Khái niệm
Táo bón ở người cao tuổi là tình trạng đại tiện thưa hơn bình thường, phân khô cứng, khó bài xuất, phải rặn nhiều hoặc có cảm giác đại tiện không hết, thường kéo dài hoặc tái diễn.
Không nên chỉ căn cứ vào số ngày giữa hai lần đại tiện. Có người hai hoặc ba ngày mới đi ngoài một lần nhưng phân mềm, đại tiện dễ dàng và không khó chịu, vẫn có thể xem là bình thường. Ngược lại, người vẫn đại tiện hằng ngày nhưng phải rặn lâu, phân khô, cảm giác tắc hoặc chưa hết phân vẫn thuộc phạm vi táo bón.
Táo bón thường gặp ở người cao tuổi do nhiều yếu tố cùng tồn tại: nhu động ruột chậm, ăn ít, uống ít nước, ít vận động, cơ bụng và sàn chậu suy yếu, bệnh mạn tính, thuốc điều trị và sự suy giảm cảm giác buồn đại tiện.
Vì sao người cao tuổi dễ bị táo bón?
Nhu động đại tràng suy giảm
Khi tuổi tăng, hoạt động của cơ trơn đường tiêu hóa và phản xạ thần kinh ruột có thể chậm lại. Phân di chuyển lâu hơn trong đại tràng, nước bị hấp thu nhiều hơn và trở nên khô.
Tuy nhiên, tuổi cao không phải nguyên nhân duy nhất. Nhiều trường hợp táo bón ở người già chủ yếu do bệnh nền, thuốc, chế độ ăn và giảm vận động.
Ăn uống ít và thiếu chất xơ
Răng yếu, khó nhai hoặc bệnh răng miệng khiến người cao tuổi thường chọn thức ăn mềm, nhuyễn và tinh chế. Nếu khẩu phần thiếu rau, trái cây, đậu và ngũ cốc nguyên hạt, lượng phân tạo thành ít, không đủ kích thích đại tràng.
Một số người ăn rất ít do chán ăn, bệnh mạn tính hoặc tâm trạng suy giảm. Khi lượng thức ăn giảm, lượng chất bã cũng giảm và phản xạ đại tiện khó hình thành.
Không nên vì khả năng tiêu hóa giảm mà chỉ cho người cao tuổi ăn cháo, súp hoặc thức ăn quá tinh trong thời gian dài. Cần lựa chọn thực phẩm mềm, dễ nhai nhưng vẫn có đủ chất xơ.
Uống không đủ nước
Nhiều người cao tuổi hạn chế uống nước vì sợ tiểu nhiều, tiểu đêm, tiểu không tự chủ hoặc khó đi lại vào nhà vệ sinh.
Thiếu nước làm phân khô và táo bón nặng hơn. Tình trạng mất nước còn có thể gây chóng mặt, hạ huyết áp tư thế, suy giảm chức năng thận và tăng nguy cơ lú lẫn.
Tuy nhiên, người suy tim, suy thận hoặc có chỉ định hạn chế dịch phải tuân theo lượng nước do bác sĩ hướng dẫn, không nên tự uống quá nhiều.
Ít vận động
Người cao tuổi thường đi lại ít do đau khớp, yếu cơ, bệnh tim phổi, đột quỵ hoặc sợ té ngã. Người phải nằm tại giường trong thời gian dài càng dễ bị táo bón.
Thiếu vận động làm nhu động ruột chậm, đồng thời cơ bụng, cơ hoành và cơ sàn chậu suy yếu, làm lực tống phân giảm.
Suy yếu động lực đại tiện
Đại tiện cần sự phối hợp của:
Cơ hoành.
Cơ bụng.
Cơ sàn chậu.
Cơ nâng hậu môn.
Trực tràng.
Cơ thắt hậu môn.
Ở người cao tuổi, các nhóm cơ này có thể yếu hoặc phối hợp không đúng. Người bệnh có thể có cảm giác muốn đi nhưng không đủ sức, phải rặn lâu, ra mồ hôi và rất mệt sau đại tiện.
