Tăng sản xương sống cổ
Tham khảo tư liệu:
Biểu hiện lâm sàng của tăng sản xương sống cổ là gì?
Tăng sản xương sống cổ và thoái hóa đốt sống cổ không giống nhau. Tăng sản xương cổ là một trạng thái, thoái hóa đốt sống cổ là một bệnh, trong trường hợp cột sống cổ bị tổn thương mãn tính lâu dài, bệnh đĩa đệm cổ, tổn thương dây chằng, rối loạn khớp nhỏ, tăng sản xương, v.v. có thể xảy ra, dẫn đến hàng loạt biểu hiện lâm sàng. Đối với bệnh thoái hóa đốt sống cổ. Theo mức độ và vị trí chèn ép của dây thần kinh cổ và mạch máu do đốt sống cổ tăng sản, chúng có thể được chia thành 5 loại:
(1) Loại rễ thần kinh: Xương tăng sinh chèn ép rễ thần kinh cổ, gây ra các triệu chứng tương ứng. Tỷ lệ mắc bệnh chiếm tới 60% bệnh thoái hóa đốt sống cổ. Điểm chẩn đoán: ① Độ tuổi chủ yếu là từ 40 đến 60 tuổi, nam nhiều hơn nữ. ② Nó có các triệu chứng rễ điển hình hơn: như đau, tê ở cổ, vai, cánh tay, đau lan tỏa ở cổ tay và ngón tay, phạm vi của nó phù hợp với vùng do dây thần kinh cột sống cổ chi phối. ③ Suy giảm khả năng vận động của cổ, đặc biệt là hạn chế chức năng duỗi và xoay lưng. ④Độ mềm của mỏm gai của đốt sống bị ảnh hưởng, nghiệm pháp nén lỗ liên đốt sống dương tính và nghiệm pháp kéo đám rối cánh tay. ⑤Chụp X-quang cột sống cổ cho thấy tăng sản xương ở mép sau của thân đốt sống và các khớp xương.
(2) Loại động mạch đốt sống: Xương tăng sinh chèn ép hoặc kích thích động mạch đốt sống, gây co thắt động mạch đốt sống – thân nền và lượng máu cung cấp không đủ. Tỷ lệ mắc bệnh chiếm khoảng 10% đến 15% bệnh thoái hóa đốt sống cổ. Điểm chẩn đoán: ① Bệnh nhân trung niên thường bị chóng mặt, đau nửa đầu, suy giảm thị lực, khó phát âm, ù tai, điếc và mất thăng bằng do thay đổi vị trí đầu và cổ. ② Trong thời gian phát bệnh, cử động cổ của bệnh nhân thường bị hạn chế và xét nghiệm cảm ứng xoay cổ cho kết quả dương tính. ③ Chụp X-quang thẳng, nghiêng và nghiêng của cột sống cổ cho thấy sự tăng sản xương của khớp lồi và sự dịch chuyển bệnh lý của đốt sống bị ảnh hưởng.
(3) Loại cột tủy sống: Nguyên nhân chủ yếu là do tăng sản xương và thoái hóa các đĩa đệm cổ nhô vào ống sống và chèn ép tủy sống, chiếm khoảng 10% đến 50%. Điểm chẩn đoán: ① Bệnh nhân trung niên trở lên có biểu hiện tê, đau nhức, nóng rát, đau nhức tứ chi, khi đi lại có “cảm giác như giẫm phải bông”, trọng tâm cơ thể không ổn định, dễ bị té ngã. ② Lực căng của các chi tăng lên, sức cơ yếu đi, phản xạ gân xương tăng lên, phản xạ đầu gối yếu đi, xuất hiện phản xạ bệnh lý. ③Chụp X-quang cột sống cổ cho thấy tăng sản xương ở rìa sau của thân đốt sống, hẹp ống sống cổ và có hiện tượng cản trở khi kiểm tra tạo ảnh động mạch.
(4) Loại thực quản: do sự tăng sản của xương ở mép trước đốt sống cổ chèn ép vào thành sau thực quản. Loại này ít phổ biến hơn. Những điểm chính để chẩn đoán: ① Người trung niên trở lên. ②Người bệnh cảm thấy khó chịu ở cổ họng, cảm giác có dị vật và khó nuốt. ③Phim X-quang cho thấy sự tăng sản xương ở rìa trước của thân đốt sống.
(5) Loại thần kinh giao cảm: Sự tăng sản của xương sẽ chèn ép các dây thần kinh giao cảm ở hai bên cột sống cổ. Loại này cũng hiếm. Những điểm chính để chẩn đoán: ① Người trung niên trở lên. ②Khe mắt một bên to, một bên nhỏ, đồng tử có kích thước không đều nhau, đôi khi nhìn không rõ. Nửa mặt bị khô, ít đổ mồ hôi. Phim ③X-quang cho thấy những thay đổi giống như tăng sản xương ở cột sống cổ.
Phòng ngừa và điều trị bệnh tăng sản xương cổ như thế nào?
