Khái luận
Trong Trung y cổ đại không có bệnh danh “thiếu máu cơ tim không triệu chứng” hoàn toàn tương ứng với cách gọi hiện nay. Căn cứ những biểu hiện kín đáo như mệt khi gắng sức, thở ngắn, hồi hộp, ngực hơi nặng, sắc mặt tối, giảm sức chịu đựng, lưỡi tím hoặc rêu nhầy, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Đoản khí (短气) và Hư lao (虚劳).
Đặc điểm của bệnh là Tâm mạch đã mất sự thông lợi hoặc không được nuôi dưỡng đầy đủ, nhưng biểu hiện đau ngực không rõ. Người bệnh có thể chỉ cảm thấy mệt, hụt hơi, hồi hộp thoáng qua hoặc hoàn toàn không nhận thấy điều gì bất thường.
Tâm chủ huyết mạch. Khi Tâm khí đầy đủ, Tâm dương ôn thông, khí huyết vận hành điều hòa thì vùng ngực khoan khoái, hơi thở thông lợi. Nếu Tâm khí suy, khí âm cùng hao, Tâm dương bất túc, hoặc đàm trọc, huyết ứ, khí trệ và hàn ngưng làm Tâm mạch bị trở ngại, cơ thể có thể xuất hiện trạng thái Tâm mạch thất dưỡng mà chưa phát thành đau rõ.
Bệnh cơ
Bệnh cơ chủ yếu thuộc bản hư tiêu thực (本虚标实).
Bản hư thường gồm Tâm khí hư, khí âm lưỡng hư, Tâm dương hư, Tâm huyết bất túc, Tỳ khí hư, Thận khí hư hoặc Can Thận âm hư.
Tiêu thực thường gồm huyết ứ, đàm trọc, khí trệ, hàn ngưng và đàm nhiệt làm Tâm mạch không thông.
Trong bệnh này, khí hư huyết ứ và đàm ứ hỗ kết thường gặp hơn cả. Khí hư thì huyết vận hành không có lực; huyết ứ thì Tâm mạch không thông. Tỳ mất kiện vận thì thấp tụ thành đàm; đàm trọc lưu lại trong vùng ngực, lâu ngày kết với huyết ứ, khiến Tâm mạch bế trở âm thầm.
“Bất thông tắc thống” (不通则痛), không thông thì đau, là nguyên tắc thường được nhắc đến trong Tâm thống. Tuy nhiên, Tâm mạch không thông không phải lúc nào cũng phát thành đau rõ. Khi chính khí suy, phản ứng của cơ thể không mạnh, hoặc đàm trọc che lấp khí cơ, bệnh có thể biểu hiện chủ yếu bằng mệt, thở ngắn, hồi hộp, ngực nặng và giảm sức chịu đựng.
Nguyên nhân thường gặp
Tâm khí suy yếu
Tuổi cao, bệnh lâu ngày, lao lực quá mức hoặc thể chất vốn hư làm Tâm khí suy. Tâm khí không đủ sức thúc đẩy huyết dịch, Tâm mạch mất nuôi dưỡng, người bệnh dễ mệt, thở ngắn và hồi hộp nhưng không nhất thiết đau ngực.
Tỳ hư sinh đàm
Ăn nhiều thức ăn béo ngọt, chiên rán, ăn uống thất thường và ít vận động làm Tỳ mất kiện vận. Thấp tụ thành đàm, đàm trọc bế trở vùng ngực khiến khí cơ không thông, sinh nặng ngực, đầu nặng và mệt mỏi.
Khí trệ huyết ứ
Lo nghĩ, uất ức và căng thẳng kéo dài làm Can khí không điều đạt. Khí trệ thì huyết ứ, Tâm mạch bị trở ngại nhưng đôi khi chỉ biểu hiện bằng hồi hộp, mệt hoặc cảm giác vùng ngực không khoan khoái.
