Khái niệm
Táo bón do thói quen là tình trạng số lần đại tiện giảm so với trước, phân khó bài xuất, thường khô cứng hoặc thành viên nhỏ, trong khi không phát hiện tổn thương thực thể rõ ràng ở đại tràng, trực tràng và hậu môn.
Bệnh thường hình thành khi người bệnh nhiều lần nhịn đại tiện, sinh hoạt thất thường, ăn uống thiếu chất xơ, ít vận động hoặc phụ thuộc thuốc nhuận tràng. Lâu ngày, phản xạ đại tiện suy yếu, trực tràng giảm nhạy cảm với áp lực của phân, khiến người bệnh ít có cảm giác buồn đại tiện dù phân đã tích tụ.
Táo bón do thói quen thuộc nhóm táo bón chức năng mạn tính. Tuy nhiên, trước khi xác định, vẫn cần loại trừ những nguyên nhân thực thể như khối u đại trực tràng, hẹp lòng ruột, sa trực tràng, bệnh thần kinh hoặc rối loạn nội tiết.
Cơ chế hình thành
Bình thường, khi phân đi xuống trực tràng, thành trực tràng giãn ra và tạo cảm giác buồn đại tiện. Nếu người bệnh đi vệ sinh đúng lúc, phản xạ đại tiện được duy trì ổn định.
Khi thường xuyên cố nhịn, phân có thể bị đẩy ngược lên đại tràng sigma hoặc tiếp tục nằm lại trong trực tràng. Đại tràng hấp thu thêm nước, khiến phân ngày càng khô và cứng.
Nếu tình trạng này lặp đi lặp lại, các thụ thể cảm giác ở thành trực tràng giảm độ nhạy. Phân tích tụ nhưng không tạo cảm giác mót rõ, làm khoảng cách giữa các lần đại tiện ngày càng dài.
Từ đó hình thành vòng tuần hoàn:
Nhịn đại tiện.
Phân lưu lại lâu.
Phân khô và khó đi.
Đại tiện đau hoặc phải rặn nhiều.
Người bệnh càng sợ đi ngoài.
Tiếp tục nhịn đại tiện.
Nguyên nhân
Ăn uống không đầy đủ
Ăn quá ít làm lượng chất bã hình thành không đủ để kích thích đại tràng. Chế độ ăn quá tinh chế, thiếu rau, trái cây, đậu và ngũ cốc nguyên hạt cũng làm thể tích phân giảm, nhu động ruột suy yếu.
Uống ít nước khiến phân khô hơn, đặc biệt ở người cao tuổi, người thường xuyên làm việc trong môi trường nóng hoặc đang dùng thuốc lợi tiểu.
Thường xuyên nhịn đại tiện
Công việc bận rộn, điều kiện nhà vệ sinh không thuận tiện, đi công tác hoặc ngại sử dụng nhà vệ sinh công cộng khiến nhiều người bỏ qua cảm giác buồn đại tiện.
Sau một thời gian, phản xạ trực tràng suy yếu và người bệnh không còn cảm giác mót rõ như trước.
Đau khi đại tiện
Người mắc nứt kẽ hậu môn, trĩ, viêm hậu môn hoặc các tổn thương gây đau thường sợ đi ngoài. Việc nhịn đại tiện làm phân khô hơn và tổn thương hậu môn càng nặng.
Căng thẳng tinh thần
Lo âu, uất ức, trầm cảm, mất ngủ hoặc sinh hoạt tinh thần căng thẳng có thể làm hoạt động thần kinh ruột rối loạn.
Một số người giảm cảm giác buồn đại tiện, trong khi người khác xuất hiện co thắt đại tràng, đau bụng và phân thành viên nhỏ.
Ít vận động
Ngồi lâu và ít đi lại làm nhu động ruột chậm, cơ bụng và cơ sàn chậu yếu. Đây là nguyên nhân thường gặp ở người cao tuổi, người làm việc văn phòng và người phải nằm lâu.
Lạm dụng thuốc nhuận tràng hoặc thụt tháo
Dùng thuốc nhuận tràng kích thích thường xuyên có thể làm người bệnh phụ thuộc vào thuốc và ít chú ý đến việc phục hồi phản xạ đại tiện tự nhiên.
Thụt tháo nhiều lần cũng có thể khiến người bệnh hình thành thói quen chỉ đi ngoài khi có kích thích từ bên ngoài.
Không phải mọi thuốc nhuận tràng đều gây lệ thuộc, nhưng thuốc kích thích mạnh không nên dùng kéo dài tùy tiện.