(1) Phòng ngừa: Bởi vì tăng sản xương có liên quan đến các yếu tố như tuổi tác, giới tính, chủng tộc, nghề nghiệp, loại công việc, thể lực, tư thế xấu và các yếu tố khác. Cái gọi là phòng ngừa đề cập đến các biện pháp mà con người thực hiện để chống lại các yếu tố có thể can thiệp được. Ví dụ, cố gắng tránh cúi đầu, ngẩng đầu, nghiêng đầu, v.v. trong thời gian dài. Sau khi làm việc nên vận động cổ một cách thích hợp, các động tác nên chậm và không quá lớn. Tự massage cổ. Tập thể dục và kiểm soát cân nặng.
(2) Điều trị: Vật lý trị liệu, kéo cổ bao gồm hỗ trợ cổ và khung kéo. Điều trị bằng thuốc: Kết hợp với vật lý trị liệu và lực kéo, nên dùng một số loại thuốc chống viêm không steroid một cách thích hợp.
(3) Giới thiệu sản phẩm tựa đầu chăm sóc sức khỏe: Thông qua việc giới thiệu các bệnh tăng sản xương và viêm xương khớp, người bệnh có thể có những hiểu biết nhất định về căn bệnh này. Chúng ta không thể thay đổi các yếu tố như tuổi tác, di truyền, giới tính nhưng có thể tập trung vào các yếu tố phòng ngừa như yếu tố mắc phải như nghề nghiệp, thể lực, tư thế xấu, v.v. Chúng ta dành khoảng 1/3 cuộc đời trên giường, gối gắn liền với cổ, nhưng có bao nhiêu người nhận thấy tác dụng của gối đối với cột sống cổ? Nhiều loại gối hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu sinh lý của cột sống cổ, gây đau nhức cột sống cổ lâu ngày, trong trạng thái căng thẳng lơ lửng và bất thường sẽ gây ra tổn thương mãn tính ở cột sống cổ. Sau nhiều năm nghiên cứu và phát triển, đã có người được cấp bằng sáng chế quốc gia cho sản phẩm gối kê cổ chăm sóc sức khỏe (Bằng sáng chế số 942174-437), đặc điểm của nó như sau: ① Bởi vì nó được trang bị cấu trúc bề mặt hình vòng cung phù hợp với bề mặt cong của cổ, thay đổi chiếc gối truyền thống để cổ được thoải mái hơn, bộ phận bị hư hỏng do ngoại lực lâu ngày không đáp ứng được đặc tính cơ sinh học. ② Chứa một số tác dụng chữa bệnh nhất định của lõi gối y học cổ truyền Trung Quốc, có tác dụng bồi bổ tinh thần và tăng cường trí não, làm thơm và hồi sức, kích hoạt lưu thông máu và khai thông kinh mạch, làm dịu và làm dịu thần kinh. Nó đóng một vai trò nhất định trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh tật khi con người đang ngủ. Tất nhiên chức năng phòng ngừa của nó vượt quá chức năng điều trị.
Y học cổ truyền biện chứng luận trị bệnh tăng sản xương đốt sống cổ như thế nào?
Về biện chứng luận trị, y học cổ truyền thường chủ trương chia thành hai loại: Hư và thực, hư chứng bao gồm gan thận âm hư và khí huyết hư yếu, còn thực chứng bao gồm sự xâm nhập của phong thấp hàn tà, gây tắc nghẽn nội tạng. đàm thấp, khí trệ huyết ứ.
(1) Nguyên nhân bệnh từ bên ngoài
Sau tuổi trung niên, can thận suy yếu, khí huyết dần dần suy giảm, khả năng bảo vệ bên ngoài không kiên cố vững chắc, phong thấp và hàn lãnh thừa cơ hội thân thể phòng vệ suy yếu mà xâm nhập, khiến khí trệ huyết ứ, kết tụ ở gân xương cổ gáy, làm cho kinh mạch bế tắc không thông, nên gân cốt cơ bắp không được khí huyết nuôi dưỡng và sưởi ấm.
Triệu chứng: Đau đầu, cổ, vai, lưng và tứ chi, đau cục bộ, thích nóng, ghét lạnh, cổ bị cứng, cử động bị hạn chế, ở sau gáy có thể sờ thấy các vật giống như dây và các điểm đau, cảm giác nặng nề và khó chịu. chi trên yếu, kèm theo nặng đầu, tức ngực, chán ăn. lưỡi bình thường hoặc sẫm màu, lưỡi mập hoặc có vết răng, mạch trầm trì hoặc huyền hoạt.
Trị pháp: Khứ phong tán hàn, thông kinh, thông lạc trừ tê. Xử phương: Quyên tí thang gia giảm: . Khương hoạt 15g, Phòng phong 12g, Đương quy 12g, chích Cam thảo 6g, Phương thang có tác dụng Ích khí hòa doanh, khứ phong lợi thấp, điều trị chứng phong tà thiên thắng, bị tê nhiều. Nếu đau kịch liệt, hàn lãnh khá mạnh thì gia chế Xuyên ô, Phụ tử, Tế tân, Quế chi để tán hàn giảm đau (Theo người dịch hai vị Xuyên ô, Phụ tử nên sắc trước 1 giờ); Nếu nhiều thấp, có thể gia Hải đồng bì, Hi thiêm thảo, Lộ lộ thông để khứ trừ phong thấp, thông kinh lạc.