Khí âm hao tổn
Bệnh kéo dài, tuổi cao hoặc tiêu khát lâu ngày làm khí và âm cùng suy. Khí hư không đủ sức hành huyết, âm hư làm Tâm mạch mất nhu dưỡng, từ đó hình thành thiếu nuôi dưỡng Tâm mạch mà không nhất thiết có đau.
Dương hư hàn ngưng
Tâm dương hoặc Thận dương suy làm huyết mạch mất sự ôn thông. Hàn ngưng khiến mạch co rút, huyết hành chậm, người bệnh thường sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt và ngực nặng khi gặp lạnh.
Biểu hiện kín đáo cần chú ý
Người bệnh có thể không đau ngực nhưng dễ mệt khi đi bộ nhanh, leo cầu thang hoặc mang vật nặng; thở ngắn khi gắng sức; hồi hộp thoáng qua; ngực nặng mơ hồ; đầy tức vùng thượng vị; vã mồ hôi bất thường; chóng mặt nhẹ; giảm sức chịu đựng so với trước; ngủ không yên hoặc cảm thấy mệt sau ăn no và khi căng thẳng.
Không nên chỉ căn cứ vào việc có hay không có đau ngực để đánh giá mức độ Tâm mạch bị tổn thương.
Nguyên tắc điều trị
Điều trị cần lấy phù chính thông mạch làm trọng tâm.
Tâm khí hư thì ích khí dưỡng Tâm, kiêm hoạt huyết.
Khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm, phục mạch.
Đàm trọc thì kiện Tỳ hóa đàm, thông dương khoan hung.
Đàm ứ hỗ kết thì hóa đàm khứ trọc, hoạt huyết thông mạch.
Khí trệ huyết ứ thì sơ Can lý khí, hoạt huyết.
Tâm dương hư thì ôn dương ích khí, thông mạch.
Can Thận âm hư thì tư dưỡng Can Thận, dưỡng Tâm thông mạch.
Một. Tâm khí hư, Tâm mạch thất dưỡng
Chứng trạng
Không đau ngực rõ nhưng dễ mệt, thở ngắn, hồi hộp, vận động thì hụt hơi, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt, tiếng nói nhỏ, tinh thần giảm, lưỡi nhạt, mạch hư nhược hoặc tế nhược.
Bệnh cơ
Tâm khí hư không đủ sức thúc đẩy huyết dịch. Tâm mạch không được khí huyết nuôi dưỡng đầy đủ nên người bệnh mệt, hồi hộp và thở ngắn. Khi vận động, nhu cầu khí huyết tăng lên, nhưng Tâm khí không đủ sức đáp ứng nên triệu chứng rõ hơn.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Bảo nguyên thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm (保元汤合丹参饮加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Chích cam thảo (炙甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子). Nhục quế (肉桂) chỉ dùng lượng nhỏ khi hàn tượng rõ.
Gia giảm
Mệt nhiều gia Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓); ra mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎), Ma hoàng căn (麻黄根); hồi hộp nhiều gia Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁), Long cốt (龙骨).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Chích cam thảo bổ Trung; Đan sâm hoạt huyết thông mạch; Đàn hương và Sa nhân hành khí; Mạch môn đông dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí, định Tâm.
Hai. Khí âm lưỡng hư
Chứng trạng
Mệt mỏi, hồi hộp, thở ngắn, miệng khô, ra mồ hôi, ngủ kém, lòng bàn tay bàn chân hơi nóng, thể lực giảm, lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế sác hoặc hư sác.
Bệnh cơ
Khí hư thì vận huyết không đủ lực; âm hư thì Tâm mạch thiếu nhu dưỡng. Khí và âm cùng suy làm người bệnh hồi hộp, thở ngắn, mệt, miệng khô và ngủ kém. Tâm mạch mất dưỡng nhưng chưa nhất thiết phát đau rõ.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, phục mạch thông lạc, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); âm hư rõ gia Thạch hộc (石斛), Ngọc trúc (玉竹), Huyền sâm (玄参).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông và Sinh địa dưỡng âm sinh tân; Ngũ vị tử liễm khí; Chích cam thảo và A giao dưỡng huyết phục mạch; Quế chi thông dương mạch; Đan sâm hoạt huyết; Toan táo nhân dưỡng Tâm an thần.