Đặc điểm lâm sàng
Khoảng cách giữa các lần đại tiện kéo dài.
Phân khô, cứng hoặc thành viên nhỏ như phân dê.
Phải rặn nhiều.
Ngồi lâu trong nhà vệ sinh.
Cảm giác đại tiện không hết.
Cảm giác tắc ở hậu môn.
Bụng dưới đầy tức, thường rõ ở bên trái.
Bụng trướng, ợ hơi hoặc trung tiện nhiều.
Buồn nôn nhẹ hoặc chán ăn.
Mệt mỏi, mất ngủ hoặc tinh thần khó chịu khi bệnh kéo dài.
Một số người phân không quá khô nhưng vẫn khó bài xuất. Trường hợp này cần lưu ý khí hư, rối loạn cơ sàn chậu hoặc thấp trệ, không nên chỉ dùng thuốc nhuận táo.
Chẩn đoán
Táo bón do thói quen được nghĩ đến khi:
Táo bón kéo dài nhưng không có dấu hiệu tổn thương thực thể.
Có tiền sử thường xuyên nhịn đại tiện.
Chế độ ăn ít chất xơ hoặc uống ít nước.
Sinh hoạt không đều.
Ít vận động.
Triệu chứng xuất hiện hoặc tăng khi thay đổi môi trường và tinh thần.
Có tiền sử dùng thuốc nhuận tràng hoặc thụt tháo kéo dài.
Bác sĩ có thể cần khám hậu môn – trực tràng, xét nghiệm, nội soi hoặc đánh giá chức năng cơ sàn chậu nếu triệu chứng không điển hình hoặc kéo dài.
Phân biệt với táo bón thực thể
Táo bón do thói quen thường diễn tiến từ từ, liên quan rõ đến sinh hoạt và không có biểu hiện toàn thân nghiêm trọng.
Táo bón thực thể có thể do:
Ung thư đại trực tràng.
Hẹp lòng ruột.
Dính ruột.
Sa trực tràng.
Bệnh thần kinh.
Bệnh nội tiết hoặc chuyển hóa.
Cần nghĩ đến nguyên nhân thực thể khi táo bón mới xuất hiện, tăng nhanh, kèm máu trong phân, sụt cân, thiếu máu, đau bụng kéo dài hoặc phân nhỏ bất thường.
Ảnh hưởng của táo bón kéo dài
Tổn thương hậu môn
Phân khô và rặn nhiều có thể gây nứt kẽ hậu môn, trĩ, chảy máu và đau rát.
Ứ phân
Phân tích tụ lâu có thể đóng thành khối cứng trong trực tràng. Phân lỏng đôi khi rò quanh khối phân, dễ bị nhầm với tiêu chảy.
Sa trực tràng và suy yếu sàn chậu
Rặn kéo dài làm tăng áp lực vùng chậu, khiến cơ sàn chậu và tổ chức nâng đỡ trực tràng yếu dần.
Ảnh hưởng tim mạch
Ở người cao tuổi, người mắc bệnh mạch vành, suy tim, tăng huyết áp hoặc bệnh mạch máu não, rặn mạnh có thể làm huyết áp và áp lực trong lồng ngực tăng đột ngột.
Vì vậy, người có bệnh tim mạch cần tránh để táo bón kéo dài và không nên cố rặn quá sức.
Ảnh hưởng đến tuyến tiền liệt
Khối phân lớn trong trực tràng có thể làm tăng cảm giác nặng và khó chịu ở vùng chậu, đồng thời làm triệu chứng tiểu khó rõ hơn ở người đang mắc bệnh tuyến tiền liệt.
Tuy nhiên, không nên cho rằng táo bón trực tiếp gây ra bệnh tuyến tiền liệt. Cần điều trị đồng thời từng bệnh nếu cùng tồn tại.
Ảnh hưởng toàn thân
Táo bón có thể gây chướng bụng, chán ăn, khó ngủ, mệt mỏi và hôi miệng ở một số người.
Các quan niệm cho rằng táo bón trực tiếp gây tăng cân, lão hóa da, thiếu máu hoặc ung thư do “độc tố bị hấp thu vào máu” chưa có đủ căn cứ để khẳng định như một cơ chế trực tiếp.
Không nên nói rằng táo bón tự nó gây ung thư đại trực tràng. Ngược lại, ung thư đại trực tràng có thể biểu hiện bằng táo bón hoặc thay đổi thói quen đại tiện, vì vậy cần chú ý các dấu hiệu cảnh báo.
