Khái niệm
Táo bón có thể liên quan mật thiết đến trạng thái cảm xúc và hoạt động của hệ thần kinh. Tuy nhiên, cảm xúc thường không phải là nguyên nhân duy nhất, mà là một trong nhiều yếu tố cùng tác động đến chức năng đại tràng, trực tràng và phản xạ đại tiện.
Căng thẳng, lo âu, buồn phiền, uất ức, sợ hãi hoặc mất ngủ kéo dài có thể làm thay đổi nhu động ruột, cảm giác buồn đại tiện và sự phối hợp của cơ sàn chậu. Ở một số người, ruột vận động chậm lại, gây táo bón; ở người khác, đại tràng co bóp không đều, gây đau bụng, phân thành viên nhỏ hoặc táo bón xen kẽ tiêu chảy.
Mối liên hệ giữa não và ruột
Não và đường tiêu hóa liên hệ với nhau thông qua hệ thần kinh trung ương, hệ thần kinh tự chủ, các dây thần kinh tại ruột, hormone và hệ miễn dịch. Mối liên hệ hai chiều này thường được gọi là trục não – ruột.
Khi tâm trạng thay đổi, hệ thần kinh tự chủ cũng thay đổi hoạt động. Điều này có thể ảnh hưởng đến:
Nhu động của dạ dày và ruột.
Lượng dịch tiết trong đường tiêu hóa.
Độ nhạy cảm của trực tràng.
Cảm giác đau và đầy bụng.
Sự co giãn của cơ thắt hậu môn.
Khả năng thư giãn cơ sàn chậu khi đại tiện.
Vì vậy, trạng thái tâm lý kéo dài có thể làm xuất hiện hoặc làm nặng thêm táo bón, đặc biệt ở người vốn có cơ địa ruột nhạy cảm.
Cảm xúc ảnh hưởng đến đại tiện như thế nào?
Làm giảm cảm giác buồn đại tiện
Khi tập trung quá mức vào công việc, căng thẳng hoặc lo âu, người bệnh có thể không chú ý đến tín hiệu đại tiện hoặc thường xuyên trì hoãn việc đi ngoài.
Nếu hiện tượng này kéo dài, trực tràng dần giảm nhạy cảm với áp lực của phân. Phân đã xuống nhưng không tạo cảm giác mót rõ, dẫn đến táo bón do thói quen.
Làm nhu động ruột chậm lại
Ở một số người, căng thẳng kéo dài làm hoạt động của hệ thần kinh giao cảm tăng lên, khiến nhu động và bài tiết của ruột giảm. Phân lưu lại lâu trong đại tràng, nước bị hấp thu nhiều và trở nên khô.
Gây co thắt và rối loạn vận động đại tràng
Ở người có ruột nhạy cảm, cảm xúc có thể làm đại tràng co bóp không điều hòa. Người bệnh có thể đau bụng, trướng bụng, mót đại tiện nhiều lần nhưng lượng phân ít, phân thành viên nhỏ hoặc táo bón xen kẽ tiêu chảy.
Làm cơ sàn chậu không thư giãn
Một số người khi lo lắng thường vô thức gồng bụng, siết mông hoặc co cơ hậu môn. Khi đại tiện, đáng lẽ cơ sàn chậu phải thư giãn thì lại co lại, khiến phân khó thoát ra ngoài.
Trường hợp này thường có biểu hiện:
Muốn đi nhưng không tống được phân.
Phân không nhất thiết khô.
Phải rặn lâu.
Cảm giác tắc ở hậu môn.
Đại tiện không hết.
Hội chứng ruột kích thích
Hội chứng ruột kích thích là một rối loạn tương tác giữa não và ruột. Bệnh không phải do tổn thương cấu trúc rõ ràng nhưng có thể gây đau bụng, trướng bụng và thay đổi đại tiện kéo dài.
Người bệnh có thể thuộc:
Thể táo bón.
Thể tiêu chảy.
Thể táo bón và tiêu chảy xen kẽ.
Căng thẳng, mất ngủ, thay đổi môi trường và một số thức ăn có thể làm triệu chứng bùng phát. Tuy nhiên, không nên quy mọi trường hợp táo bón liên quan đến cảm xúc cho hội chứng ruột kích thích khi chưa loại trừ các bệnh thực thể.
Nhận định của Trung y
Trong Trung y, cảm xúc thuộc phạm vi Thất tình 七情. Khi tình chí điều hòa, khí cơ lưu thông, công năng của tạng phủ cũng tương đối ổn định. Khi cảm xúc uất kết hoặc kéo dài quá mức, khí cơ có thể rối loạn và ảnh hưởng đến chức năng truyền đạo của Đại trường.
Tư lự thương Tỳ
Suy nghĩ, lo lắng và tư lự kéo dài làm tổn thương Tỳ khí.