Một số người phân không quá khô nhưng vẫn cảm thấy tắc ở hậu môn, phải dùng tay hỗ trợ hoặc ngồi rất lâu. Trường hợp này cần nghĩ đến rối loạn tống xuất hoặc sa trực tràng, không nên chỉ tăng thuốc nhuận tràng.
Giảm cảm giác trực tràng
Táo bón kéo dài làm trực tràng giãn rộng và giảm nhạy cảm với áp lực của phân. Người bệnh có thể nhiều ngày không cảm thấy buồn đại tiện dù phân đã tích tụ.
Sa sút trí tuệ, bệnh mạch máu não, Parkinson hoặc tổn thương thần kinh cũng có thể làm người cao tuổi giảm nhận biết và phản ứng với nhu cầu đại tiện.
Tâm lý và thay đổi môi trường
Trầm cảm, lo âu, cô đơn, thay đổi nơi ở, nhập viện hoặc chuyển vào cơ sở dưỡng lão có thể làm thói quen ăn uống, vận động và đại tiện bị xáo trộn.
Một số người ngại nhờ người khác hỗ trợ nên cố nhịn đại tiện, lâu ngày làm phản xạ suy yếu.
Bệnh hậu môn – trực tràng
Trĩ, nứt kẽ hậu môn, sa trực tràng hoặc hẹp hậu môn làm đại tiện đau và khó. Người bệnh vì sợ đau hoặc chảy máu nên chủ động nhịn, khiến phân càng khô.
Thuốc gây táo bón
Người cao tuổi thường dùng nhiều thuốc cùng lúc. Những nhóm thuốc có thể gây hoặc làm nặng táo bón gồm:
Thuốc giảm đau opioid.
Thuốc kháng cholinergic.
Một số thuốc chống trầm cảm.
Một số thuốc chống loạn thần.
Thuốc điều trị Parkinson.
Thuốc bổ sung sắt.
Thuốc bổ sung calci.
Thuốc kháng acid chứa nhôm.
Một số thuốc hạ huyết áp.
Thuốc lợi tiểu nếu gây mất nước hoặc rối loạn điện giải.
Không được tự ý ngừng thuốc. Cần xem lại toàn bộ đơn thuốc với bác sĩ hoặc dược sĩ khi táo bón xuất hiện hoặc nặng lên.
Bệnh lý có thể gây táo bón
Cần chú ý các nguyên nhân thực thể và toàn thân như:
Ung thư đại trực tràng.
Hẹp lòng ruột.
Viêm túi thừa.
Sa trực tràng.
Đại tràng giãn.
Suy giáp.
Đái tháo đường có tổn thương thần kinh.
Bệnh Parkinson.
Đột quỵ.
Tổn thương tủy sống.
Tăng calci máu.
Hạ kali máu.
Sa sút trí tuệ.
Phì đại tuyến tiền liệt không trực tiếp gây táo bón, nhưng bí tiểu, đau vùng chậu, ít vận động và thuốc điều trị có thể làm việc đại tiện khó hơn.
Người trước đây đại tiện bình thường nhưng gần đây đột ngột táo bón kéo dài cần được khám để loại trừ bệnh đại trực tràng, không nên chỉ tự dùng thuốc nhuận tràng.
Biểu hiện thường gặp
Số lần đại tiện giảm.
Phân khô, cứng hoặc thành viên nhỏ.
Phải rặn nhiều.
Muốn đi nhưng không đủ sức.
Ngồi lâu trong nhà vệ sinh.
Cảm giác đại tiện không hết.
Bụng đầy, chướng hoặc đau âm ỉ.
Giảm cảm giác buồn đại tiện.
Phải dùng tay hỗ trợ lấy phân.
Chán ăn hoặc buồn nôn nhẹ.
Phân lỏng rỉ ra quần do tràn quanh khối phân cứng.