(2) Đàm ẩm gây tắc nghẽn.
Sau tuổi trung niên, thận khí dần yếu đi, khí không thể chuyển hóa thành khí, nước không thể chuyển hóa thành khí, tức là tích tụ và biến thành đàm, hơn nữa, cơ thể yếu đuối dễ bị phong tà xâm nhập, và phong tà và đàm đấu tranh nhau, gây cản trở kinh lạc ở vùng cổ mà phát bệnh.
Triệu chứng: Đầu cổ đau nhức kịch liệt, vai và cánh tay đau trướng tức khó chịu, chân tay nặng nề, đầu nặng trướng, ngực và thượng vị căng tức, ăn ít ngủ nhiều, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch trầm hoạt.
Trị pháp:Táo thấp hóa đàm, lý khí thông lạc.
Xử phương: Chỉ mê phục linh hoàn gia vị. Phục linh 12g, Hoàng cầm 10g, Trần bì 12g, Ngũ vị tử 10g, Cát cánh 6g, Khương bán hạ 9g, Bạch giới tử 10, Địa long 12g, Đảm Nam tinh 10g.
Phương thang có tác dụng táo thấp hóa đàm, lý khí thông lạc, nếu kèm theo hiện tượng kinh lạc ứ trệ, có thể cân nhắc gia Tam thất, Xuyên sơn giáp, Địa long để hỗ trợ hoạt huyết hóa ứ, thông lạc giảm đau; Nếu kèm theo phong hàn, có thể cân nhắc gia Quế chi, Khương hoạt, Linh tiên, để trừ phong thấp trị tê đau.; Nếu kèm theo hoa mắt váng đầu gia Thiên ma, Bạch truật; Đau tức nhói ở ngực (hung tí) gia Đan sâm, Qua lâu, Uất kim.
(3) Khí trệ huyết ứ.
Do ngoại thương và lao tổn, khoang mô ở rìa thân đốt sống chảy máu, hình thành ứ huyết, ứ huyết làm tắc nghẽn kinh lạc và gây bệnh.
Triệu chứng: Tê, ngứa ran, đau ở đầu, cổ, vai, lưng và tay chân có tính khu trú, khó chịu khi ấn, nặng hơn vào ban đêm, kèm theo chóng mặt, mờ mắt, mất ngủ và hay quên, bồn chồn, tức ngực và đau ngực, khó chịu, sắc mặt không tươi, lưỡi có màu tím sẫm, hoặc có vết bầm tím, mạch tế sáp.
Trị pháp: Hoạt huyết hóa ứ, khai thông kinh lạc.
Xử phương: Hóa ứ thông tý thang gia vị. Đương quy 18g, Đan sâm 30g, Kê huyết đằng 31g, chế Nhũ Một đều 9g, Huyền hồ 12g, Cát căn 18g, Thấu cốt 20g, Khương hoàng 12g, Xuyên sơn giáp 10g, Địa long 12g.
Phương dược có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, hành khí giảm đau, thiên về hàn chứng gia Quế chi, chế Xuyên Thảo ô, Tế tân (sắc Xuyên Thảo ô trước 1 giờ); thiên về nhiệt thì gia Bại tương thảo, Đan bì; Nếu khí hư gia Hoàng kỳ; Nếu có đàm thấp, gia Bạch giới tử, Đảm Nam tinh; Nếu hung tí (tức nhói ngực) gia Giới bạch, Uất kim, Qua lâu, Bán hạ.
(4) Khí huyết hư yếu
Người già thân thể hư yếu, khí huyết suy nhược, khí hư nên da thịt không săn chắc kín đáo, phong hàn thấp nhân cơ hội cơ thể hư yếu mà xâm nhập, ảnh hưởng kinh lạc, làm cho khí huyết vận hành không thông suốt, huyết hư không nuôi dưỡng gân xương đầy đủ cũng đều có thể phát bệnh.
Triệu chứng: Đau nhức và khó chịu ở đầu và cổ, tê ở vai và cánh tay, ngủ ít và mơ nhiều, đổ mồ hôi tự hãn và đổ mồ hôi ban đêm, chóng mặt, đánh trống ngực, khó thở, da nhợt nhạt. hoặc kinh nguyệt rối loạn; Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế nhược.
Trị pháp: Ích khí dưỡng huyết, thông lạc giảm đau.
Xử phương: Hoàng kỳ Quế chi ngũ vật thang gia vị. Hoàng kỳ 15g, Xích Bạch thược đều 12g, Quế chi 10g, Lộc giác phấn 6g (uống riêng), Kê huyết đằng 15g, Sinh khương 6g, Đại táo 4 quả.
