thiếu máu, còn kèm theo đau sườn, da thịt khô ráp, sắc mặt tối ám, chất lưỡi tím tối, mạch tế hoặc sáp.
Trị pháp: Hoạt huyết hóa ứ hợp Bổ huyết pháp.
Xử phương: Dùng thang Đào hồng tứ vật (Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên khung, Đương quy, Bạch thược, Thục địa) hợp thang Đương quy bổ huyết (Hoàng kỳ, Đương quy), gia Đan sâm, Kê huyết đằng, Tam thất.
Căn cứ lý luận “Ứ huyết bất khứ, tân huyết bất sinh” (瘀血不去,新血不生) huyết ứ không trừ, không sinh huyết mới, cũng có thể vì thế nên trong 3 loại hình nêu trên có bổ sung phương dược hoạt huyết hóa ứ. Vì thuốc bổ thận có thể thúc đẩy sự tăng thực của tế bào gốc tạo máu và thuốc hoạt huyết có thể cải thiện môi trường vi mô tạo máu, có lợi cho sự tăng thực và phân hóa của tế bào máu.
Các loại thuốc được thêm vào tùy theo các chứng hình:
① Đối với người bệnh thiếu máu: Gia Hoàng kỳ, Đương quy, Bạch thược, Đảng sâm, Nhân sâm, A giao, Lộc nhung, Lộc giác giao, Tử hà sa, Long nhãn nhục.
② Xuất huyết mức độ nhẹ: Gia Tiên hạc thảo, Bạch mao căn, Đại tiểu kế, Ngẫu tiết, Trắc bá diệp, Tây thảo.
③ Bạch cầu quá thấp: Gia Kê huyết đằng, Bổ cốt chỉ, Lộc giác giao, Tử hà sa, Hoàng kỳ, Nhân sâm, Đảng sâm, Thạch vi, Xuyên sơn giáp.
④ Tiểu cầu quá thấp: Gia Tử thảo, Thổ Đại hoàng, Quyển bá, Thị thụ diệp, Nhân sâm, Đảng sâm, Thủy ngưu giác, Quảng giác hoặc tê giác, Tam thất, Tử hà sa hoặc Long nhãn nhục
⑤Dễ bị cảm lạnh: Gia Hoàng kỳ, Phòng phong, Bạch truật, Bản lam căn.
Thiếu máu bất sản cấp tính là loại hình âm hư trầm trọng nhất, ở giai đoạn cấp tính, nếu không sốt cao, xuất huyết nhiều thì có thể bổ sung các bài thuốc bổ âm, bổ thận nêu trên vào các bài thuốc bổ âm, đồng thời phối hợp với các bài thuốc làm mát máu và giải độc (Lương huyết giải độc) như Thang Tê giác địa hoàng, gia Bạch mao căn, Tiên hạc thảo có tác dụng mát máu và cầm máu, gia Ngân hoa, Liên kiều, Chi tử để thanh nhiệt giải độc. Sau giai đoạn cấp tính sẽ tiến hành điều trị theo 3 loại nêu trên. Nếu sốt cao và xuất huyết nhiều, phải tiến hành xử lý tương ứng.
Các phương kinh nghiệm:
① Một gan dê và 1000 gram hạt vừng đen. Gan dê có màu xanh xám được ưa chuộng hơn, hấp chín, thái lát bằng dao tre, phơi khô trên ngói, bỏ gân, hạt vừng đen được rang đến khi hơi ngả vàng. Nghiền hai vị thành bột mịn và uống 10 gam vào mỗi buổi sáng và buổi tối.
② Lấy 40 gam nhung hươu, thêm 4 cân rượu gạo, ngâm trong một tuần, uống 100 ml mỗi ngày, chia làm 2 đến 3 phần, sau 20 ngày, uống 50 ml mỗi ngày, chia làm sáng và tối, cho đến khi hết.
Người bệnh thiếu máu bất sản cần chú ý điều gì?
Bệnh nhân bị thiếu máu bất sản nên tránh tiếp xúc liên tục với hóa chất, chất phóng xạ và thuốc có thể gây tổn thương hoặc ức chế tủy xương. Về chế độ ăn uống, chú ý đến dinh dưỡng, ăn ít đồ cay nóng, trợ nhiệt, tránh uống rượu mạnh để tránh chảy máu do giãn mạch. Những người bị bệnh nặng phải nghỉ ngơi tại giường, còn những người bị bệnh nhẹ cũng nên chú ý nghỉ ngơi nhiều hơn và có những hoạt động trong nhà và ngoài trời phù hợp. Cần chú ý đến vệ sinh cá nhân và xung quanh. Chú ý vệ sinh răng miệng, súc miệng sau bữa ăn và trước khi đi ngủ, đánh răng bằng bàn chải đánh răng mềm. Giữ da sạch sẽ và không chà xát da quá mạnh khi tắm để tránh gây chảy máu dưới da. Ngăn ngừa cảm lạnh hoặc các bệnh nhiễm trùng khác và tránh đến những nơi đông người để không lây nhiễm chéo. Vào mùa thu đông, khi khí hậu hanh khô, có thể bôi chất bôi trơn glycerin lên mũi để ngăn ngừa chảy máu cam. Bạn có thể tập Thái Cực Quyền và Khí Công để nâng cao thể lực.