Quan điểm Trung y
Trong Trung y, táo bón do thói quen thuộc phạm vi Tiện bí 便秘. Bệnh thường liên quan đến sự rối loạn truyền đạo của Đại trường, đồng thời chịu ảnh hưởng của Can, Tỳ, Phế và Thận.
Cơ chế thường gặp nhất là Can khí uất trệ. Khi tinh thần căng thẳng, uất ức hoặc thường xuyên nhịn đại tiện, khí cơ không thông, Đại trường mất khả năng truyền tống.
Kim quỹ dực có câu:
Khí nội trệ nhi vật bất hành 气内滞而物不行.
Nghĩa là khí bị ứ trệ bên trong thì các vật không thể vận hành.
Can khí uất lâu ngày có thể hóa nhiệt, làm tổn thương tân dịch và khiến phân khô. Nếu bệnh kéo dài, thường xuyên dùng thuốc công hạ hoặc cơ thể suy yếu, có thể chuyển thành Tỳ khí hư, Huyết hư, Âm hư hoặc dương hư.
Vì vậy, táo bón do thói quen ban đầu có thể thiên về Thực chứng, nhưng lâu ngày thường xuất hiện Hư Thực xen lẫn.
Biện chứng luận trị
Thể Can khí uất trệ
Triệu chứng
Muốn đại tiện nhưng khó đi; phân thành viên nhỏ, có thể không quá khô; bụng trướng, đau tức; ợ hơi, hay thở dài; ngực sườn đầy tức; triệu chứng tăng khi căng thẳng; lưỡi có thể bình thường hoặc rêu mỏng; mạch huyền.
Chứng cơ
Can khí uất, khí cơ Hạ tiêu không thông, Đại trường mất khả năng truyền tống.
Phép trị
Sơ Can, lý khí, đạo trệ, thông tiện.
Phương thang
Lục ma thang gia giảm.
Nếu phân khô, có thể phối hợp Hỏa ma nhân, Úc lý nhân hoặc Bá tử nhân.
Nếu khí uất hóa nhiệt, có thể gia Sơn chi tử, Hoàng cầm nhưng không nên dùng thuốc đắng lạnh quá mức.
Thể Vị và Đại trường táo nhiệt
Triệu chứng
Phân khô cứng, đại tiện thưa; miệng khô, hơi thở hôi; tiểu vàng; bụng đầy hoặc đau; lưỡi đỏ, rêu vàng khô; mạch sác.
Chứng cơ
Ăn nhiều cay nóng, uống rượu hoặc khí uất hóa hỏa, làm nhiệt tích ở Vị và Đại trường, tân dịch bị hao tổn.
Phép trị
Thanh nhiệt, nhuận táo, thông tiện.
Phương thang
Ma tử nhân hoàn gia giảm.
Nếu tân dịch thiếu rõ, có thể gia Sinh địa hoàng, Huyền sâm và Mạch môn đông.
Thể Tỳ khí hư
Triệu chứng
Phân không quá khô nhưng khó bài xuất; có cảm giác muốn đi nhưng không đủ sức; phải rặn lâu; khi rặn có thể ra mồ hôi, hơi thở ngắn; sau đại tiện rất mệt; ăn kém, sắc mặt nhợt; lưỡi nhạt; mạch hư.
Chứng cơ
Tỳ khí hư, Đại trường không đủ sức vận chuyển phân.
Phép trị
Kiện Tỳ, ích khí, nhuận tràng.
Phương thang
Hoàng kỳ thang gia giảm.
Nếu kèm khí hãm, bụng dưới nặng hoặc sa trực tràng, có thể dùng Bổ trung ích khí thang gia giảm.
Thể Huyết hư
Triệu chứng
Phân khô; sắc mặt nhợt, hồi hộp, chóng mặt, nhìn mờ; phụ nữ có thể kinh nguyệt ít; lưỡi nhạt; mạch tế sáp.
Chứng cơ
Huyết hư làm Đại trường mất sự nhu dưỡng.
Phép trị
Dưỡng huyết, nhuận táo, thông tiện.
Phương thang
Nhuận trường hoàn gia giảm.
Thể Âm hư
Triệu chứng
Phân khô, thành viên nhỏ; miệng họng khô; khát nhưng chỉ uống từng ngụm; nóng về chiều, ra mồ hôi trộm; lưng gối mỏi; lưỡi ít rêu hoặc không rêu; mạch tế.
Chứng cơ
Âm dịch bất túc, Đại trường mất nhuận.
Phép trị
Dưỡng âm, sinh tân, nhuận tràng.
Phương thang
Tăng dịch thang gia giảm.