Phương thang có tác dụng Ích khí ôn kinh, hòa doanh thông tí. Nếu kèm theo phong thấp, cân nhắc gia Linh tiên, Thấu cốt thảo, Cát căn, Khương hoạt, sao Thương nhĩ tử để khứ phong thấp giảm đau; Nếu có ứ huyết, châm chước gia Địa long, Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy vĩ để hỗ trợ lực hoạt huyết hóa ứ; Nếu kèm theo thận hư yếu, châm chước gia Dâm dương hoắc, Thố ti, Cẩu tích để bồi bổ thận dương thông mạch đốc.
(5) Gan thận suy yếu
Thận chứa tinh và chủ tủy, gan tàng huyết và chủ gân. Nguyên nhân là do tuổi già sức yếu, gan thận tinh huyết dần dần cạn kiệt, cơ bắp xương cốt không được nuôi dưỡng tốt.
Triệu chứng: Vai và cổ không thoải mái, Đầu não đau trướng, chóng mặt và ù tai, không thể xoay đầu, tinh thần uể oải, mệt mỏi, hay quên, ít ngủ, eo gối đau mỏi, lưỡi nhỏ, chất lưỡi đỏ sậm, ít rêu lưỡi hoặc không có rêu, mạch huyền tế.
Trị pháp: Ích tinh bổ thận, tư âm trị phong.
Xử phương: Tả quy hoàn gia vị. Thục địa 15g, Sơn dược 15g, Sơn thù 12g, Kỷ tử 15g, Thố ti 10g, Bạch thược 12g, sinh Thạch quyết mi nh 15g, Đương quy 9g, chích Cam thảo 9g, Hoàng tinh 24g.
Phương trên có thể tư bổ chân âm để trị (tức) phong. Nếu kèm phong thấp, gia Linh tiên, Thiêm thảo, Lộc hàm thảo để khứ phong giảm đau.
Các loại thành dược để điều trị tăng sản xương sống cổ gồm :
(1) Kháng cốt chất tăng sinh hoàn
(2) Cốt thích hoàn
(3)Thiên ma hoàn
(4) Lục vị địa hoàng hoàn
(5) Hổ tiềm hoàn
(6) Thư cân hoạt lạc hoàn
Thành phần và cách dùng theo toa của mỗi loại thuốc.
Các bài thuốc truyền thống để điều trị tăng sản xương sống cổ
(1) Phương thuốc điều trị bệnh xương sống cổ
Thành phần thuốc: Lộc giác phiến, Lộc giác giao mỗi vị 10g, Tiên linh tỳ 30g, Sinh, Thục địa, Nhục thung dung, Ngưu tất, Xuyên khung, Cát căn mỗi vị 10g, Cốt toái bổ, Xích bạch thược, Mộc qua, Đỗ trọng mỗi vị 15g, Trạch tả 20g, Phục linh 12g.
Công hiệu: Ôn dương thông kinh, hoạt huyết khứ phong, giải cơ giảm đau.
Chủ trị: Bệnh đốt sống cổ.
Cách dùng và liều lượng: Lấy nước làm viên, mỗi lần uống 6g, ngày 3 lần.
(2) Phương thuốc chữa bệnh thoái hóa đốt sống cổ của họ Hà
Thành phần thuốc: Thục địa 15~2 g, Đan sân, Tang chi, Mạch nha, Quy vĩ mỗi vị10g, Lộc hàm thảo 10~15g, Cốt toái bổ 15g, Nhục thung dung 6~10g, Sinh Bồ hoàng 20~25g, Kê huyết đằng 15 ~ 20g, Xà thoái 6g. Nếu đau nhiều thì thêm Huyền hồ, chế Nhũ hương, chế Một dược mỗi vị 10g; Cao huyết áp nên giảm Nhục thung dung; Chân tay đau trướng, trở ngại vận động thì thêm Thân cân thảo 10 ~ 15g, Điền tam thất 2g. Đối với chứng đau mô mềm ở cổ và chi trên, thêm 2 ml thuốc tiêm Xuyên khung, Đương quy, Đinh công đằng để tiêm tại chỗ.
Công dụng: Bồi bổ gan thận, bổ máu, điều hòa kinh nguyệt, khứ phong, giảm đau.
Chủ trị: Bệnh đốt sống cổ.
Cách dùng và liều lượng: Sắc lấy nước, ngày 1 lần.
(3) Thuốc sắc Ích khí hoạt huyết tán phong thang
Thành phần thuốc: Hoàng kỳ, Đảng sâm, Đan sâm, Xuyên khung, Bạch thược, Sinh địa, Đào nhân, Hồng hoa, Hương phụ, Địa long, Cát căn, Xuyên sơn giáp, Địa miết trùng, Uy linh tiên mỗi vị từ 9~12g, Huyết ứ nặng gia Xuyên sơn giáp, Nhũ hương, Một dược; Ăn uống không tốt gia Sơn tra, Thần khúc; Mạch tế vô lực gia Hoàng tinh.
Công hiệu: Ích khí hoạt huyết, khứ phong thông lạc.
Chủ trị:Loại hình thần kinh căn xương sống cổ.
Cách dùng: Sắc uống, ngày 1 thang.