Ở người sa sút trí tuệ, ứ phân có thể biểu hiện không điển hình bằng kích động, lú lẫn, tiểu không tự chủ, chán ăn hoặc suy giảm vận động.
Biến chứng
Ứ phân
Phân tích tụ lâu ngày có thể đóng thành khối cứng ở trực tràng hoặc đại tràng.
Biểu hiện gồm:
Nhiều ngày không đại tiện.
Bụng chướng.
Đau hoặc nặng trực tràng.
Rỉ phân lỏng.
Chán ăn.
Buồn nôn.
Bí tiểu hoặc tiểu són.
Lú lẫn ở người già yếu.
Ứ phân nặng cần được nhân viên y tế đánh giá. Không nên tự dùng tay móc phân hoặc thụt tháo nhiều lần tại nhà.
Trĩ và nứt kẽ hậu môn
Rặn nhiều và phân khô làm tăng áp lực vùng hậu môn, gây đau, chảy máu và làm bệnh trĩ nặng hơn.
Sa trực tràng
Rặn kéo dài làm cơ sàn chậu và tổ chức nâng đỡ trực tràng suy yếu.
Rối loạn tiểu tiện
Khối phân lớn có thể chèn ép bàng quang hoặc niệu đạo, gây bí tiểu, tiểu gấp hoặc tiểu không tự chủ.
Loét do phân
Khối phân cứng đè ép lâu ngày có thể gây loét niêm mạc, chảy máu hoặc hiếm hơn là thủng ruột.
Nguy cơ tim mạch và mạch máu não
Rặn đại tiện làm áp lực trong lồng ngực và ổ bụng tăng, huyết áp và nhịp tim có thể dao động.
Ở người có bệnh mạch vành, suy tim, tăng huyết áp nặng, rối loạn nhịp hoặc tiền sử đột quỵ, rặn mạnh có thể khởi phát đau ngực, khó thở, choáng hoặc biến cố tim mạch.
Không nên khẳng định táo bón tự nó trực tiếp gây đột tử, nhưng rặn quá sức là một yếu tố nguy hiểm ở người có bệnh nền nặng. Vì vậy, mục tiêu là làm phân mềm và tránh phải gắng sức kéo dài.
Nhận định của Trung y
Trong Trung y, táo bón ở người cao tuổi thuộc phạm vi Lão niên tiện bí 老年便秘.
Người cao tuổi thường có đặc điểm:
Tạng phủ suy giảm.
Tỳ khí yếu.
Thận khí bất túc.
Khí huyết hao tổn.
Âm dịch giảm.
Dương khí suy.
Do đó, táo bón ở tuổi già thường thiên về Hư bí 虚秘, nhưng không phải mọi trường hợp đều là Hư chứng. Người cao tuổi vẫn có thể gặp táo nhiệt, khí trệ, thấp trệ hoặc ứ phân, tạo thành Hư Thực xen lẫn.
Bệnh cơ thường biểu hiện theo các phương diện:
Tỳ khí hư, không đủ sức truyền tống.
Phế khí không túc giáng, Đại trường mất truyền đạo.
Thận âm hư, trường đạo thiếu nhu dưỡng.
Thận dương hư, Hạ tiêu thiếu ôn vận.
Huyết hư, ruột khô.
Thấp trọc ngăn trở khí cơ.
Khí trệ làm phân không giáng.
Có thể khái quát là bản hư tiêu thực: gốc là khí huyết, âm dương và tạng phủ suy; ngọn là phân ứ, khí trệ, thấp trọc hoặc táo nhiệt.
Việc điều trị cần bổ mà không gây trệ, thông mà không làm tổn thương chính khí. Không nên chỉ công hạ mạnh để giải quyết một lần đại tiện, cũng không nên chỉ dùng thuốc bổ nặng nề khi phân đang ứ kết.
Biện chứng luận trị
Thể khí hư bí
Triệu chứng
Phân không quá khô nhưng khó tống; có cảm giác muốn đi mà không đủ sức; phải rặn lâu; khi rặn ra mồ hôi, hơi thở ngắn; sau đại tiện mệt lả; ăn kém, bụng đầy; sắc mặt nhợt; lưỡi nhạt, có dấu răng; mạch hư hoặc nhu hoãn.