Thể dương hư
Triệu chứng
Phân không nhất thiết khô nhưng rất khó đi; phải rặn nhiều; bụng lạnh, thích ấm; tay chân lạnh, sợ lạnh; lưng gối mỏi; tiểu trong dài; lưỡi nhạt, ướt; mạch trầm nhược.
Chứng cơ
Tỳ Thận dương hư, Hạ tiêu thiếu sức ôn vận, Đại trường mất khả năng truyền tống.
Phép trị
Ôn dương, ích khí, nhuận tràng.
Phương thang
Tế xuyên tiễn gia giảm.
Thể thấp trệ
Triệu chứng
Phân mềm, dính hoặc không thành khuôn nhưng khó đi hết; bụng nặng, trướng; người mệt và nặng nề; miệng nhạt; lưỡi rêu dày nhờn; mạch nhu hoặc hoạt.
Chứng cơ
Thấp tà có tính nặng, nhớt, làm trở ngại khí cơ và khiến Tỳ mất kiện vận.
Phép trị
Kiện Tỳ, hóa thấp, hành khí, thông tiện.
Phương thang
Căn cứ chứng trạng dùng các phương kiện Tỳ hóa thấp phối hợp lý khí. Không nên chỉ dùng thuốc nhuận tràng có nhiều dầu khi thấp trệ là chính.
Châm cứu
Các huyệt thường dùng gồm:
Vị-25 Thiên khu: Điều hòa Đại trường.
Tỳ-15 Đại hoành: Điều lý Đại trường, hỗ trợ thông tiện.
Tam tiêu-6 Chi câu: Điều khí Tam tiêu, thúc đẩy đại tiện.
Can-3 Thái xung: Sơ Can, lý khí.
Đởm-34 Dương lăng tuyền: Điều Can khí.
Nhâm-6 Khí hải: Điều khí và bổ khí Hạ tiêu.
Vị-36 Túc tam lý: Kiện Tỳ, ích khí.
Tỳ-6 Tam âm giao: Kiện Tỳ, dưỡng huyết, điều Can Thận.
Bàng quang-25 Đại trường du: Điều lý Đại trường.
Thận-6 Chiếu hải: Dưỡng âm, nhuận táo.
Nhâm-4 Quan nguyên: Bổ Thận và nguyên khí.
Thể khí trệ, táo nhiệt thường dùng phép tả hoặc bình bổ bình tả.
Thể khí hư, Huyết hư, Âm hư và dương hư thường dùng phép bổ.
Thể dương hư có thể phối hợp cứu; không dùng cứu khi Nhiệt hoặc Âm hư rõ.
Nguyên tắc điều trị
Khôi phục phản xạ đại tiện
Nên tập đi đại tiện vào một thời điểm tương đối cố định mỗi ngày, thường sau bữa sáng, khi phản xạ dạ dày – đại tràng hoạt động mạnh.
Không cần cố ngồi quá lâu khi không có nhu cầu. Mỗi lần chỉ nên ngồi trong thời gian vừa phải, thả lỏng cơ thể và không rặn liên tục.
Khi có cảm giác buồn đại tiện, nên đi ngay nếu hoàn cảnh cho phép.
Điều chỉnh tư thế
Khi ngồi bồn cầu, có thể kê chân lên một ghế thấp để đầu gối cao hơn hông.
Thở ra chậm, thư giãn cơ bụng dưới và sàn chậu. Không nín thở và gồng quá mạnh.
Điều chỉnh chế độ ăn
Nên tăng dần:
Rau xanh.
Trái cây.
Các loại đậu.
Ngũ cốc nguyên hạt.
Yến mạch.
Khoai lang.
Kiwi.
Mận khô.
Vừng đen.
Hồ đào.
Chất xơ cần được tăng từ từ và phải kết hợp với lượng nước thích hợp.
Người có bụng chướng nhiều, hẹp lòng ruột hoặc nghi tắc nghẽn không nên tự ý tăng lượng lớn chất xơ.
Uống đủ nước
Nên uống nước đều trong ngày. Nước giúp phân bớt khô và làm chất xơ phát huy tác dụng.
Không nhất thiết phải uống nước lạnh hoặc nước muối vào sáng sớm. Người tăng huyết áp, bệnh tim hoặc bệnh thận càng không nên uống nước muối thường xuyên để chữa táo bón.
Tăng vận động
Đi bộ, vận động toàn thân, tập bụng và phục hồi sàn chậu giúp cải thiện nhu động ruột và sức tống phân.
Người ngồi lâu nên thường xuyên đứng lên và đi lại.