(4) Thông hóa điều lý thang
Thành phần thuốc: Đan sâm, Cát căn, Hoàng kỳ, Đại táo mỗi vị 18g, Quế chi 6g, Xích thược 12g, Đương quy 12g, Bạch chỉ 9g, Khương hoạt 12g, Địa long 9g, Chích thảo 6g.
Công hiệu: Ích khí dưỡng huyết, hoạt huyết thông lạc.
Chủ trị : Hội chứng cột sống cổ.
dùng và liều lượng: Sắc uống, ngày 1 thang.
(5) Lộc Đan thang
Thành phần thuốc: Lộc hàm thảo, Đan sâm, Thục địa, Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung, Dĩ nhân, Uy linh tiên mỗi vị 12g, Sắc mặt trawsngm eo gối đau và lạnh gia Đỗ trọng, Bổ cốt chỉ, Thục phụ phiến, Nhục quế; Lồng ngực phiền muộn, tức trướng cạnh sườn, chi thể phù thzng trướng tức gia Mộn gương, Huyền hồ, Chỉ xác, Ô dược; Đau cố định, đau nhói, chất lưỡi có điểm ứ, gia Đào nhân, Hồng hoa chế Nhũ Một; Phong hàn thấp lưu trệ không đi, xuất hiện đau có tính du tẩu (di động), hoặc khi bị lạnh thì đau tăng nặng, hoặc thân thể nặng nề khó chịu, chọn gia Phòng phong, Tần giao, Quế chi, Khương Độc hoạt.
Công hiệu: Bổ thận thông lạc, dưỡng huyết vinh cân.
Chủ trị: Bệnh xương sống cổ.
Cách dùng: Sắc uống, ngày 1 thang.
(6) Thang Quế chi Cát căn
Thành phần: quế chi 18g, Bạch thược 18g, Cam thảo 12g, Cát căn 25~40g, gừng 6g, Đại táo 6g.
Cách dùng: Sắc lấy nước uống trong 20 ngày.
Hiệu quả: Thư giãn gân cơ, điều hòa doanh vệ.
Chủ trị: Bệnh đốt sống cổ.
Gia giảm: Lạnh cục bộ nghiêm trọng, gia Phụ tử; Cổ gáy nặng nề khó chịu, gia Khương hoạt, Độc hoạt; Tê tay, cánh tay gia Đương quy, Xuyên khung, Ngưu tất; Bệnh kéo dài gia Thiên ma, Toàn yết, Địa long; Thận hư yếu gia Lộc giác sương, sơn thù du, Tiên linh tỳ.
(7) Cảnh bệnh thanh vận ẩm
Thành phần: Thiên ma, Câu đằng (hậu hạ), Mạn kinh tử, Bạch thược, Thủ ô, Đan sâm, Bạch cúc hoa, Thanh tương tử, Long cốt (sống), Huyền hồ, Khương hoàng, Ký sinh mỗi vị 12g, Đương quy, Xuyên khung đều 9g, Mẫu lệ sống 15g, Thạch quyết minh 20g, Đỗ trọng 15g..
Cách dùng: sắc lấy nước uống. Thuốc chia làm 3 lần sắc, Lần thứ nhất sắc các vị thuốc:Long cốt, Mẫu lệ và Thạch quyết minh đun sôi trong 15 phút, sau đó thêm Thiên ma, Màn kinh, Xuyên khung, Đương quy, Bạch thược, Thủ ô, Đan sâm, Thanh tương tử, Huyền hồ, Khương hoàng, Đỗ trọng, Ký sinh, đun sôi 10 phút, sau đó thêm Câu đằng, Bạch cúc hoa, tiếp tục đun sôi từ 3~5 phút là có thể lấy nước thuốc để uống, nước thứ 2 và 3 chỉ cần đun sôi thuốc 15 phút là được, ngày uống 3 lần.
Công hiệu: Hòa huyết, hoạt huyết, tiềm dương, trấn nghịch.
Chủ trị: Bệnh xương sống cổ loại hình động mạch.
Gia giảm: Ẩu thổ gia Trúc nhự, Pháp bán hạ đều 12g; Vội vã bất an, gia Hổ phách tán bột hòa nước uống riêng; Nước tiểu vàng đỏ, gia Xa tiền tử, Phục linh.
(8) Thang Cát căn nhị đằng.
Thành phần: Cát căn 30 ~ 60 g, Kê huyết đằng 30 ~ 60 g, Câu đằng 10 ~ 30 g.
Cách dùng: Sắc lấy nước, uống 1 lần/ngày, đợt điều trị 15 ngày.
Hiệu quả: kích hoạt lưu thông máu và loại bỏ ứ máu, giảm tê và thông tắc các tài sản thế chấp, giảm co thắt và giảm đau.
Chỉ định: Bệnh đốt sống cổ.
