Khái quát
Sỏi túi mật là tình trạng các thành phần trong dịch mật kết tinh, lắng đọng và hình thành sỏi trong lòng túi mật.
Nhiều người có sỏi nhưng không xuất hiện triệu chứng. Khi sỏi mắc ở cổ túi mật hoặc ống túi mật, dịch mật không thể thoát ra thuận lợi, túi mật co bóp mạnh và căng lên, từ đó gây đau quặn mật, viêm túi mật hoặc những biến chứng khác.
Sỏi túi mật và viêm túi mật có quan hệ mật thiết. Sỏi gây tắc nghẽn, ứ mật và viêm; ngược lại, viêm kéo dài làm thành phần dịch mật thay đổi, tế bào bong tróc và chất tiết viêm có thể trở thành cơ sở để sỏi tiếp tục hình thành.
Trong Trung y, bệnh thường được xem xét trong phạm vi các chứng:
Hiếp thống 脅痛.
Đởm trướng 膽脹.
Phúc thống 腹痛.
Vị quản thống 胃脘痛.
Hoàng đản 黃疸.
Âu thổ 嘔吐.
Bệnh vị chủ yếu ở Can và Đởm, đồng thời liên quan mật thiết với Tỳ, Vị và Tam tiêu. Bệnh cơ thường lấy Can Đởm khí trệ, Tỳ hư sinh thấp và thấp nhiệt uẩn kết làm nền tảng; lâu ngày đàm trọc và huyết ứ cùng kết, hình thành sỏi.
Bệnh cơ căn bản
Can Đởm khí trệ
Can chủ sơ tiết, Đởm chứa và bài tiết dịch mật. Khi Can khí không điều đạt, Đởm khí khó thông, dịch mật lưu hành không thuận.
Người bệnh thường đau tức hạ sườn phải, ngực bụng đầy, hay thở dài, ợ hơi, buồn nôn và triệu chứng tăng khi tinh thần căng thẳng.
Tỳ hư sinh thấp
Ăn uống thất thường, dùng quá nhiều thức béo ngọt hoặc ít vận động làm Tỳ mất kiện vận.
Thủy thấp không hóa, tích lại thành đàm trọc. Đàm thấp khiến dịch mật càng đặc, đồng thời làm khí cơ Can Đởm thêm trở ngại.
Thấp nhiệt uẩn ở Can Đởm
Thấp tích lâu ngày có thể hóa nhiệt. Rượu, thức ăn quá béo, nhiễm khuẩn và tình trạng ứ mật đều có thể làm thấp nhiệt tăng lên.
Thấp nhiệt làm dịch mật bài tiết không thông, gây đau hạ sườn, miệng đắng, buồn nôn, tiểu vàng, vàng da và rêu lưỡi vàng nhớt.
Khí trệ huyết ứ
Khí trệ lâu ngày làm huyết hành không thông. Những đợt đau và viêm tái diễn khiến huyết ứ lưu lại ở vùng Can Đởm.
Đau thường cố định, đau như châm, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết.
Đàm trọc và sỏi kết
Theo Trung y, sỏi thuộc loại bệnh lý hữu hình, thường hình thành sau một thời gian dài khí trệ, thấp nhiệt, đàm trọc và huyết ứ cùng tích tụ.
Vì vậy, điều trị không chỉ nhằm vào viên sỏi mà còn cần điều chỉnh chức năng sơ tiết của Can, vận hóa của Tỳ và sự lưu thông của khí huyết.
Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi
Ăn uống dư thừa
Ăn quá nhiều năng lượng, đường tinh luyện và mỡ động vật trong thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ sỏi cholesterol.
Theo Trung y, thức ăn béo ngọt dễ sinh thấp và đàm, làm Tỳ Vị bị trở ngại.
Ăn uống không đúng giờ
Bỏ bữa và nhịn ăn kéo dài làm dịch mật lưu lại lâu trong túi mật và dễ cô đặc hơn.
Tỳ Vị mất nhịp vận hóa cũng làm khí cơ Trung tiêu không điều hòa.
Béo phì và ít vận động
Béo phì làm tăng nguy cơ sỏi cholesterol. Ít vận động còn khiến khí cơ trì trệ và chuyển hóa suy giảm.
Giảm cân quá nhanh cũng có thể làm tăng khả năng hình thành sỏi, vì vậy không nên áp dụng chế độ nhịn đói cực đoan.
