KHÁI QUÁT
Suy giãn tĩnh mạch chi dưới là tình trạng các tĩnh mạch nông ở chân giãn dài, ngoằn ngoèo, nổi thành búi hoặc thành những nốt phồng dưới da. Bệnh thường xuất hiện ở cẳng chân, quanh mắt cá và mặt trong chi dưới.
Người bệnh có thể cảm thấy chân nặng, mỏi, căng tức, đau âm ỉ, phù vào cuối ngày, ngứa da hoặc chuột rút ban đêm. Khi bệnh kéo dài, da vùng cẳng chân có thể sẫm màu, khô cứng, xuất hiện chàm, viêm tĩnh mạch, huyết khối hoặc loét lâu lành.
Trong Trung y, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi Cân lựu 筋瘤, Mạch tý 脈痹, Huyết ứ 血瘀, Thấp chẩn 濕疹 và Liêm sang 臁瘡. Bệnh cơ thường lấy Khí hư, Khí trệ và Huyết ứ làm căn bản; Thấp nhiệt, Hàn thấp và độc tà là những yếu tố làm bệnh nặng thêm.
NHỮNG NGƯỜI DỄ MẮC BỆNH
Người phải đứng lâu
Giáo viên, nhân viên bán hàng, tiếp viên, thợ cắt tóc và những người làm việc trong tư thế đứng lâu dễ bị máu dồn xuống chi dưới, làm áp lực tĩnh mạch tăng kéo dài.
Người ngồi lâu, ít vận động
Ngồi lâu làm cơ bắp chân ít co bóp, chức năng bơm máu của cơ giảm, máu tĩnh mạch trở về tim kém thuận lợi.
Phụ nữ mang thai
Tử cung lớn dần có thể chèn ép tĩnh mạch vùng chậu; đồng thời thay đổi nội tiết làm thành tĩnh mạch dễ giãn. Vì vậy, bệnh thường xuất hiện hoặc nặng hơn trong thai kỳ.
Người có khối u vùng chậu
Khối u hoặc hạch lớn chèn ép tĩnh mạch chậu làm cản trở đường hồi lưu của máu từ chi dưới.
Người từng bị huyết khối tĩnh mạch sâu
Huyết khối làm tổn thương van tĩnh mạch sâu và cản trở dòng máu trở về, khiến áp lực ở hệ tĩnh mạch nông tăng lên.
Người từng bị chấn thương hoặc phẫu thuật vùng chân
Chấn thương thành tĩnh mạch và van tĩnh mạch có thể làm chức năng hồi lưu suy giảm.
Người cao tuổi
Thành tĩnh mạch và van tĩnh mạch dần mất tính đàn hồi theo tuổi tác, làm máu dễ chảy ngược và ứ đọng.
Người có thành tĩnh mạch yếu bẩm sinh
Ở những người này, tĩnh mạch dễ giãn khi áp lực tăng, sau đó trở nên dài, ngoằn ngoèo và nổi thành búi.
BỆNH CƠ THEO TRUNG Y
Khí hư không nhiếp Huyết
Khí có tác dụng thúc đẩy và giữ Huyết vận hành trong mạch. Khi Tỳ khí hoặc Trung khí suy, lực nâng giữ và vận hành không đủ, Huyết dễ đình trệ ở phần dưới cơ thể.
Người bệnh thường có chân nặng, mỏi, phù nhẹ, tĩnh mạch nổi rõ hơn khi đứng lâu, kèm mệt mỏi, đoản hơi và sắc mặt nhợt.
Khí trệ làm Huyết ứ
Đứng lâu, ngồi lâu hoặc ít vận động khiến Khí cơ ở chi dưới không thông. Khí trệ lâu ngày làm Huyết hành chậm, hình thành Huyết ứ, khiến tĩnh mạch nổi ngoằn ngoèo, đau tức hoặc đau cố định.
Huyết ứ trở lạc
Huyết ứ ngăn trở mạch lạc là bệnh cơ quan trọng nhất của bệnh. Khi Huyết ứ kéo dài, da vùng cẳng chân có thể tím sẫm, khô cứng, đau cố định, tĩnh mạch nổi thành búi và dễ hình thành loét.