Tỳ khí hư không đủ sức vận chuyển chất thải, khiến người bệnh muốn đại tiện nhưng không đủ lực đẩy. Phân có thể không quá khô, nhưng phải rặn nhiều và sau đại tiện rất mệt.
Khí uất thương Can
Giận dữ, uất ức, thất vọng và căng thẳng làm Can khí uất trệ.
Can chủ sơ tiết, có nhiệm vụ duy trì sự thông suốt của khí cơ. Khi Can khí không điều đạt, khí ở Hạ tiêu và Đại trường cũng bị ngăn trở, phân không thể đi xuống thuận lợi.
Kim quỹ dực có câu:
Khí nội trệ nhi vật bất hành 气内滞而物不行.
Nghĩa là khí ứ trệ bên trong thì các vật không thể vận hành.
Khí uất hóa hỏa
Can khí uất lâu ngày có thể hóa hỏa. Hỏa làm hao tân dịch, Đại trường mất sự nhu nhuận, khiến phân ngày càng khô cứng.
Do đó, táo bón do cảm xúc ban đầu có thể thiên về khí trệ, nhưng kéo dài có thể chuyển thành khí trệ kèm táo nhiệt hoặc Âm dịch hao tổn.
Nói tóm lại, cảm xúc có thể gây táo bón theo các cơ chế chính:
Can khí uất, Đại trường mất truyền tống.
Tỳ khí hư, ruột thiếu sức đẩy.
Khí uất hóa hỏa, tân dịch bị hao tổn.
Tinh thần căng thẳng làm phản xạ đại tiện và cơ sàn chậu rối loạn.
Biện chứng luận trị
Thể Can khí uất trệ
Triệu chứng
Muốn đại tiện nhưng khó đi; phân thành viên nhỏ hoặc đoạn ngắn, thường không quá khô; bụng trướng, đau tức, ợ hơi, hay thở dài; ngực sườn đầy tức; triệu chứng tăng khi lo âu hoặc tức giận; lưỡi có thể bình thường hoặc hai bên hơi đỏ; mạch huyền.
Chứng cơ
Can khí uất, khí cơ Đại trường không thông, phân không được truyền xuống.
Phép trị
Sơ Can, lý khí, đạo trệ, thông tiện.
Phương thang
Lục ma thang gia giảm.
Nếu phân khô, có thể phối hợp Hỏa ma nhân, Úc lý nhân hoặc Bá tử nhân.
Nếu khí uất hóa nhiệt, có thể gia Sơn chi tử, Hoàng cầm nhưng không nên dùng thuốc đắng lạnh kéo dài khi Tỳ khí yếu.
Thể Tỳ khí hư do tư lự
Triệu chứng
Phân không quá khô nhưng khó bài xuất; muốn đi nhưng không đủ sức; phải rặn lâu; sau đại tiện mệt, hơi thở ngắn; ăn kém, bụng đầy; sắc mặt nhợt; lưỡi nhạt, có dấu răng; mạch hư.
Chứng cơ
Tư lự làm tổn thương Tỳ khí. Tỳ không đủ sức vận chuyển, Đại trường thiếu động lực tống phân.
Phép trị
Kiện Tỳ, ích khí, nhuận tràng.
Phương thang
Hoàng kỳ thang gia giảm.
Nếu kèm khí hãm, bụng dưới nặng hoặc sa trực tràng, có thể dùng Bổ trung ích khí thang gia giảm.
Thể khí uất hóa nhiệt
Triệu chứng
Phân khô cứng; bụng đầy đau; dễ cáu; miệng khô hoặc đắng; hơi thở hôi; tiểu vàng; lưỡi đỏ, rêu vàng khô; mạch huyền sác.
Chứng cơ
Can khí uất lâu ngày hóa nhiệt, nhiệt làm hao tân dịch và khiến Đại trường khô táo.
Phép trị
Sơ Can, thanh nhiệt, nhuận tràng.
Phương thang
Có thể căn cứ chứng trạng sử dụng Ma tử nhân hoàn phối hợp các vị sơ Can, thanh nhiệt.
Không nên dùng phương công hạ mạnh kéo dài vì dễ làm tổn thương Tỳ khí và tân dịch.
Thể Huyết hư, tâm thần không yên
Triệu chứng
Táo bón kéo dài, phân khô; hồi hộp, chóng mặt, ngủ kém, hay lo lắng; sắc mặt nhợt; phụ nữ có thể kinh nguyệt ít; lưỡi nhạt; mạch tế sáp.
Chứng cơ
Huyết hư làm Đại trường mất sự nhu dưỡng, đồng thời Tâm và Can không được nuôi dưỡng đầy đủ nên tinh thần khó yên.