Mang thai và hormon
Thai kỳ và một số hormon có thể làm túi mật co bóp chậm hơn, đồng thời ảnh hưởng thành phần dịch mật.
Việc sử dụng thuốc hormon cần được đánh giá căn cứ từng người, không nên tự ý dùng hoặc ngừng thuốc.
Bệnh tan máu và bệnh gan
Một số bệnh tan máu, xơ gan và rối loạn chuyển hóa có thể làm tăng nguy cơ sỏi sắc tố.
Bệnh đường ruột
Tổn thương hoặc phẫu thuật đoạn cuối ruột non có thể làm giảm hấp thu acid mật, từ đó ảnh hưởng khả năng hòa tan cholesterol trong dịch mật.
Tình chí không điều
Căng thẳng không trực tiếp tạo thành sỏi, nhưng có thể làm Can khí uất, ảnh hưởng ăn uống, giấc ngủ và sự co bóp của đường tiêu hóa.
Điều dưỡng tình chí có ý nghĩa hỗ trợ, nhưng không nên quy nguyên nhân bệnh hoàn toàn cho trạng thái tinh thần.
Biểu hiện lâm sàng
Sỏi không triệu chứng
Nhiều người chỉ tình cờ phát hiện sỏi khi siêu âm kiểm tra sức khỏe.
Không phải mọi sỏi không triệu chứng đều cần phẫu thuật ngay.
Khó tiêu và đầy tức
Người bệnh có thể đầy bụng trên, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn hoặc khó chịu sau bữa ăn nhiều dầu mỡ.
Những biểu hiện này dễ bị nhầm với bệnh dạ dày.
Đau quặn mật
Cơn đau thường xuất hiện đột ngột ở vùng thượng vị hoặc hạ sườn phải, có thể lan lên vai phải hoặc sau lưng.
Đau thường kéo dài, kèm buồn nôn và nôn, có thể khởi phát sau một bữa ăn nhiều chất béo.
Viêm túi mật
Khi sỏi gây tắc và nhiễm khuẩn, người bệnh có thể sốt, đau tăng, ấn hạ sườn phải đau rõ và ăn uống giảm.
Biến chứng
Sỏi nhỏ có thể đi vào ống mật chủ, gây vàng da, viêm đường mật hoặc viêm tụy.
Viêm túi mật nặng có thể dẫn đến hoại tử hoặc thủng túi mật.
Biện chứng luận trị
Can Đởm khí trệ
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn phải, đau có tính di chuyển, ngực bụng đầy, hay thở dài, ợ hơi, buồn nôn, triệu chứng tăng khi tinh thần căng thẳng; lưỡi rêu mỏng, mạch huyền.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết, Đởm khí không thông, Vị khí không hòa.
Phép trị
Sơ Can lý khí, lợi Đởm, hòa Vị chỉ thống.
Phương thang
Sài Hồ Sơ Can Tán gia giảm.
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác, Bạch thược, Xuyên khung, Uất kim, Xuyên luyện tử, Cam thảo.
Đau rõ có thể gia Diên hồ sách.
Buồn nôn có thể gia Bán hạ chế, Trúc nhự.
Can Đởm thấp nhiệt
Biểu hiện
Đau hạ sườn phải, miệng đắng, ngán dầu mỡ, buồn nôn, tiểu vàng, táo bón, có thể sốt hoặc vàng da; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uẩn kết ở Can Đởm, dịch mật không thông.
Phép trị
Thanh nhiệt lợi thấp, sơ Can lợi Đởm.
Phương thang
Đại Sài Hồ Thang hoặc Nhân Trần Hao Thang gia giảm.
Sài hồ, Hoàng cầm, Bạch thược, Chỉ thực, Bán hạ chế, Nhân trần, Uất kim, Chi tử.
Đại hoàng chỉ được cân nhắc khi thực nhiệt và táo bón rõ.
Chú ý
Đau hạ sườn phải kèm sốt, rét run và vàng da có thể là viêm đường mật cấp. Đây là tình trạng cấp cứu, không được chỉ dùng thuốc thanh nhiệt hoặc bài thạch tại nhà.
Đàm thấp khí trệ
Biểu hiện
Bụng đầy, hạ sườn khó chịu, ăn kém, buồn nôn, cơ thể nặng nề, đại tiện thất thường; lưỡi rêu trắng hoặc vàng dày nhớt, mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ hư sinh đàm thấp, đàm khí trở trệ Can Đởm.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa đàm, lý khí lợi Đởm.