Thấp nhiệt hạ chú
Tỳ vận hóa suy, Thấp tà nội sinh; hoặc vùng chân bị viêm, nhiễm trùng, chàm và tiết dịch lâu ngày, Thấp uất hóa Nhiệt. Thấp nhiệt rót xuống chi dưới làm da đỏ, nóng, ngứa, rỉ dịch và loét.
Hàn thấp ngưng trệ
Ở người Dương khí hư, chân lạnh, gặp lạnh đau tăng, phù và da tím nhạt, Hàn thấp có thể ngăn trở kinh mạch, làm tuần hoàn càng kém.
Độc tà và huyết lạc tổn thương
Vết loét kéo dài, nhiễm trùng, chảy dịch hoặc có mùi hôi cho thấy Thấp nhiệt đã hóa Độc, làm tổn thương cơ nhục và huyết lạc.
Nói tóm lại, bệnh lấy Khí hư và Huyết ứ làm gốc; Khí trệ, Thấp nhiệt, Hàn thấp và độc tà là những yếu tố thúc đẩy bệnh tiến triển.
BIẾN CHỨNG THƯỜNG GẶP
Loét cẳng chân
Loét thường xuất hiện ở phía trên mắt cá trong hoặc một phần ba dưới cẳng chân. Da quanh vết loét thường sẫm màu, cứng, mỏng, ngứa và dễ tổn thương.
Viêm tĩnh mạch nông
Tĩnh mạch có thể trở nên đỏ, đau, nóng và cứng như một sợi dây dưới da.
Huyết khối
Máu ứ đọng lâu ngày dễ hình thành huyết khối. Nếu chân đột ngột sưng đau nhiều, cần loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu.
Chảy máu
Thành tĩnh mạch giãn rất mỏng. Một va chạm nhẹ hoặc gãi mạnh có thể làm tĩnh mạch vỡ và chảy máu nhiều.
Chàm do ứ trệ tĩnh mạch
Da chân ngứa, khô, đỏ, bong vảy hoặc rỉ dịch. Gãi làm tổn thương da và tăng nguy cơ loét.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Biểu hiện
Tĩnh mạch chi dưới nổi ngoằn ngoèo, sắc xanh tím, chân căng tức hoặc đau, triệu chứng tăng khi đứng lâu, giảm khi nằm và kê cao chân; có thể kèm da sẫm màu.
Lưỡi: Tím ám hoặc có điểm ứ.
Mạch: Huyền Sáp.
Bệnh cơ
Khí cơ không thông, Huyết vận đình trệ, mạch lạc bị ngăn trở.
Phép trị
Hành Khí hoạt Huyết, hóa ứ thông lạc.
Phương thang
Huyết phủ trục ứ thang, tên Việt là Thang Trục ứ Huyết phủ, gia giảm.
Phương dược trình bày hàng ngang: Sinh địa hoàng, Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Ngưu tất, Sài hồ, Chỉ xác, Cát cánh, Chích cam thảo.
Gia giảm
Đau cố định rõ: Gia Đan sâm, Diên hồ sách, Uất kim.
Phù chân: Gia Phục linh, Trạch tả, Xa tiền tử.
Tĩnh mạch nổi nhiều, sắc tím: Gia Kê huyết đằng, Đan sâm.
Người hư yếu: Giảm Đào nhân, Hồng hoa; gia Hoàng kỳ, Đảng sâm.
Huyệt vị
Tỳ-10 Huyết hải, Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-6 Tam âm giao, Can-3 Thái xung, Vị-36 Túc tam lý, Đởm-34 Dương lăng tuyền.
Biểu hiện
Tĩnh mạch nổi rõ, chân mỏi nặng, phù vào chiều tối, đi lại hoặc đứng lâu thì mệt; sắc mặt nhợt, đoản hơi, lười nói. Vết loét lâu lành, mô hạt nhợt, dịch tiết trong.
Lưỡi: Nhạt hoặc nhạt tím.
Mạch: Tế Nhược hoặc Hư Sáp.