Phép trị
Dưỡng huyết, an thần, nhuận táo, thông tiện.
Phương thang
Nhuận trường hoàn gia giảm.
Có thể phối hợp các vị dưỡng Tâm, an thần nhẹ tùy chứng trạng, nhưng không nên chỉ tập trung an thần mà bỏ qua tình trạng Huyết hư và đại tiện.
Châm cứu
Các huyệt thường dùng gồm:
Can-3 Thái xung: Sơ Can, lý khí.
Nội quan Tâm bào-6: Điều khí, an thần, hòa Vị.
Thần môn Tâm-7: Dưỡng Tâm, an thần.
Đởm-34 Dương lăng tuyền: Điều Can khí.
Nhâm-6 Khí hải: Điều khí Hạ tiêu.
Vị-25 Thiên khu: Điều hòa Đại trường.
Tỳ-15 Đại hoành: Thông điều Đại trường.
Tam tiêu-6 Chi câu: Điều khí Tam tiêu, hỗ trợ thông tiện.
Vị-36 Túc tam lý: Kiện Tỳ, ích khí, điều hòa trường vị.
Tỳ-6 Tam âm giao: Kiện Tỳ, dưỡng huyết, điều Can Thận.
Bàng quang-18 Can du: Điều Can.
Bàng quang-20 Tỳ du: Kiện Tỳ.
Thể khí trệ thường dùng phép bình bổ bình tả hoặc tả nhẹ.
Thể khí hư và Huyết hư dùng phép bổ.
Châm cứu chỉ có vai trò hỗ trợ và cần được thực hiện bởi người có chuyên môn.
Nguyên tắc điều trị
Giải thích và trấn an đúng mức
Người bệnh cần hiểu rằng cảm xúc có thể ảnh hưởng đến ruột, nhưng triệu chứng không phải do tưởng tượng hoặc cố ý tạo ra.
Việc giải thích rõ cơ chế não – ruột giúp giảm lo sợ và tránh việc người bệnh quá tập trung vào số lần đại tiện.
Tuy nhiên, không nên quy mọi triệu chứng cho tâm lý. Táo bón mới xuất hiện, có máu trong phân, sụt cân hoặc đau bụng kéo dài vẫn cần được kiểm tra.
Điều chỉnh nếp sinh hoạt
Duy trì giờ ngủ và giờ ăn tương đối đều.
Hạn chế thức khuya.
Tránh làm việc liên tục trong thời gian quá dài.
Có thời gian nghỉ ngơi thực sự, không vừa nghỉ vừa tiếp tục xử lý công việc.
Tập thói quen đại tiện
Nên ngồi đại tiện vào một thời điểm tương đối cố định, thường sau bữa sáng.
Khi có cảm giác buồn đại tiện, không nên trì hoãn.
Không ngồi quá lâu và không cố rặn khi chưa có nhu cầu.
Điều hòa tinh thần
Các biện pháp có thể lựa chọn gồm:
Đi bộ.
Tập thở chậm.
Thư giãn cơ.
Thiền nhẹ.
Nghe nhạc.
Làm vườn.
Duy trì sở thích cá nhân.
Trao đổi và giải quyết những vấn đề trong gia đình hoặc công việc.
Không cần cố ép bản thân phải luôn vui vẻ. Trọng điểm là nhận biết cảm xúc, giảm tình trạng căng thẳng kéo dài và tìm phương pháp điều hòa phù hợp.
Tâm lý trị liệu
Khi lo âu, trầm cảm hoặc căng thẳng kéo dài ảnh hưởng rõ đến sinh hoạt, người bệnh có thể được hỗ trợ bằng tư vấn tâm lý hoặc các liệu pháp tâm lý phù hợp.
Đối với hội chứng ruột kích thích, một số phương pháp tập trung vào mối liên hệ não – ruột có thể giúp giảm đau, lo âu và cải thiện thói quen đại tiện.
Thuốc an thần và thuốc tâm thần
Không nên tự dùng Diazepam hoặc các thuốc an thần để chữa táo bón. Những thuốc này có thể gây buồn ngủ, lệ thuộc, té ngã ở người cao tuổi và tương tác với nhiều thuốc khác.
Rilmenidine là thuốc điều trị tăng huyết áp, không phải thuốc an thần thông thường để điều trị táo bón do lo âu.
Nếu có rối loạn lo âu, trầm cảm hoặc bệnh tâm thần, thuốc phải được bác sĩ chuyên khoa lựa chọn. Một số thuốc tâm thần còn có thể gây hoặc làm nặng táo bón, vì vậy cần theo dõi chức năng đại tiện trong quá trình điều trị.
Điều chỉnh chế độ ăn
Nên ăn đủ bữa và tăng dần các thực phẩm giàu chất xơ như rau, trái cây, đậu, yến mạch và ngũ cốc nguyên hạt.