Tiên lượng của bệnh thiếu máu bất sản như thế nào?
Tiên lượng của bệnh thiếu máu bất sản thay đổi tùy thuộc vào các yếu tố như mức độ suy tủy xương, tuổi của bệnh nhân, tính kịp thời của điều trị và phương pháp điều trị được sử dụng.
Thiếu máu bất sản cấp tính khởi phát đột ngột, tiến triển nhanh, thiếu tế bào tạo máu ở tủy xương trầm trọng, kèm theo nhiễm trùng hoặc chảy máu nặng, đặc biệt là xuất huyết nội sọ. Trừ khi ghép tủy thành công, hiệu quả chữa bệnh nói chung là kém và tỷ lệ tử vong cao, chiếm 91,6%. Tử vong thường xảy ra trong vòng một năm sau khi phát bệnh và trong trường hợp nặng, tử vong có thể xảy ra trong vòng vài tháng hoặc thậm chí vài tuần. Thiếu máu bất sản mạn tính chiếm 24,6% số ca tử vong do thiếu máu, nhiễm trùng và chảy máu.
Bệnh thiếu máu bất sản mạn tính, do được điều trị thích hợp, bệnh nhân bị thiểu sản tủy xương và giảm toàn thể huyết cầu ở mức độ nhẹ, tình trạng ổn định, không tái phát triển và cũng không tái tiến triển nữa, những bệnh nhân như vậy có thể sống được nhiều năm, thậm chí hơn 20 năm.
Tiên lượng bệnh nhi tốt hơn, hiệu quả điều trị bằng thuốc tốt hơn người lớn. Điều trị sớm sẽ hiệu quả hơn điều trị muộn. Liệu pháp hỗ trợ có thể cải thiện tình trạng thể chất của bệnh nhân, ngăn ngừa chảy máu và nhiễm trùng, có ý nghĩa rất lớn trong việc kéo dài sự sống cho đến khi chức năng tủy xương dần hồi phục. Nguyên nhân chính gây tử vong là nhiễm trùng nặng và xuất huyết nội sọ.
Nếu được điều trị đúng cách, một số rất ít bệnh nhân có thể hồi phục hoàn toàn, ở một số bệnh nhân, sau vài tháng hoặc vài năm, các triệu chứng về máu và tủy xương đã cải thiện đáng kể nhưng không thể hoàn toàn trở lại bình thường.
Chú thích
*Hư lao, tên một căn bệnh trong y học cổ truyền, còn gọi là hư tổn, là do nhiều nguyên nhân khác nhau như bẩm sinh thể lực yếu, suy dinh dưỡng mắc phải, nội thương và ngoại cảm, v.v. Nguyên nhân chính là suy giảm chức năng các cơ quan, tạng phủ, chức năng khí, huyết, âm dương, khí huyết hư tổn lâu ngày không phục hồi. Hội chứng hư suy của ngũ tạng là thuật ngữ chung để chỉ một loạt các triệu chứng suy nhược mạn tính với các biểu hiện lâm sàng chủ yếu.
** Hư tổn, tên của bệnh. Đó là một căn bệnh do thất tình ( bảy cảm xúc) lao lực, ăn uống, tổn thương do tửu sắc, hoặc thiếu chăm sóc sau khi bị bệnh, dẫn đến âm dương, khí huyết và nội tạng đều suy yếu mà thành bệnh. Phân thành các loại như: Khí hư, huyết hư và âm hư.
***Huyết chứng là một loại hội chứng xuất huyết do nhiệt hoặc khí hư do nhiều nguyên nhân khác nhau, khiến máu không đi theo đường bình thường, hoặc tràn vào miệng và mũi, hoặc rò rỉ ở phía trước và phía sau nhị âm (đại tiểu tiện), hoặc rỉ ra ngoài da, bệnh gọi chung là huyết chứng. Nói cách khác, rối loạn chảy máu phi sinh lý được gọi là huyết chứng. Trong sách y học cổ xưa còn gọi là huyết bệnh hay thất huyết (mất máu).
Lương y Nguyễn Nghị dịch
13/11/2023