Chứng cơ
Tỳ khí và Phế khí hư, Đại trường thiếu sức truyền tống.
Phép trị
Kiện Tỳ, ích khí, nhuận tràng.
Phương thang
Hoàng kỳ thang hoặc Bổ trung ích khí thang gia giảm, tùy có khí hãm hay không.
Nếu bụng đầy rõ, cần phối hợp lý khí nhẹ để tránh bổ mà sinh trệ.
Nếu phân mềm nhưng tắc ở hậu môn, cần đánh giá rối loạn cơ sàn chậu, không nên chỉ tăng thuốc bổ khí.
Thể Huyết hư bí
Triệu chứng
Phân khô; sắc mặt nhợt; chóng mặt, hồi hộp, nhìn mờ, tay chân tê; lưỡi nhạt; mạch tế hoặc sáp.
Chứng cơ
Huyết hư, Đại trường mất sự nhu dưỡng.
Phép trị
Dưỡng huyết, nhuận táo, thông tiện.
Phương thang
Nhuận trường hoàn gia giảm.
Có thể phối hợp Đương quy, Thục địa hoàng, Hỏa ma nhân, Bá tử nhân hoặc Chế thủ ô tùy thể trạng. Người cao tuổi có bệnh gan hoặc đang dùng nhiều thuốc không nên tự dùng Hà thủ ô.
Thể Âm hư bí
Triệu chứng
Phân rất khô, thành viên nhỏ; miệng họng khô; da khô; nóng về chiều; ra mồ hôi trộm; chóng mặt, ù tai, lưng gối mỏi; lưỡi đỏ hoặc ít rêu; mạch tế sác.
Chứng cơ
Thận âm và tân dịch suy giảm, Đại trường mất nhuận.
Phép trị
Tư âm, sinh tân, nhuận tràng.
Phương thang
Tăng dịch thang hoặc Lục vị địa hoàng hoàn gia các vị nhuận tràng, căn cứ chứng trạng.
Không nên dùng Thảo quyết minh hoặc Hà thủ ô sống liều cao kéo dài nếu chưa đánh giá chức năng gan, thận và thuốc đang sử dụng.
Thể dương hư bí
Triệu chứng
Phân có thể không khô nhưng rất khó đi; bụng đau lạnh, thích ấm và xoa; sợ lạnh, tay chân lạnh; lưng gối mỏi; tiểu trong dài; lưỡi nhạt ướt; mạch trầm trì hoặc trầm nhược.
Chứng cơ
Thận dương suy, Hạ tiêu thiếu ôn vận, Đại trường không đủ sức truyền tống.
Phép trị
Ôn bổ Thận dương, nhuận tràng, thông tiện.
Phương thang
Tế xuyên tiễn gia giảm.
Các vị như Phụ tử, Ba đậu, Tế tân hoặc Lưu hoàng có độc tính và nguy cơ tương tác thuốc, không được tự dùng cho người cao tuổi. Chúng cũng không phù hợp để đưa ra như phương thông thường điều trị táo bón.
Thể khí trệ
Triệu chứng
Muốn đại tiện nhưng khó đi; phân có thể không khô; bụng trướng, đau tức; ợ hơi, ngực sườn đầy; tinh thần uất ức hoặc lo âu; lưỡi rêu mỏng; mạch huyền.
Chứng cơ
Khí cơ Đại trường không thông, phân không thể truyền xuống.
Phép trị
Lý khí, đạo trệ, thông tiện.
Phương thang
Lục ma thang gia giảm.
Người cao tuổi khí hư thường không chịu được thuốc phá khí mạnh. Cần phối hợp lý khí nhẹ với ích khí hoặc nhuận tràng tùy thể bệnh.