Xoa bụng
Có thể xoa nhẹ theo đường đi của đại tràng:
Bắt đầu từ bụng dưới bên phải.
Xoa lên phía trên.
Đi ngang sang bụng trái.
Sau đó xoa xuống bụng dưới bên trái.
Chỉ cần thực hiện nhẹ nhàng trong vài phút, không cần xoa hàng trăm vòng.
Không xoa khi đau bụng cấp, nghi tắc ruột, đang có thai hoặc mới phẫu thuật ổ bụng.
Điều hòa tinh thần
Ngủ đủ, giảm căng thẳng và duy trì sinh hoạt có quy luật đặc biệt quan trọng đối với táo bón do Can khí uất.
Có thể lựa chọn đi bộ, nghe nhạc, tập thở, làm vườn hoặc các hoạt động nhẹ nhàng phù hợp với sở thích, không cần áp dụng những lời khuyên quá khuôn mẫu.
Sử dụng thuốc nhuận tràng
Thuốc nhuận tràng chỉ nên được lựa chọn căn cứ vào nguyên nhân và loại táo bón.
Phenolphthalein không còn là lựa chọn phù hợp để tự điều trị táo bón vì có những lo ngại về độ an toàn.
Nước xà phòng không nên được sử dụng để tự thụt tháo vì có thể gây kích ứng hoặc tổn thương niêm mạc.
Các thuốc làm tăng thể tích phân, thuốc thẩm thấu hoặc thuốc làm mềm phân có thể được cân nhắc tùy trường hợp dưới hướng dẫn phù hợp.
Không nên tự dùng thuốc nhuận tràng kích thích hoặc thụt tháo kéo dài.
Táo bón theo lứa tuổi
Người cao tuổi
Táo bón thường liên quan đến:
Nhu động đại tràng chậm.
Ăn ít và uống ít.
Ít vận động.
Cơ bụng và sàn chậu yếu.
Giảm cảm giác trực tràng.
Bệnh thần kinh.
Dùng nhiều loại thuốc.
Theo Trung y, người cao tuổi thường thiên về khí hư, Huyết hư, Âm hư hoặc dương hư. Tuy nhiên, không nên mặc nhiên xem mọi trường hợp đều là Hư chứng, vì vẫn cần loại trừ ung thư đại trực tràng, hẹp ruột và ứ phân.
Người trung niên
Thường liên quan đến công việc bận rộn, nhịn đại tiện, căng thẳng và thay đổi sinh hoạt. Theo Trung y, biểu hiện khí bí và Can khí uất thường nổi bật.
Trẻ em
Thường do chế độ ăn ít chất xơ, uống ít nước, sợ nhà vệ sinh, nhịn đại tiện hoặc từng bị đau do phân cứng.
Trẻ em bị táo bón kéo dài cần được hướng dẫn tạo thói quen đi ngoài nhẹ nhàng, không trách mắng hoặc ép trẻ rặn.
Không nên tự quy mọi trường hợp ở trẻ thành Nhiệt bí hoặc Hàn bí mà dùng thuốc Trung y khi chưa được đánh giá.
Dấu hiệu cần đi khám
Táo bón mới xuất hiện hoặc ngày càng nặng.
Máu trong phân hoặc phân đen.
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
Thiếu máu.
Đau bụng kéo dài.
Bụng chướng, nôn hoặc bí trung tiện.
Táo bón xen kẽ tiêu chảy.
Phân nhỏ bất thường kéo dài.
Phải dùng tay hỗ trợ đại tiện.
Táo bón xuất hiện ở người trên 50 tuổi.
Trẻ em táo bón kéo dài, đau bụng hoặc chậm tăng trưởng.
Có tiền sử gia đình ung thư đại trực tràng.
Nói tóm lại
Táo bón do thói quen là một dạng táo bón chức năng mạn tính, hình thành chủ yếu do thường xuyên nhịn đại tiện, ăn uống thiếu chất xơ, uống ít nước, ít vận động, tinh thần căng thẳng hoặc phụ thuộc vào thuốc nhuận tràng.
Theo Trung y, bệnh ban đầu thường liên quan đến Can khí uất và khí cơ Đại trường không thông. Khi kéo dài, bệnh có thể chuyển sang Tỳ khí hư, Huyết hư, Âm hư hoặc dương hư.
Điều trị căn bản không phải chỉ làm cho người bệnh đi ngoài ngay, mà cần phục hồi cảm giác và phản xạ đại tiện, điều chỉnh chế độ ăn, tăng vận động, sửa tư thế đại tiện và tránh lạm dụng thuốc tẩy.
Trường Xuân biên soạn