Ba. Đàm trọc bế trở Tâm mạch
Chứng trạng
Ngực nặng mơ hồ, thân thể nặng nề, dễ béo, đầu nặng, buồn ngủ, ăn uống kém, bụng đầy, đàm nhiều, lưỡi nhạt hoặc hơi đỏ, rêu trắng dày nhầy, mạch hoạt hoặc huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc bế trở vùng ngực, làm thanh dương không thông, Tâm mạch bị trở ngại. Do đàm trọc che lấp khí cơ nên người bệnh không đau rõ, chỉ thấy ngực nặng, mệt và giảm sức lực.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa đàm, thông dương khoan hung, khứ trọc thông mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Nhị trần thang gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合二陈汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓), Cam thảo (甘草), Chỉ xác (枳壳), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金), Trạch tả (泽泻), Sơn tra (山楂).
Gia giảm
Bụng đầy, ăn kém gia Sa nhân (砂仁), Mộc hương (木香), Bạch truật (白术); thân thể nặng gia Hà diệp (荷叶), Ý dĩ nhân (薏苡仁); ngực tức rõ gia Đàn hương (檀香), Thạch xương bồ (石菖蒲).
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch thông dương khoan hung; Bán hạ, Trần bì, Phục linh và Cam thảo kiện Tỳ hóa đàm; Chỉ xác hành khí; Đan sâm hoạt huyết; Uất kim hành khí hóa ứ; Trạch tả khứ thấp; Sơn tra tiêu thực.
Bốn. Đàm ứ hỗ kết
Chứng trạng
Ít hoặc không đau ngực nhưng có hồi hộp, ngực nặng, đầu nặng, chóng mặt, thân thể nặng nề, môi hơi tím, sắc mặt tối, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, rêu dày nhầy, tĩnh mạch dưới lưỡi tím giãn, mạch huyền hoạt hoặc sáp.
Bệnh cơ
Đàm trọc và huyết ứ cùng kết trong Tâm mạch. Đàm làm mạch đạo nặng nề; huyết ứ làm mạch không thông. Đàm và ứ âm thầm bế trở nên triệu chứng đau không rõ, nhưng Tâm mạch đã mất sự thông lợi.
Pháp trị
Hóa đàm khứ trọc, hoạt huyết hóa ứ, thông mạch.
Phương thang
Ôn đảm thang hợp Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (温胆汤合血府逐瘀汤加减): Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Đan sâm (丹参), Ngưu tất (牛膝), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Ngực nặng gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白); chóng mặt gia Thiên ma (天麻), Cát căn (葛根); khí hư rõ gia Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参).
Ý nghĩa
Ôn đảm thang hóa đàm, điều hòa Đởm Vị; Huyết phủ trục ứ thang hoạt huyết hóa ứ, điều khí vùng ngực; Đan sâm, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân và Hồng hoa thông mạch; Uất kim hành khí hóa ứ; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống.
Chú ý
Người đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu không nên tự phối hợp Hồng hoa, Đào nhân, Đan sâm, Tam thất, Nhũ hương hoặc Một dược.
Năm. Khí trệ huyết ứ
Chứng trạng
Vùng ngực không khoan khoái, hay thở dài, ngực sườn đầy tức, dễ cáu giận, căng thẳng thì hồi hộp hoặc mệt tăng, lưỡi tối hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Tình chí uất kết làm Can khí không điều đạt, khí cơ vùng ngực bị trở ngại. Khí trệ lâu ngày làm huyết ứ. Tâm mạch bị ứ trở âm thầm, không nhất thiết đau rõ nhưng người bệnh dễ hồi hộp, mệt và khó chịu vùng ngực khi căng thẳng.