Thể thấp trệ
Triệu chứng
Phân mềm, dính hoặc không thành khuôn nhưng khó đi hết; bụng nặng, trướng; người mệt, nặng nề; ăn kém; lưỡi rêu dày nhờn; mạch nhu hoặc hoạt.
Chứng cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp trọc trở ngại khí cơ Đại trường.
Phép trị
Kiện Tỳ, hóa thấp, hành khí, thông tiện.
Phương thang
Căn cứ chứng trạng phối hợp Bạch truật, Phục linh, Hậu phác, Trần bì, Lai phục tử hoặc các vị phù hợp.
Không nên dùng nhiều dầu và thuốc nhuận tràng nặng khi thấp trệ là chính.
Thể táo nhiệt
Triệu chứng
Phân khô cứng; miệng khô, hơi thở hôi; bụng đầy; tiểu vàng; lưỡi đỏ, rêu vàng khô; mạch sác.
Chứng cơ
Nhiệt tích ở Đại trường làm hao tân dịch.
Phép trị
Thanh nhiệt, sinh tân, nhuận tràng.
Phương thang
Ma tử nhân hoàn gia giảm.
Người cao tuổi thể hư không nên dùng Đại hoàng, Mang tiêu hoặc Phan tả diệp kéo dài. Khi nhiệt đã giảm, cần chuyển sang dưỡng âm, ích khí hoặc dưỡng huyết phù hợp.
Châm cứu
Các huyệt thường dùng gồm:
Vị-25 Thiên khu: Điều hòa Đại trường.
Bàng quang-25 Đại trường du: Điều lý Đại trường.
Vị-36 Túc tam lý: Kiện Tỳ, ích khí.
Tỳ-6 Tam âm giao: Kiện Tỳ, dưỡng huyết, điều Can Thận.
Tam tiêu-6 Chi câu: Điều khí Tam tiêu, hỗ trợ thông tiện.
Thận-6 Chiếu hải: Dưỡng âm, nhuận táo.
Nhâm-6 Khí hải: Bổ khí, điều khí Hạ tiêu.
Nhâm-4 Quan nguyên: Bổ Thận và nguyên khí.
Bàng quang-20 Tỳ du: Kiện Tỳ.
Bàng quang-23 Thận du: Bổ Thận.
Can-3 Thái xung: Sơ Can, lý khí.
Thể nhiệt bí dùng phép tả hoặc bình bổ bình tả.
Thể khí bí chú trọng điều khí.
Thể khí hư, Huyết hư và Âm hư dùng phép bổ nhẹ.
Thể Hàn bí có thể phối hợp cứu ở Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải hoặc Bàng quang-23 Thận du khi phù hợp.
Người cao tuổi đang dùng thuốc chống đông, có da mỏng, dễ chảy máu hoặc bệnh mạch máu cần được đánh giá trước khi châm cứu.
Nguyên tắc điều trị
Xác định nguyên nhân
Cần xem xét:
Thời gian mắc bệnh.
Tính chất phân.
Khả năng trung tiện.
Mức độ đau và chướng bụng.
Thuốc đang dùng.
Lượng nước và thức ăn.
Khả năng vận động.
Bệnh thần kinh, nội tiết và đại trực tràng.
Có phải dùng tay hỗ trợ đại tiện hay không.
Không nên xem mọi táo bón ở người già đều do “ruột yếu” hoặc Hư chứng.
Làm sạch ứ phân nếu có
Nếu trực tràng chứa khối phân lớn, cần xử lý ứ phân trước rồi mới điều trị duy trì.
Việc lấy phân bằng tay, thụt tháo hoặc dùng thuốc liều cao chỉ nên được thực hiện theo hướng dẫn chuyên môn.
Duy trì phân mềm
Mục tiêu là tạo phân mềm nhưng thành khuôn, dễ đi, không phải làm tiêu chảy.
Tập thói quen đại tiện
Có thể tập ngồi đại tiện sau bữa sáng hoặc sau bữa ăn chính, khi phản xạ dạ dày – đại tràng hoạt động mạnh.