Phương thang
Ôn Đởm Thang hợp Hương Sa Lục Quân Tử Thang gia giảm.
Bán hạ chế, Trần bì, Phục linh, Trúc nhự, Chỉ thực, Đảng sâm, Bạch truật, Mộc hương, Sa nhân.
Có sỏi có thể gia Kim tiền thảo, Hải kim sa, Kê nội kim với mục đích hỗ trợ.
Can uất Tỳ hư
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn lúc nặng lúc nhẹ, triệu chứng tăng khi lo nghĩ, ăn ít, bụng đầy, phân lỏng hoặc khi lỏng khi táo; lưỡi nhạt to có dấu răng, mạch huyền nhược.
Bệnh cơ
Can khí uất phạm Tỳ, Tỳ mất vận hóa.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, điều hòa Mộc Thổ.
Phương thang
Tiêu Dao Tán hoặc Thống Tả Yếu Phương gia giảm.
Sài hồ, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Phòng phong, Mộc hương, Sa nhân.
Khí trệ huyết ứ
Biểu hiện
Đau cố định vùng hạ sườn, đau như châm, bệnh kéo dài, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ
Khí trệ lâu ngày, huyết ứ trở lạc.
Phép trị
Hành khí hoạt huyết, thông lạc chỉ thống.
Phương thang
Cách Hạ Trục Ứ Thang hoặc Huyết Phủ Trục Ứ Thang gia giảm.
Đan sâm, Uất kim, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung, Diên hồ sách, Chỉ xác.
Chú ý
Không tự dùng thuốc hoạt huyết mạnh khi có giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu, đang dùng thuốc chống đông hoặc chuẩn bị phẫu thuật.
Tỳ Vị khí hư
Biểu hiện
Bệnh kéo dài, ăn ít, mệt mỏi, bụng đầy sau ăn, phân lỏng, sắc mặt nhợt vàng; lưỡi nhạt có dấu răng, mạch nhu nhược.
Bệnh cơ
Tỳ Vị suy, vận hóa không đủ, thấp trọc khó hóa.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị, hóa thấp.
Phương thang
Hương Sa Lục Quân Tử Thang gia giảm.
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Bán hạ chế, Mộc hương, Sa nhân, Cam thảo.
Can âm, Can huyết bất túc
Biểu hiện
Đau âm ỉ kéo dài, miệng khô, mất ngủ, mắt khô, cơ thể gầy, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế.
Bệnh cơ
Bệnh lâu làm Can âm, Can huyết suy, Can lạc mất nhu dưỡng.
Phép trị
Dưỡng huyết nhu Can, tư âm, điều khí.
Phương thang
Nhất Quán Tiễn hoặc Tứ Vật Thang gia giảm.
Sinh địa, Bắc sa sâm, Mạch môn, Câu kỷ tử, Đương quy, Bạch thược, Uất kim.
Các vị thường dùng
Kim tiền thảo
Thanh nhiệt lợi thấp, lợi Đởm.
Có thể hỗ trợ trong thể thấp nhiệt, nhưng không bảo đảm làm tan hoặc đẩy được sỏi túi mật.
Hải kim sa
Thanh lợi thấp nhiệt, thường phối hợp trong các chứng sỏi.
Không nên dùng liều lớn kéo dài khi Tỳ Vị hư hoặc chức năng thận suy giảm.
Kê nội kim
Tiêu thực hóa tích, kiện vận Tỳ Vị và thường được dùng trong các chứng kết tụ.
Uất kim
Hành khí giải uất, hoạt huyết, lợi Đởm và hỗ trợ thoái hoàng.
Nhân trần
Thanh lợi thấp nhiệt, lợi Đởm, thoái hoàng.
Sài hồ
Sơ Can và điều đạt khí cơ Thiếu dương.
Đại hoàng
Thông phủ và thanh nhiệt mạnh.
Không nên dùng để gây tiêu chảy nhiều với mục đích “tống sỏi”.
Giới hạn của phép bài thạch
Sỏi túi mật khó tự bài xuất vì ống túi mật rất nhỏ, thường chỉ có đường kính vài milimét và có cấu tạo cong, hẹp.
Khả năng bài sỏi càng thấp khi:
Viên sỏi lớn.
Sỏi nhiều viên.
Túi mật chứa đầy sỏi.
Ống túi mật hẹp hoặc tắc.