Pháp trị
Sơ Can lý khí, hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Sài hồ sơ Can tán hợp Đan sâm ẩm gia giảm (柴胡疏肝散合丹参饮加减): Sài hồ (柴胡), Hương phụ (香附), Chỉ xác (枳壳), Bạch thược (白芍), Xuyên khung (川芎), Trần bì (陈皮), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍).
Gia giảm
Căng thẳng, mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤), Hợp hoan bì (合欢皮); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白); huyết ứ rõ gia Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), nhưng phải dùng thận trọng.
Ý nghĩa
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác và Trần bì sơ Can lý khí; Bạch thược hòa Can; Đan sâm, Xuyên khung và Xích thược hoạt huyết; Đàn hương, Sa nhân và Uất kim hành khí khoan trung.
Sáu. Tâm dương hư, hàn ngưng mạch lạc
Chứng trạng
Sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt, thở ngắn, hồi hộp, ngực nặng hoặc âm ỉ khó chịu khi gặp lạnh, sắc mặt trắng xanh, lưỡi nhạt tím, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm tế.
Bệnh cơ
Tâm dương hư không đủ sức ôn thông huyết mạch. Hàn ngưng làm mạch co rút, khí huyết vận hành chậm. Vì vậy, người bệnh mệt, lạnh, hồi hộp và ngực nặng hơn khi thời tiết lạnh hoặc khi gắng sức.
Pháp trị
Ôn dương tán hàn, ích khí thông mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch quế chi thang hợp Bảo nguyên thang gia giảm (瓜蒌薤白桂枝汤合保元汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Quế chi (桂枝), Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Chích cam thảo (炙甘草), Đan sâm (丹参), Xuyên khung (川芎), Phục linh (茯苓), Ngũ vị tử (五味子).
Gia giảm
Hàn rõ gia Can khương (干姜); phù nhẹ gia Trạch tả (泽泻), Xa tiền tử (车前子); hồi hộp, ngủ kém gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎). Phụ tử chế (制附子) chỉ cân nhắc khi có thầy thuốc chuyên môn theo dõi.
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Quế chi ôn thông Tâm dương; Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Đan sâm và Xuyên khung hoạt huyết; Phục linh kiện Tỳ; Ngũ vị tử liễm khí định Tâm.
Chú ý
Không tự dùng Phụ tử, Can khương hoặc Nhục quế liều cao khi có bệnh tim, rối loạn nhịp hoặc huyết áp không ổn định.
Bảy. Can Thận âm hư, Tâm mạch thất dưỡng
Chứng trạng
Người lớn tuổi hoặc bệnh lâu ngày, chóng mặt, ù tai, miệng khô, mất ngủ, hồi hộp, lưng gối đau mỏi, lòng bàn tay bàn chân nóng, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế sác.
Bệnh cơ
Can Thận âm hư làm mạch lạc mất nhu dưỡng, hư dương dễ động, Tâm thần không yên. Âm không nuôi được Tâm mạch nên hồi hộp và ngủ kém, nhưng đau ngực có thể không rõ.
Pháp trị
Tư bổ Can Thận, dưỡng Tâm thông mạch, bình Can tiềm dương.
Phương thang
Kỷ cúc địa hoàng hoàn hợp Thiên vương bổ tâm đan gia giảm (杞菊地黄丸合天王补心丹加减): Thục địa hoàng (熟地黄), Sơn thù du (山茱萸), Sơn dược (山药), Phục linh (茯苓), Trạch tả (泽泻), Mẫu đơn bì (牡丹皮), Cẩu kỷ tử (枸杞子), Cúc hoa (菊花), Sinh địa hoàng (生地黄), Huyền sâm (玄参), Mạch môn đông (麦门冬), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁), Ngũ vị tử (五味子).
Gia giảm
Chóng mặt nhiều gia Thiên ma (天麻), Câu đằng (钩藤), Thạch quyết minh (石决明); mất ngủ nhiều gia Dạ giao đằng (夜交藤), Viễn chí (远志); huyết ứ rõ gia Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍).