Khi có cảm giác buồn đại tiện, không nên nhịn.
Mỗi lần không nên ngồi quá lâu hoặc rặn liên tục.
Điều chỉnh tư thế
Có thể kê chân lên ghế thấp để đầu gối cao hơn hông.
Hơi nghiêng người về trước, thở ra nhẹ và thư giãn sàn chậu.
Người yếu hoặc có nguy cơ té ngã cần tay vịn, ghế vệ sinh chắc chắn và người hỗ trợ khi cần.
Chế độ ăn
Nên lựa chọn thực phẩm mềm, dễ nhai nhưng giàu chất xơ:
Rau nấu mềm.
Trái cây chín.
Yến mạch.
Đậu nghiền hoặc nấu nhừ.
Khoai lang.
Ngũ cốc nguyên hạt đã nấu mềm.
Mận khô hoặc kiwi nếu phù hợp.
Hạt vừng nghiền.
Không nên tăng chất xơ đột ngột khi người bệnh bụng chướng nhiều hoặc uống rất ít nước.
Người nghi hẹp ruột hoặc tắc nghẽn không được tự tăng lượng lớn chất xơ.
Uống đủ nước
Nên uống nước đều trong ngày. Có thể dùng nước lọc, canh, sữa và các thức uống phù hợp.
Không nhất thiết phải uống 300–400 ml nước cùng một lúc vào sáng sớm. Người suy tim, suy thận, khó nuốt hoặc dễ sặc cần điều chỉnh lượng và cách uống.
Không nên hạn chế nước chỉ vì tiểu đêm. Cần tìm nguyên nhân tiểu đêm và sắp xếp việc uống nước hợp lý hơn.
Sữa và sữa chua
Sữa chua hoặc các thực phẩm lên men có thể phù hợp với một số người, nhưng không phải phương pháp điều trị bắt buộc.
Người không dung nạp lactose có thể bị đầy hơi hoặc tiêu chảy khi dùng sữa. Cần lựa chọn tùy khả năng dung nạp.
Vận động
Các hoạt động phù hợp có thể gồm:
Đi bộ.
Thái cực quyền.
Khí công nhẹ.
Tập trên ghế.
Vận động chân tay tại giường.
Tập cơ bụng và sàn chậu dưới hướng dẫn.
Mức độ vận động phải căn cứ tình trạng tim mạch, hô hấp, xương khớp và nguy cơ té ngã.
Xoa bụng
Có thể xoa nhẹ theo đường đi của đại tràng:
Bắt đầu từ bụng dưới bên phải.
Đi lên phía trên.
Xoa ngang sang trái.
Sau đó đi xuống bụng dưới bên trái.
Không xoa khi đau bụng cấp, bụng chướng căng, nghi tắc ruột, có phình động mạch chủ bụng hoặc vừa phẫu thuật.
Thuốc nhuận tràng
Người cao tuổi thường cần thuốc khi điều chỉnh sinh hoạt không đủ.
Các nhóm có thể được cân nhắc gồm:
Thuốc tạo khối.
Thuốc nhuận tràng thẩm thấu.
Thuốc làm mềm phân.
Thuốc kích thích trong một số trường hợp.
Không cần luân phiên thuốc chỉ để tránh “đại tràng đờ”. Điều quan trọng là lựa chọn đúng nhóm, dùng đúng liều và đánh giá định kỳ.
Thuốc tạo khối chỉ phù hợp khi người bệnh uống đủ nước và không có hẹp ruột.
Thuốc chứa magnesi cần thận trọng ở người suy thận.
Dầu khoáng không thích hợp với người khó nuốt hoặc dễ sặc.
Thuốc kích thích không nên tự dùng liều cao kéo dài nhưng có thể được sử dụng đúng chỉ định.
Phan tả diệp
Không nên dùng Phan tả diệp 30 g sắc uống cho người cao tuổi. Đây là liều rất cao, có thể gây đau quặn, tiêu chảy, mất nước và rối loạn điện giải.