Bệnh cơ
Khí hư không đủ thúc đẩy Huyết, Huyết ứ đình trệ; Khí Huyết không nuôi dưỡng da thịt nên vết loét khó lành.
Phép trị
Bổ Khí hoạt Huyết, hóa ứ thông lạc, sinh cơ.
Phương thang
Bổ dương hoàn ngũ thang, tên Việt là Thang Bổ dương hoàn ngũ, gia giảm.
Phương dược trình bày hàng ngang: Hoàng kỳ, Đương quy vĩ, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Địa long; có thể gia Đảng sâm, Bạch truật, Ngưu tất.
Gia giảm
Phù nhiều: Gia Phục linh, Trạch tả.
Ăn kém, đại tiện lỏng: Gia Sơn dược, Bạch truật, Sa nhân.
Vết loét lâu lành: Gia Bạch cập, Đương quy, Kê huyết đằng.
Đau nhiều: Gia Diên hồ sách, Đan sâm.
Huyệt vị
Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Tỳ-6 Tam âm giao, Tỳ-10 Huyết hải, Bàng quang-20 Tỳ du, Bàng quang-17 Cách du.
Biểu hiện
Chân sưng nặng, da đỏ hoặc sẫm, nóng, ngứa, có chàm, rỉ dịch hoặc loét; dịch tiết vàng, có thể có mùi, vùng quanh loét đau và nóng.
Lưỡi: Đỏ, rêu vàng nhớt.
Mạch: Nhu Sác hoặc Hoạt Sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt hạ chú, ngăn trở mạch lạc, nung nấu da thịt, làm chàm và loét.
Phép trị
Thanh Nhiệt trừ Thấp, hoạt Huyết thông lạc, giải độc.
Phương thang
Tứ diệu tán, tên Việt là Bột Tứ diệu, gia vị hoạt Huyết.
Phương dược trình bày hàng ngang: Thương truật, Hoàng bá, Ý dĩ nhân, Ngưu tất, Sinh địa hoàng, Xích thược, Mẫu đơn bì, Đan sâm; có thể gia Kim ngân hoa, Liên kiều, Thổ phục linh.
Gia giảm
Ngứa và rỉ dịch nhiều: Gia Khổ sâm, Bạch tiên bì, Địa phu tử.
Sưng nóng, đau rõ: Gia Kim ngân hoa, Bồ công anh, Liên kiều.
Huyết ứ rõ: Gia Đan sâm, Kê huyết đằng, Uất kim.
Đại tiện lỏng: Giảm thuốc khổ Hàn, gia Phục linh, Bạch truật.
Huyệt vị
Tỳ-9 Âm lăng tuyền, Tỳ-10 Huyết hải, Vị-40 Phong long, Can-3 Thái xung, Đởm-34 Dương lăng tuyền, Tỳ-6 Tam âm giao.
Biểu hiện
Chân lạnh, nặng, đau âm ỉ, gặp lạnh tăng, chườm ấm dễ chịu, da tím nhạt, phù mềm, tĩnh mạch nổi nhưng không nóng đỏ.
Lưỡi: Nhạt, rêu trắng nhớt.
Mạch: Trầm Trì hoặc Trầm Khẩn.
Bệnh cơ
Dương khí suy, Hàn Thấp đình tụ, mạch lạc co rút và Huyết hành không thông.
Phép trị
Ôn kinh tán Hàn, hóa Thấp, hoạt Huyết thông lạc.
Phương thang
Đương quy tứ nghịch thang, tên Việt là Thang Đương quy Tứ nghịch, gia giảm.
Phương dược trình bày hàng ngang: Đương quy, Quế chi, Bạch thược, Tế tân, Thông thảo, Đại táo, Chích cam thảo; có thể gia Ngưu tất, Đan sâm, Kê huyết đằng.
Chú ý
Chỉ dùng khi có biểu hiện Hàn rõ. Không dùng thuốc ôn Nhiệt trong trường hợp da đỏ nóng, rỉ dịch và rêu vàng nhớt.