Thành túi mật viêm, xơ hóa.
Túi mật mất chức năng co bóp.
Sỏi chứa nhiều calci.
Cố kích thích túi mật co bóp trong những trường hợp này có thể làm sỏi mắc kẹt, gây viêm túi mật, viêm đường mật hoặc viêm tụy.
Vì vậy, “lợi Đởm bài thạch” trong Trung y cần được hiểu là hỗ trợ khí cơ và sự lưu thông dịch mật ở những trường hợp thích hợp, không phải bảo đảm mọi viên sỏi đều được đưa ra ngoài.
Chế độ ăn
Ăn đúng giờ
Không nên thường xuyên bỏ bữa hoặc nhịn đói kéo dài.
Ăn uống đúng giờ giúp duy trì nhịp bài tiết dịch mật và hạn chế dịch mật lưu lại quá lâu.
Không ăn quá no
Bữa ăn quá lớn, đặc biệt nhiều dầu mỡ, có thể làm túi mật co bóp mạnh và khởi phát đau.
Nên chia khẩu phần thành các bữa vừa phải.
Chất béo
Người có cơn đau sau thức ăn béo nên hạn chế món chiên rán, mỡ động vật và các bữa quá nhiều chất béo.
Không cần kiêng hoàn toàn chất béo trong thời gian dài.
Có thể dùng lượng vừa phải dầu thực vật, cá và những nguồn chất béo không bão hòa, căn cứ khả năng dung nạp.
Sau cắt túi mật
Sau cắt túi mật, gan vẫn tạo ra dịch mật và dịch mật chảy trực tiếp xuống ruột.
Trong thời gian đầu, một số người có thể đầy bụng hoặc tiêu chảy khi ăn nhiều mỡ. Nên bắt đầu bằng bữa nhỏ, ít dầu rồi tăng dần.
Không phải mọi người đều phải kiêng chất béo trong nhiều năm.
Protein
Nên bảo đảm đủ protein từ cá, thịt nạc, trứng, sữa và các sản phẩm từ đậu.
Không nên ăn quá nhiều thịt mỡ hoặc nội tạng động vật.
Chất xơ
Rau, trái cây nguyên quả, các loại đậu và ngũ cốc nguyên hạt giúp duy trì đại tiện và kiểm soát cân nặng.
Nên tăng từ từ để tránh đầy hơi.
Sữa
Không có căn cứ chắc chắn để khẳng định uống sữa nguyên kem trước khi ngủ có thể phòng sỏi mật.
Người thừa cân, mỡ máu cao hoặc đau sau thức ăn béo không nên cố dùng sữa nguyên kem để kích thích túi mật.
Điều trị hiện đại và vai trò Trung y
Sỏi không triệu chứng
Nhiều người có thể được theo dõi mà chưa cần phẫu thuật ngay.
Việc xử trí cần căn cứ tuổi, triệu chứng, kích thước sỏi, tình trạng túi mật, bệnh nền và nguy cơ biến chứng.
Không nên chỉ căn cứ việc có đái tháo đường hoặc một ngưỡng kích thước sỏi để tự quyết định phẫu thuật.
Sỏi gây triệu chứng
Cắt túi mật nội soi thường được cân nhắc khi người bệnh có đau quặn mật tái diễn, viêm túi mật hoặc biến chứng.
Trung dược không thể sửa chữa túi mật đã mất chức năng hoặc ngăn chắc chắn cơn viêm tái phát.
Thuốc làm tan sỏi
Ursodeoxycholic acid chỉ thích hợp với một số trường hợp được lựa chọn kỹ, thường là sỏi cholesterol nhỏ, túi mật còn chức năng và ống túi mật thông.
Điều trị kéo dài, hiệu quả không phải lúc nào cũng đạt và sỏi có thể tái phát.
Không tự mua thuốc làm tan sỏi để sử dụng.
Tán sỏi
Tán sỏi ngoài cơ thể từng được áp dụng cho một số trường hợp chọn lọc, nhưng hiện không phải phương pháp thường quy cho phần lớn sỏi túi mật.
Các phương pháp chọc túi mật qua da, soi và lấy sỏi chỉ được thực hiện trong những tình huống chuyên biệt tại cơ sở chuyên khoa.
Vai trò Trung y
Trung y có thể hỗ trợ:
Sơ Can điều khí.
Cải thiện đầy bụng và buồn nôn.
Kiện Tỳ, hỗ trợ tiêu hóa.