Gia giảm: Đối với chóng mặt và buồn nôn, nếu rêu lưỡi trắng nhớt gia Thiên ma, Bạch truật, Thanh bán hạ, Phục linh mỗi vị 10g, rêu lưỡi vàng nhớt gia, Trúc nhự, Quất hồng, Chỉ thực mỗi vị 10g; Đau vùng chẩm gia Xuyên khung, Khương hoạt đều 10g. Đau cổ gáy gia Cương tàm 10g; Đau đỉnh đầu gia Cao bản 10g; Váng đầu, đầu óc không thanh sảng gia Xương bồ, Cúc hoa đều 10g; Đau hai bên đầu gia Xuyên khung, Màn kinh đều 10g, đau từ trán xuống hốc mắt gia Bạch chỉ 10g; Đau lâu ngày hoặc có tiền sử ngoại thương cân nhắc gia Toàn yết 10g, Ngô công 1~2 con; Đau trướng tức lưng, gia Khương hoạt, Khương hoàng, Bạch truật đều 10g; Đau ngực và lưng gia Đan sâm 15g, Qua lâu 30g, Giới bạch 10g, tê tay và cánh tay gia Tang chi 15~30g, Thân cân thảo 15~30g; Cánh tay đau không nâng lên được gia Thổ miết trùng, Địa long đều 10g; Thoái hóa xương sống cổ gia Linh tiên 20g hoặc Xuyên sơn giáp 10~15g; Chân tay và lưng lạnh tuyển dụng Quế chi, Dâm dương hoắc, Nhục thung dung, Lộc giác sương đều 10g.
(9) Thang Hoạt huyết thông lạc.
Thành phần: Đương quy, Cát căn đều 20g, Xích thược 15g, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa đều 10g, Kê huyết đằng 30g, Ngưu tất 18g, Quế chi 6g, Địa long 12g, Linh tiên 12g, Toàn yết 8g.
Cách dùng: Sắc uống 1 thang/ngày, một liệu trình 30 ngày.
Công hiệu: Hoạt huyết thông lạc, trị tê giảm đau.
Chủ trị: Bệnh đốt sống cổ.
Gia giảm: Thiên về thận khí hư yếu gia Đỗ trọng 18g, Ký sinh 24g, Tục đoạn 15g; Thiên về khí huyết suy hư gia Đảng sâm, Thục địa đều 15g, Hoàng kỳ 24g; Thiên về hàn ngưng khí trệ, gia Xuyên ô, Tiên linh tỳ đều 10g, Can khương 8g (Phải sắc Xuyên ô trước 1 giờ.); Thiên về tỳ hư hiệp thấp gia Quất hồng 10g, Phục linh 15g, Bạch truật 12g.
(10) Thang Trừ tê trục ứ.
Thành phần: Cát căn 30g, Đương quy 15g, Xuyên khung 12g, Hồng hoa 9g, Khương hoàng 12g, Lưu ky nô 15g, Lộ lộ thông 30g, Độc hoạt 9g, Bạch chỉ 12g, Uy linh tiên 12g, Tang chi 30g, Đảm tinh 9g, Bạch giới tử 9g.
Cách dùng: Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, uống 6 thang thì ngừng uống 1 ngày, một liệu trình điều trị là 12 ngày.
Công hiệu: Khứ phong tán hàn, trừ thấp, hóa ứ thông lạc.
Chủ trị: Bệnh cột sống cổ loại hình phong thấp hàn đàm, gây tê đau vai và tay.
Gia giảm: Khí hư thì thêm 30g Hoàng kỳ; Nhiệt uất trong kinh lạc gia Song hoa đằng 30g; Kiêm nội nhiệt, rêu lưỡi vàng, miệng đắng, gia Hoàng cầm, Chi tử, Long đảm mỗi vị từ 9~15g; Hàn chứng rõ rệt, gia Xuyên, Thảo ô đều 9g (chú ý sắc trước 1 giờ).
Miếng dán bên ngoài điều trị tăng sản xương cổ là gì?
(1) Cao Hạc thảo
Thành phần thuốc và cách bào chế: Lão Hạc thảo 27g, Hổ cốt 72g, Phòng phong 27g, Hồng hoa 18g, Mộc qua 27g, Hoauf ngưu tất 18g, Cốt toái bổ 27g, Thanh phong đằng 27g, Công lao diệp 18g, Đương quy 27g, Ma hoàng 9g, Hải phong đằng 27g, thêm vào 7500ml dầu mè, xào bỏ cặn, lọc, đun sôi, sau đó thêm 2700g Chương đan, trộn đều tạo thành hỗn hợp sệt, trộn 7500ml mỗi loại dầu mỡ với 27g Nhũ hương và Một dược, cùng 3,6g xạ hương. , mỗi tờ lớn có 30ml dầu nguyên chất, mỗi tờ nhỏ có 15ml dầu nguyên chất.
Hiệu quả: Tán phong hoạt huyết, hóa ứ giảm đau.
Chủ trị: Thoái hóa đốt sống cổ loại hình khí trệ huyết ứ.
Cách sử dụng: Dán vào khu vực bị bệnh.