Biểu hiện
Vết loét sâu, quanh vết loét đỏ, sưng, nóng, đau, dịch tiết vàng đặc hoặc có mùi, có thể kèm sốt, mệt mỏi.
Lưỡi: Đỏ, rêu vàng dày hoặc nhớt.
Mạch: Sác hoặc Hoạt Sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt lâu ngày hóa Độc, làm tổn thương da thịt và huyết lạc.
Phép trị
Thanh Nhiệt giải độc, lợi Thấp, hoạt Huyết sinh cơ.
Phương thang
Ngũ vị tiêu độc ẩm, tên Việt là Nước uống Ngũ vị tiêu độc, hợp Tứ diệu tán, tên Việt là Bột Tứ diệu, gia giảm.
Chú ý
Vết loét nhiễm trùng cần được làm sạch, đánh giá mạch máu, kiểm soát đường huyết và sử dụng kháng sinh khi có chỉ định. Không chỉ dùng thuốc uống Trung y.
ĐIỀU TRỊ BÊN NGOÀI
Vết loét cần được rửa và băng bằng vật liệu y tế phù hợp. Không đắp lá, bột thuốc, dầu tự chế hoặc những chất chưa được vô khuẩn trực tiếp lên vết thương hở.
Da quanh vùng giãn tĩnh mạch nên được dưỡng ẩm để giảm khô và ngứa. Tránh gãi làm trầy da.
Không xoa bóp mạnh trực tiếp lên búi tĩnh mạch đang đau, đỏ, cứng hoặc nghi có huyết khối.
Châm cứu không nên thực hiện trực tiếp vào búi tĩnh mạch, vùng da viêm, loét hoặc nhiễm trùng.
ĐIỀU DƯỠNG VÀ PHÒNG NGỪA
Tránh đứng hoặc ngồi bất động quá lâu. Sau mỗi khoảng thời gian làm việc nên đi lại và vận động cổ chân.
Khi nghỉ ngơi, có thể kê cao chân hơn mức tim để hỗ trợ máu tĩnh mạch trở về.
Thường xuyên thực hiện động tác gập duỗi cổ chân, nâng gót, đi bộ nhẹ và co duỗi bắp chân.
Vớ áp lực y khoa có thể giúp giảm phù và cải thiện hồi lưu tĩnh mạch. Loại và mức áp lực cần được lựa chọn phù hợp, nhất là khi người bệnh có bệnh động mạch ngoại biên.
Kiểm soát cân nặng để giảm áp lực lên chi dưới.
Tránh mặc quần áo quá chật ở vùng eo, bẹn và đùi.
Bảo vệ da chân, tránh va chạm, bỏng, côn trùng cắn và gãi mạnh.
Không ngâm chân trong nước quá nóng vì nhiệt làm tĩnh mạch giãn thêm.
Người mang thai có thể nằm nghiêng trái, kê cao chân và dùng vớ áp lực theo hướng dẫn chuyên môn.
Không nhất thiết phải đổi nghề ngay khi mắc bệnh. Trước hết nên thay đổi tư thế làm việc, bố trí thời gian nghỉ, vận động chân và sử dụng vớ áp lực phù hợp.
CHÚ Ý
Tĩnh mạch nổi ngoằn ngoèo không chỉ là vấn đề thẩm mỹ. Khi có phù, đau, biến đổi da hoặc loét, cần được khám chuyên khoa mạch máu.
Chân đột ngột sưng to một bên, đau căng, nóng đỏ có thể là huyết khối tĩnh mạch sâu, cần đi khám khẩn cấp.
Nếu vỡ tĩnh mạch và chảy máu, cần nằm xuống, nâng cao chân và ép trực tiếp lên chỗ chảy máu bằng gạc sạch; sau đó đến cơ sở y tế.
Không xoa bóp mạnh chân khi nghi có huyết khối.
Trung y có thể hỗ trợ điều chỉnh Khí Huyết, Thấp nhiệt và quá trình lành vết loét, nhưng không thay thế vớ áp lực, chăm sóc vết thương, thuốc chống đông, can thiệp nội mạch hoặc phẫu thuật khi có chỉ định.
Trường Xuân biên soạn