Giảm đau nhẹ ở giai đoạn ổn định.
Điều dưỡng thể trạng sau can thiệp.
Không nên xem Trung y, nhĩ châm hoặc điện trị liệu huyệt tai là phương pháp thay thế cắt túi mật khi đã có chỉ định.
Hội chứng túi mật – tim
Cơn đau quặn mật có thể gây phản ứng thần kinh tự chủ, làm người bệnh hồi hộp, đau ngực hoặc rối loạn nhịp.
Tuy nhiên, đau ngực ở người trung niên và cao tuổi phải được đánh giá như một vấn đề tim mạch trước tiên.
Không nên cho rằng mọi đau ngực khi có sỏi mật đều là phản xạ từ túi mật.
Không tự dùng atropin, pethidin hoặc thuốc chống loạn nhịp tại nhà.
Ung thư túi mật và sỏi
Sỏi túi mật có liên quan với ung thư túi mật, nhưng phần lớn người có sỏi không phát triển thành ung thư.
Nguy cơ cần được đánh giá kỹ hơn khi có:
Khối hoặc polyp túi mật.
Thành túi mật dày không đều.
Túi mật sứ.
Sỏi lớn tồn tại lâu.
Sụt cân hoặc vàng da không giải thích được.
Không nên làm người bệnh quá lo lắng chỉ vì phát hiện một viên sỏi thông thường.
Sỏi tự biến mất
Một số trường hợp kiểm tra lại không còn thấy sỏi có thể do:
Sỏi nhỏ di chuyển khỏi túi mật.
Sỏi cholesterol nhỏ dần.
Kết quả siêu âm trước đó nhầm với bùn mật, polyp hoặc nếp gấp.
Việc sỏi đi khỏi túi mật không phải lúc nào cũng là kết quả tốt, vì sỏi có thể mắc ở ống mật chủ và gây biến chứng.
Không nên chờ sỏi tự mất khi đã có đau, sốt hoặc vàng da.
Phòng ngừa
Duy trì cân nặng phù hợp.
Giảm cân từ từ, không nhịn ăn cực đoan.
Ăn đúng giờ và không ăn quá no.
Hạn chế đường tinh luyện, thức ăn chiên và mỡ động vật.
Duy trì vận động đều đặn.
Điều trị bệnh tan máu, bệnh gan và bệnh đường ruột theo chỉ định.
Không tự dùng hormon hoặc thuốc làm tan sỏi.
Giữ tinh thần tương đối ổn định và ngủ đủ.
Dấu hiệu cần khám sớm
Đau hạ sườn phải tái diễn.
Đau hoặc đầy bụng sau bữa ăn.
Buồn nôn hoặc nôn.
Ăn kém kéo dài.
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
Vàng mắt hoặc vàng da.
Dấu hiệu cần cấp cứu
Đau hạ sườn phải dữ dội kéo dài.
Sốt cao hoặc rét run.
Vàng da tăng nhanh.
Nôn liên tục.
Đau lan ra lưng kèm nôn nhiều.
Bụng cứng hoặc đau lan rộng.
Huyết áp giảm, chóng mặt hoặc ngất.
Lú lẫn hoặc ngủ gà.
Đau ngực, khó thở hoặc vã mồ hôi.
Kết luận
Theo Trung y, sỏi túi mật hình thành trên cơ sở Can Đởm khí trệ, Tỳ hư sinh thấp, thấp nhiệt, đàm trọc và huyết ứ kết tụ lâu ngày.
Điều trị cần căn cứ từng thể để vận dụng sơ Can lợi Đởm, thanh nhiệt lợi thấp, kiện Tỳ hóa đàm, hành khí hoạt huyết hoặc dưỡng huyết nhu Can.
Trung y có thể hỗ trợ cải thiện khí cơ, tiêu hóa và một số triệu chứng nhẹ, nhưng sỏi lớn, sỏi nhiều, túi mật mất chức năng hoặc viêm tái phát thường khó đạt kết quả bằng phép bài thạch.
Nói tóm lại, người có sỏi không triệu chứng cần được đánh giá và theo dõi phù hợp; người có đau tái diễn hoặc biến chứng cần được xem xét điều trị chuyên khoa. Khi có sốt, vàng da hoặc đau dữ dội, không nên trì hoãn can thiệp vì hy vọng sỏi tự tan hoặc tự bài xuất.
Trường Xuân biên soạn