Ý nghĩa
Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược và Cẩu kỷ tử bổ Can Thận; Sinh địa, Huyền sâm và Mạch môn đông dưỡng âm; Cúc hoa thanh Can; Đan sâm hoạt huyết thông mạch; Toan táo nhân, Bá tử nhân dưỡng Tâm an thần; Ngũ vị tử liễm khí.
Vì sao không nên chờ có đau ngực mới điều trị
Thiếu máu cơ tim không triệu chứng có đặc điểm là Tâm mạch đã bị ảnh hưởng nhưng biểu hiện đau không rõ. Vì vậy, không nên dùng đau ngực làm tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá tình trạng bệnh.
Ở người Tâm khí hư, biểu hiện chính có thể chỉ là mệt và thở ngắn. Người đàm trọc có thể chỉ thấy thân thể nặng và ngực không khoan khoái. Người khí âm hư có thể chỉ hồi hộp, miệng khô và ngủ kém. Người cao tuổi đôi khi chỉ giảm sức chịu đựng hoặc chóng mặt nhẹ.
Điều quan trọng là nhận ra sự thay đổi so với tình trạng trước đây, đặc biệt khi khả năng đi lại, leo cầu thang hoặc làm việc giảm dần.
Vì sao không nên lạm dụng hoạt huyết
Huyết ứ là bệnh cơ thường gặp, nhưng không phải mọi trường hợp đều thích hợp dùng nhiều thuốc hoạt huyết.
Nếu Tâm khí hư mà chỉ phá ứ, chính khí có thể càng suy. Nếu đàm trọc là chính mà chỉ hoạt huyết, đàm vẫn tiếp tục bế trở. Nếu khí âm lưỡng hư mà dùng thuốc cay tán quá mức, tân dịch càng hao.
Vì vậy, hoạt huyết phải phối hợp ích khí, dưỡng âm, hóa đàm, lý khí hoặc ôn dương tùy từng thể bệnh.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu có thể hỗ trợ điều khí, hoạt huyết, an thần và cải thiện hồi hộp, ngủ kém, mệt mỏi hoặc cảm giác ngực nặng nhẹ khi tình trạng đã ổn định.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Tâm-7 Thần môn (神门), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-14 Quyết âm du (厥阴俞), Nhâm-14 Cự khuyết (巨阙), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Vị-40 Phong long (丰隆), Can-3 Thái xung (太冲), Bàng quang-17 Cách du (膈俞).
Hồi hộp, ngực nặng có thể phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Bàng quang-15 Tâm du, Tâm-7 Thần môn; khí hư, mệt mỏi phối Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Tâm bào-6 Nội quan; đàm trọc phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-9 Âm lăng tuyền; khí trệ phối Can-3 Thái xung, Đại trường-4 Hợp cốc, Tâm bào-6 Nội quan; huyết ứ phối Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tỳ-6 Tam âm giao.
Không dùng châm cứu để trì hoãn việc xử trí khi xuất hiện đau ngực, khó thở, choáng, vã mồ hôi hoặc tim đập loạn rõ.
Bấm huyệt
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Nhâm-17 Chiên trung, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-40 Phong long và Can-3 Thái xung. Không ấn mạnh vùng trước tim.
Cứu ngải
Cứu ngải chỉ thích hợp với thể Tâm dương hư, hàn ngưng, biểu hiện sợ lạnh, tay chân lạnh, lưỡi nhạt và mạch trầm trì. Có thể cân nhắc Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn, Bàng quang-23 Thận du và Tâm bào-6 Nội quan.
Không cứu khi miệng khô, lưỡi đỏ, rêu vàng, tim đập nhanh, huyết áp không ổn định hoặc xuất hiện triệu chứng nghi biến cố tim mạch.
Ăn uống điều dưỡng
Ăn uống nên thanh đạm nhưng đủ chất, hạn chế thức ăn béo ngọt, chiên rán, rượu và đồ quá mặn. Không nên ăn quá no, nhất là vào buổi tối.
Nên dùng rau củ nấu chín, ngũ cốc, các loại đậu, cá, đậu phụ và thịt nạc lượng vừa phải.