(2) Cao Thạch hổ
Thành phần thuốc và cách bào chế: Thạch hộc 60g, Sinh Hổ cốt 120g, Xích thược 45g, Xuyên khung 30g, Bạch cập 30g, Khương hoạt 45g, Quế chi 60g, Đỗ trọng 45g, Sinh địa 120g, Xuyên ô 30g, Bạch liễm 30g, sinh Sơn giáp 30g, Độc hoạt 45g, Ma hoàng 30g, Thấu cốt thảo 60g, Đương quy 120 Thảo ô sống 30g, Hồng hoa 30g, Đại hoàng 30g, Phòng phong 45g, Cam thảo 30g. Đối với các dược liệu trên dùng 7500ml dầu mè, 45g Nhục quế, Nhũ hương 30g, Một dược 30g, Xạ hương1,5g Huyết kiệt 45g, Mộc hương 1,5g, Công đinh hương 1.5g. Khuấy đều. Mỗi tờ lớn có 30ml dầu nguyên chất và mỗi tờ nhỏ có 15ml dầu nguyên chất.
Hiệu quả: xua tan gió lạnh, thư giãn cơ bắp, kích hoạt lưu thông máu và giảm đau.
Chỉ định: Khứ phong tán hàn, thư cân hoạt huyết trị đau
Cách sử dụng: Dán vào nơi bị bệnh.
(3) Cao gai xương
Thành phần thuốc và cách bào chế:Uy linh tiên, Ngũ gia bì, Khương hoàng, Tam lăng, Độc hoạt, Xuyên sơn giáp, Tế tân, Tần giao, Tử vi, Văn truật mỗi vị 30g, Huyết kiệt, Mộc qua, Ngưu tất, Hồng hoa, Tạo thích, Tật lê, Nhũ hương, Một dược, Tây thảo, Xuyên khung, Thấu cốt thảo, Ngũ linh chi, Phòng kỷ, Bạch giới tử, Xích thược, Lộ lộ thông mỗi vị 15g, Đào nhân sống, Hương phụ sống, Mộc miết tử, Băng phiến, Xuyên Thảo ô sống mỗi vị 60g, Mã tiền sống 240g, xạ hương 1g, Quảng đan 750g, Hương du 1500g. Xạ hương, Huyết kiệt, Băng phiến, Tam thất tán thành bột mịn, đậy kín để sang một bên. Cho Mã tiền, Xuyên Thảo ô, Hương phụ, Sơn giáp ngâm vào nồi đựng dầu trong 1 tuần lễ, sau đó nấu bằng lửa nhỏ, đến khi bã thuốc chuyển thành màu đen thì vớt ra, sau đó cho phần thuốc còn lại vào nồi, chiên bằng lửa nhỏ, chiên đến khi nhỏ dầu vào nước thành hạt châu là được “Thích thủy thành châu”(滴水成球) thì cho Quảng đan vào, không ngừng khuấy đều, đến khi dầu từ màu hồng chuyển thành màu hồng ráng (đỏ sậm) thì tắt lửa. Đến khi dầu nguội ở độ ấm khoảng 60 độ thì đem thuốc đã tán mịn cho vào, tiếp tục khuấy đều đến khi đông đặc lại, trải trên mặt vải (dày khoảng 0.2cm) là hoàn thành.
Công hiệu: Trừ gai xương và trị đau.
Chủ trị: Bệnh xương sống cổ.
Cách dùng: Dán ngoài vào vùng bị bệnh. Mỗi miếng dán có thể dán từ 5 đến 7 ngày. Mỗi liệu trình dán từ 5 đến 10 miếng.
Các phương pháp y học thường sử dụng thuốc đắp để điều trị tăng sản xương sống cổ là những phương dược nào?
(1) Cảnh khang nhiệt kích phương
Thành phần thuốc: Khương hoạt, Độc hoạt, Quế chi, Tần giao, Đương quy, Hải phong đằng, Nhũ hương, Một dược, Mộc hương mỗi vị 15g, Tang chi 30g.
Công hiệu: Khứ phong thông lạc, hoạt huyết hóa ứ.
Chủ trị: Bệnh đốt sống cổ loại hình kinh lạc không thông.
Dụng pháp: Bọc vải thuốc đã sao nóng rồi chườm vào nơi bị bệnh, mỗi lần chườm nửa giờ, ngày 2~3 lần,
(2) Bột nóng kích tăng sản
Thành phần thuốc: Hồng hoa, Đào nhân, Tùng hương đều 6g, Đương quy, Nam tinh sống, Bán hạ sống đều 12g, Xuyên ô sống, Khương hoạt, Độc hoạt đều 9g, Bạch giới tử, Băng phiến đều 3g, Nha tạo 4.5g, Chương não 15g.
Hiệu quả: kích hoạt tuần hoàn máu và loại bỏ ứ máu, giải quyết đờm và thông tắc bàng quang, phân tán cảm lạnh và giảm đau.
Chỉ định: tăng sản xương.
Cách dùng: Tán thuốc thành bột mịn, xào với rượu, ủi nóng vùng bị bệnh, đợi nguội tiếp tục chườm nóng, mỗi lần 7 đến 8 giờ, mỗi ngày một lần.
(3) Công thức chườm nóng bằng muối
Thành phần thuốc: muối.
Công dụng: Hoạt huyết tán hàn trị đau.
Chỉ định: Thoái hóa đốt sống cổ, đau nhức và tê ở đầu, ngực và lưng, vai ,cánh tay và chi trên.