Uống đủ nước theo thể trạng.
Không nên tăng quá nhiều chất xơ nếu bụng trướng rõ, vì ở người có hội chứng ruột kích thích, một số loại chất xơ có thể làm đầy hơi tăng.
Người bệnh có thể ghi lại thức ăn và triệu chứng để xác định những yếu tố làm bệnh nặng hơn.
Vận động
Đi bộ và vận động nhẹ giúp điều hòa hệ thần kinh, giảm căng thẳng và thúc đẩy nhu động ruột.
Vận động đều đặn thường có lợi hơn việc tập quá nặng trong một thời gian ngắn.
Xoa bóp và vật lý trị liệu
Có thể xoa bụng nhẹ theo chiều đi của đại tràng nếu không có đau bụng cấp.
Người có cảm giác tắc ở hậu môn, phải rặn nhiều hoặc phân không khô có thể cần phục hồi chức năng cơ sàn chậu và phản hồi sinh học.
Thuốc nhuận tràng
Thuốc nhuận tràng cần được lựa chọn căn cứ vào loại táo bón.
Không nên tự dùng thường xuyên các thuốc kích thích mạnh như Phan tả diệp hoặc thuốc xổ chỉ vì táo bón tăng khi căng thẳng.
Magnesi sulfat không phải lựa chọn phù hợp để tự dùng thường xuyên, đặc biệt ở người cao tuổi hoặc người có bệnh thận.
Dầu parafin uống có nguy cơ sặc vào phổi, giảm hấp thu một số chất và không nên sử dụng tùy tiện.
Phenolphthalein không còn là thuốc thích hợp để tự điều trị táo bón vì các lo ngại về độ an toàn.
Các thuốc làm tăng thể tích phân, thuốc nhuận tràng thẩm thấu hoặc những thuốc khác có thể được bác sĩ lựa chọn tùy trường hợp.
Táo bón ở người mắc bệnh tâm thần
Người mắc bệnh tâm thần có nguy cơ táo bón do nhiều yếu tố:
Ít vận động.
Ăn uống thất thường.
Uống ít nước.
Giảm khả năng nhận biết hoặc trình bày triệu chứng.
Tác dụng của thuốc chống loạn thần, thuốc chống trầm cảm và thuốc kháng cholinergic.
Trong một số trường hợp, táo bón có thể trở nên nặng và dẫn đến ứ phân hoặc tắc ruột. Vì vậy, cần theo dõi số lần đại tiện, tình trạng chướng bụng, đau bụng, nôn và lượng thức ăn.
Không nên tự dùng các phương thuốc có Đại hoàng, Mang tiêu, Thần sa hoặc các thuốc Trung y mạnh để xử lý táo bón ở người đang kích động, hoang tưởng hoặc rối loạn ý thức.
Các biểu hiện tâm thần cấp như kích động mạnh, ảo giác, hoang tưởng, mất ngủ hoàn toàn, hành vi nguy hiểm hoặc không ăn uống cần được xử trí cấp cứu chuyên khoa tâm thần. Táo bón trong trường hợp này chỉ là một vấn đề phối hợp, không phải trọng tâm điều trị duy nhất.
Dấu hiệu cần đi khám
Táo bón kéo dài và không cải thiện khi tinh thần ổn định hơn.
Táo bón mới xuất hiện ở người trước đây đại tiện bình thường.
Máu trong phân hoặc phân đen.
Sụt cân hoặc thiếu máu.
Đau bụng kéo dài.
Bụng chướng, nôn hoặc bí trung tiện.
Táo bón xen kẽ tiêu chảy kéo dài.
Phải dùng tay hỗ trợ đại tiện.
Người đang dùng thuốc chống loạn thần hoặc thuốc kháng cholinergic nhiều ngày không đại tiện.
Có lú lẫn, sốt, đau bụng hoặc nôn.
Có lo âu, trầm cảm hoặc ý nghĩ tự làm hại bản thân.
Nói tóm lại
Táo bón có thể liên quan mật thiết đến cảm xúc thông qua trục não – ruột, hệ thần kinh tự chủ, phản xạ đại tiện và sự phối hợp của cơ sàn chậu.
Theo Trung y, tư lự có thể làm tổn thương Tỳ khí, còn uất ức và căng thẳng làm Can khí uất trệ. Khí uất lâu ngày có thể hóa hỏa, làm hao tân dịch và khiến phân khô.
Điều trị cần phối hợp điều chỉnh cảm xúc, khôi phục thói quen đại tiện, ăn uống hợp lý, vận động và sử dụng thuốc đúng loại. Không nên chỉ dùng thuốc an thần hoặc thuốc xổ để che lấp triệu chứng.
Trường Xuân biên soạn