Đại hoàng, Ba đậu và thuốc công hạ
Không tự dùng Đại hoàng, Ba đậu, Nhị sửu hoặc thuốc công hạ mạnh. Những vị này có thể gây tiêu chảy, mất nước, rối loạn kali và tương tác với thuốc tim mạch.
Phụ tử và Tế tân
Phụ tử có độc tính tim mạch và thần kinh nếu chế biến hoặc dùng sai. Tế tân cũng có giới hạn an toàn nghiêm ngặt. Không nên đưa hai vị này vào các phương tự dùng điều trị táo bón ở người cao tuổi.
Hà thủ ô
Hà thủ ô không phải thuốc nhuận tràng an toàn để dùng dài ngày. Một số chế phẩm có thể gây tổn thương gan. Người đang có bệnh gan hoặc dùng nhiều thuốc cần đặc biệt thận trọng.
Mật ong
Mật ong pha nước ấm có thể hỗ trợ ở một số người, nhưng chứa nhiều đường. Người đái tháo đường cần tính vào tổng lượng đường trong khẩu phần.
Các sản phẩm quảng cáo “bài độc”
Không nên cho rằng phân lưu lại làm “độc tố” lan khắp cơ thể rồi gây hàng loạt bệnh như tăng huyết áp, mỡ máu, bệnh mạch vành hoặc ung thư.
Các chế phẩm mang tên “bài độc dưỡng nhan” hoặc quảng cáo thanh thải độc tố không nên được xem là điều trị chuẩn cho táo bón. Cần đánh giá thành phần, bằng chứng, tác dụng không mong muốn và tương tác thuốc trước khi sử dụng.
Dấu hiệu cần đi khám
Táo bón mới xuất hiện và kéo dài.
Thay đổi rõ thói quen đại tiện.
Máu trong phân hoặc phân đen.
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
Thiếu máu.
Đau bụng kéo dài.
Bụng chướng, nôn hoặc bí trung tiện.
Phân nhỏ bất thường kéo dài.
Sốt.
Khối bất thường ở bụng hoặc trực tràng.
Phải dùng tay hỗ trợ đại tiện.
Rỉ phân lỏng kéo dài.
Lú lẫn, chán ăn hoặc suy yếu đột ngột.
Đang dùng nhiều thuốc và táo bón tăng nhanh.
Có tiền sử gia đình ung thư đại trực tràng.
Dấu hiệu cần cấp cứu
Đau bụng dữ dội.
Bụng chướng căng tăng nhanh.
Nôn liên tục.
Không trung tiện được.
Choáng hoặc vã mồ hôi.
Đau ngực, khó thở hoặc ngất khi đại tiện.
Chảy máu hậu môn nhiều.
Lú lẫn cấp tính kèm bí đại tiện.
Nói tóm lại
Táo bón ở người cao tuổi thường do nhiều yếu tố phối hợp: ăn ít, thiếu chất xơ, uống ít nước, giảm vận động, suy yếu cơ bụng và sàn chậu, bệnh thần kinh, bệnh nội tiết và tác dụng của thuốc.
Theo Trung y, bệnh phần nhiều thuộc Hư bí, liên quan đến Tỳ khí hư, Huyết hư, Thận âm hư hoặc Thận dương hư; tuy nhiên, khí trệ, táo nhiệt, thấp trọc và ứ phân vẫn có thể xuất hiện, tạo thành bản hư tiêu thực.
Điều trị cần vừa xem xét gốc hư vừa xử lý sự ứ trệ, nhưng phải tránh công hạ mạnh. Trọng điểm là tìm đúng nguyên nhân, làm phân mềm, khôi phục thói quen đại tiện, điều chỉnh ăn uống, uống nước và vận động, đồng thời rà soát thuốc đang dùng.
Người cao tuổi bị táo bón mới xuất hiện, có máu trong phân, sụt cân, đau bụng hoặc nôn cần được khám sớm để loại trừ bệnh thực thể.
Trường Xuân biên soạn