Cách sử dụng: Sao nóng và đắp lên vùng bị ảnh hưởng trước khi đi ngủ mỗi tối, mỗi lần 30 phút.
Cơ chế của liệu pháp lực kéo trong điều trị tăng sản xương sống cổ là gì?
Kéo dãn xương sống cổ là một trong những biện pháp điều trị tăng sản xương cổ hiệu quả và là phương pháp điều trị lâm sàng được áp dụng phổ biến. Cơ chế hoạt động của nó là:
(1) Hạn chế cử động cổ có lợi cho việc làm giảm tình trạng tắc nghẽn và phù nề của các mô.
(2) Giảm co thắt cơ cổ và giảm đau.
(3) Mở rộng khoảng gian đốt sống và lỗ đốt sống, đồng thời giảm bớt sự chèn ép của rễ thần kinh, động mạch đốt sống, tủy sống, v.v. do gai xương.
(4) Rút màng hoạt dịch của khớp bị ảnh hưởng.
(5) Khôi phục vị trí bình thường của khớp đốt sống cổ. Trong tình trạng bệnh, các khớp bị ảnh hưởng có thể trải qua nhiều thay đổi vị trí khác nhau như xoay, biến dạng, biến dạng hình thang, v.v. Thông qua lực kéo, đầu và cổ được đặt ở trạng thái đường cong sinh lý bình thường và đường cong của cột sống cổ có thể bị uốn cong. được khôi phục lại bình thường.
(6) Giảm phản ứng viêm cục bộ của gai xương. Do sự kích thích và chèn ép của các gai xương tăng sản trên các mô xung quanh, phù nề, tắc nghẽn, tiết dịch, v.v. có thể xảy ra cục bộ, dẫn đến các triệu chứng đau đớn. các triệu chứng.
Các liệu pháp lực kéo phổ biến được sử dụng để điều trị tăng sản xương sống cổ là gì?
(1) Lực kéo khi ngồi: Bệnh nhân ngồi trên ghế đẩu, cố định vùng hàm dưới và vùng chẩm bằng 4 băng đô rồi kéo lên trên theo phương thẳng đứng, dùng trọng lượng cơ thể làm lực phản lực, trọng lượng có thể đạt tới 10-20kg, trong 1-2 giờ mỗi lần, mỗi ngày 1 ~ 2 lần, tùy theo phản ứng của bệnh nhân, thời gian kéo và trọng lượng có thể tăng hoặc giảm, và một đợt điều trị là một tháng.
(2) Lực kéo ở tư thế nằm ngửa: Bệnh nhân nằm ngửa trên giường, đầu và chân giường nâng cao, dùng 4 băng đô để kéo một góc 300 độ so với trục dọc của cơ thể. là 3kg. Nghỉ 1 giờ sau mỗi 2 giờ kéo. Điều này có thể được thực hiện nhiều lần trong ngày. Một tháng là một liệu trình điều trị.
Hầu hết bệnh nhân mắc bệnh lý rễ đốt sống cổ có thể được chữa khỏi bằng lực kéo. Để hạn chế cử động cổ, có thể đeo vòng cổ.
Có những phương pháp chườm nóng nào để điều trị chứng tăng sản xương cổ?
(1) Ủi nóng Khảm li sa: Dùng cây ma hoàng, Quy vĩ, Phụ tử, Thấu cốt thảo, Hồng hoa, Can khương, Quế chi, Ngưu tất, Bạch chỉ, Kinh giới, Phòng phong, Mộc qua, Sinh ngải nhung, Khương hoạt, Độc hoạt các vị lượng bằng nhau. Một lượng giấm đủ dùng, dùng giấm và nước bằng nhau, xào thuốc cho nước thuốc đặc lại, một nửa và một nửa dấm và nước, xào thuốc thành nước đặc, sau đó đun nóng Thiết sa (sắt sa khoáng) khuấy đều, khi sử dụng thêm một ít dấm vào trộn đều, cho vào túi vải vài phút, để nóng tự nhiên rồi chườm vào cổ cho nóng lên. Ngày chườm liên tục 1 đến 2 lần cho đến khi bệnh khỏi.
(2) Dùng Xuyên tiêu, Quế chi, Xuyên ô sống, Dao biên trúc, Điểu bất lạc, Phòng kỷ, Khương hoạt, Thạch xương bồ, Đương quy vĩ mỗi vị 90g, Hồng hoa, Tam thất, Nhũ hương, Một dược mỗi vị 45g, Tô mộc Kê huyết đằng mỗi vị 18g. Ngâm loại thuốc trên trong 20kg cồn 50% trong 10 đến 14 ngày, sau đó vớt ra để riêng. Ngâm nhiều lớp gạc với chất lỏng đã ngâm, đặt lên vùng bị ảnh hưởng, sau đó dùng máy sấy tóc làm nóng và xoay để nhiệt đều, tránh bị bỏng, mỗi lần điều trị kéo dài từ 15 đến 20 phút, 10 lần là một liệu trình.
Lương y Nguyễn văn Nghị
23/10/2023