Thể khí hư có thể dùng cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Thể khí âm hư có thể dùng cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Thể đàm trọc có thể dùng cháo Ý dĩ nhân Sơn tra: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Sơn tra (山楂), gạo tẻ. Người Tỳ Vị hư hàn hoặc đau dạ dày nên dùng Sơn tra ít.
Thể hàn ngưng có thể dùng cháo Sinh khương Thông bạch: Sinh khương (生姜), Thông bạch (葱白), gạo tẻ. Người lưỡi đỏ, miệng khô hoặc hư hỏa không nên dùng nhiều.
Chú ý về thuốc hoạt huyết
Tam thất (三七), Đan sâm (丹参), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Uất kim (郁金), Nhũ hương (乳香) và Một dược (没药) đều thuộc nhóm có tác dụng hoạt huyết.
Người đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu không nên tự phối hợp các vị này. Không nên xem Tam thất hoặc Đan sâm là thuốc bổ Tâm mạch dùng hằng ngày.
Điều dưỡng sinh hoạt
Người bệnh nên sinh hoạt điều độ, ngủ đủ, tránh thức khuya, căng thẳng và lao lực quá mức. Không nên vì không đau ngực mà xem nhẹ tình trạng mệt bất thường, khó thở khi gắng sức hoặc giảm khả năng vận động.
Khi tình trạng ổn định có thể đi bộ chậm, tập thở, dưỡng sinh hoặc thái cực quyền nhẹ theo sức chịu đựng. Không tập khi mệt bất thường, chóng mặt, khó thở, hồi hộp nhiều hoặc ngực nặng.
Cần giữ ấm khi trời lạnh, không tắm quá nóng hoặc quá lạnh và không vận động mạnh ngay sau bữa ăn.
Những điều không nên làm
Không cho rằng không đau ngực là không có bệnh ở Tâm mạch.
Không tự ngừng các thuốc đang được sử dụng.
Không tự dùng rượu thuốc hoặc nhiều vị hoạt huyết để “thông mạch”.
Không nhịn ăn hoặc tập luyện quá sức để giảm cân nhanh.
Không bỏ qua tình trạng mệt bất thường, hụt hơi, hồi hộp, ngất hoặc vã mồ hôi.
Không tự châm cứu hoặc cứu ngải khi xuất hiện biểu hiện bất thường cấp tính.
Không tự phối hợp Tam thất, Đan sâm, Hồng hoa hoặc Đào nhân với thuốc chống đông.
Chú ý
Bài viết chỉ trình bày nhận thức và phương pháp biện chứng của Trung y. Khi xuất hiện đau ngực, khó thở tăng nhanh, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất, tim đập loạn hoặc đau lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ hay hàm, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời. Không dùng thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Kết luận
Thiếu máu cơ tim không triệu chứng trong Trung y có thể được xem xét trong phạm vi Hung tý, Tâm thống, Tâm quý, Chinh xung, Đoản khí và Hư lao.
Bệnh cơ chủ yếu thuộc bản hư tiêu thực. Phần gốc thường là Tâm khí hư, khí âm lưỡng hư, Tâm dương hư, Can Thận âm hư hoặc Tỳ khí hư; phần ngọn thường là huyết ứ, đàm trọc, khí trệ và hàn ngưng làm Tâm mạch không thông.
Điều trị cần căn cứ từng thể bệnh. Tâm khí hư thì ích khí dưỡng Tâm; khí âm hư thì ích khí dưỡng âm; đàm trọc thì kiện Tỳ hóa đàm; đàm ứ cùng kết thì hóa đàm hoạt huyết; khí trệ thì sơ Can lý khí; dương hư hàn ngưng thì ôn dương thông mạch; Can Thận âm hư thì tư âm dưỡng Tâm.
Toàn bộ quá trình điều trị phải chú ý vừa thông Tâm mạch vừa bảo vệ chính khí, không chờ có đau mới điều chỉnh, không lạm dụng hoạt huyết và không tự sử dụng những vị thuốc có độc tính.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp