Khái luận
Trong Trung y, “khởi cư” (起居) chỉ toàn bộ nếp sinh hoạt hằng ngày, bao gồm giờ ngủ thức, lao động và nghỉ ngơi, vận động và tĩnh dưỡng, ăn uống, tình chí, tắm gội, đại tiểu tiện, sinh hoạt vợ chồng, thích ứng với thời tiết và sự điều hòa thân tâm.
Bệnh mạch vành thuộc phạm vi Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Đoản khí (短气) và Hư lao (虚劳). Bệnh cơ phần nhiều thuộc bản hư tiêu thực (本虚标实): Tâm khí, Tâm dương, khí âm hoặc Tâm huyết suy là gốc; khí trệ, huyết ứ, đàm trọc và hàn ngưng làm Tâm mạch không thông là ngọn.
Nếp sinh hoạt thất thường có thể làm khí huyết, âm dương và công năng tạng phủ mất điều hòa. Lao lực quá mức làm hao khí; thức khuya làm tổn thương âm huyết; ít vận động làm khí trệ huyết ứ; ăn uống thất thường làm Tỳ Vị suy và sinh đàm thấp; gặp lạnh làm hàn ngưng mạch lạc; căng thẳng kéo dài làm Can khí uất; phòng lao quá độ làm Thận khí suy. Những yếu tố ấy có thể cùng tồn tại, khiến Tâm mạch ngày càng mất sự thông lợi.
Nguyên tắc sinh hoạt căn bản
Sinh hoạt cần giữ sự điều hòa giữa động và tĩnh, làm việc và nghỉ ngơi, thức và ngủ, ăn và tiêu, nóng và lạnh.
Không nên nằm ngồi bất động quá lâu, nhưng cũng không vận động vượt sức.
Không nên thức khuya kéo dài, nhưng cũng không nằm ngủ quá nhiều làm khí cơ trì trệ.
Không nên ăn quá no, quá muộn hoặc ăn uống thất thường.
Không nên để cơ thể đột ngột tiếp xúc với lạnh hoặc nóng quá mức.
Không nên cố làm việc khi đã xuất hiện ngực tức, hồi hộp, khó thở, chóng mặt hoặc mệt bất thường.
Ngủ nghỉ và Tâm mạch
Ban đêm là thời gian âm huyết quy tàng, Tâm thần được nghỉ ngơi và khí huyết điều hòa trở lại. Nếu thường xuyên thức khuya, ngủ ít hoặc ngủ chập chờn, âm huyết dễ hao, Tâm thần không yên, Can dương dễ động, hư hỏa dễ quấy nhiễu Tâm.
Người bệnh có thể xuất hiện hồi hộp, mất ngủ, bứt rứt, miệng khô, ngực khó chịu và mệt mỏi vào ban ngày. Khi giấc ngủ không đủ, khả năng chịu đựng lao động và vận động cũng giảm.
Nên giữ giờ đi ngủ và thức dậy tương đối ổn định. Trước khi ngủ cần giảm ánh sáng mạnh, hạn chế điện thoại, tránh tin tức gây kích động và không làm việc trí óc quá căng thẳng.
Không nên uống nhiều cà phê, trà đặc, nước tăng lực hoặc rượu vào chiều tối. Bữa tối không nên quá no hoặc quá muộn.
Nếu mất ngủ kéo dài, không nên tự dùng rượu, thuốc ngủ hoặc thuốc an thần. Cần xem xét tình trạng Tâm thần, Tâm huyết, Tâm Thận và đàm hỏa để điều chỉnh phù hợp.
Thức dậy vào buổi sáng
Sau khi tỉnh giấc, không nên bật dậy quá nhanh. Có thể nằm yên một lúc, cử động nhẹ bàn tay, bàn chân, co duỗi tứ chi, sau đó từ từ ngồi dậy.
Ngồi bên mép giường trong một khoảng ngắn, chờ đầu óc tỉnh táo và cơ thể ổn định rồi mới đứng lên. Người lớn tuổi, người hay chóng mặt hoặc huyết áp dao động càng cần thận trọng.
Mùa lạnh nên mặc đủ ấm trước khi ra khỏi giường. Không nên lập tức ra ngoài trời lạnh, rửa mặt bằng nước quá lạnh hoặc vận động mạnh ngay khi vừa thức dậy.
Có thể uống một ít nước ấm nếu không có yêu cầu hạn chế dịch. Người có suy tim, phù hoặc bệnh Thận cần căn cứ hướng dẫn riêng về lượng nước.
Lao lực và nghỉ ngơi
“Lao tắc khí hao” (劳则气耗), lao lực quá mức làm hao khí. Tâm khí suy thì huyết mạch vận hành không đủ lực, người bệnh dễ hồi hộp, thở ngắn, mệt và tức ngực khi gắng sức.
Lao lực không chỉ là làm việc nặng. Làm việc trí óc liên tục, áp lực kéo dài, thức khuya nhiều ngày hoặc cố hoàn thành công việc khi cơ thể đã mệt cũng đều làm hao khí.
Khi làm việc nên có khoảng nghỉ ngắn, thay đổi tư thế và thả lỏng vai ngực. Không nên ngồi liên tục nhiều giờ hoặc làm việc đến mức kiệt sức.
Nếu trong khi làm việc xuất hiện đau hoặc tức ngực, khó thở, vã mồ hôi, chóng mặt, hồi hộp rõ hoặc mệt bất thường, cần dừng lại. Không nên cố làm nốt công việc.
Sau biến cố Tâm mạch, mức độ lao động cần tăng dần, không nên trở lại công việc nặng quá sớm.
Vận động và tĩnh dưỡng
Ít vận động làm khí cơ trì trệ, huyết hành chậm, Tỳ vận hóa kém và đàm thấp dễ sinh. Vận động nhẹ, đều đặn giúp khí hành, huyết hành và tinh thần thư thái.
Người bệnh có thể lựa chọn đi bộ, thái cực quyền, Bát đoạn cẩm, dưỡng sinh nhẹ hoặc đạp xe chậm trên mặt phẳng khi tình trạng ổn định.
Vận động cần bắt đầu từ mức nhẹ, thời gian ngắn, sau đó tăng dần. Không nên đột ngột chạy nhanh, leo dốc, nâng vật nặng hoặc tập đến kiệt sức.
Khi vận động, hơi thở có thể nhanh hơn một chút nhưng vẫn nói chuyện được, không đau ngực, không chóng mặt và không vã mồ hôi lạnh thì mức vận động thường tương đối phù hợp.
Nếu xuất hiện ngực tức, đau ngực, khó thở, hồi hộp nhiều, choáng hoặc mệt lả, cần dừng ngay.
Không nên vận động mạnh ngay sau bữa ăn, khi thiếu ngủ, đang sốt, quá mệt hoặc thời tiết quá lạnh, quá nóng.
Dưỡng sinh
Dưỡng sinh cần lấy nhẹ nhàng, tự nhiên và đều đặn làm nguyên tắc. Sau khi tập, cơ thể nên thấy khoan khoái, hơi ấm, tinh thần dễ chịu và hơi thở điều hòa.
Không nên nín thở lâu, vận khí mạnh, gồng cơ hoặc cố tập đến vã mồ hôi nhiều. Người Tâm khí hư và khí âm lưỡng hư càng không nên làm hao khí, thương tân.
Thở chậm có thể thực hiện bằng cách ngồi thoải mái, thả lỏng vai, hít nhẹ qua mũi và thở ra tự nhiên, chậm hơn một chút. Không cần cố hít thật sâu.
Nếu tập thở làm chóng mặt, ngực nặng hoặc hồi hộp tăng thì nên dừng lại.
Thời tiết lạnh và Tâm mạch
Hàn có tính ngưng trệ và co rút. Khi gặp lạnh đột ngột, khí huyết vận hành chậm, Tâm mạch dễ bị co rút, đặc biệt ở người vốn có Tâm dương hư, hàn ngưng hoặc huyết ứ.
Mùa lạnh cần giữ ấm vùng đầu, cổ, ngực, lưng và bàn chân. Không nên ra ngoài quá sớm khi trời rét hoặc đi từ phòng ấm ra ngoài lạnh mà không mặc đủ ấm.
Khi thức dậy nên vận động nhẹ trong phòng trước khi ra ngoài. Người đau ngực gặp lạnh tăng cần đặc biệt tránh gió lạnh trực tiếp.
Không nên tắm nước lạnh, ngâm mình trong nước lạnh hoặc uống nhiều nước đá nếu có hàn tượng rõ.
Thời tiết nóng
Nóng quá mức làm mồ hôi ra nhiều, khí và tân dịch cùng hao. Người bệnh có thể mệt, hồi hộp, khát, chóng mặt hoặc huyết áp dao động.
Không nên phơi nắng lâu, tập luyện giữa trời nóng, tắm hơi hoặc xông hơi quá mức. Khi ra nhiều mồ hôi cần nghỉ ở nơi thoáng mát và bổ sung nước phù hợp với tình trạng cơ thể.
Người khí âm lưỡng hư nên tránh vận động đến mức ra mồ hôi quá nhiều. Người suy tim hoặc bệnh Thận cần căn cứ hướng dẫn riêng về lượng nước.
Tắm gội
Không nên tắm ngay sau khi ăn no, uống rượu, vận động mạnh hoặc khi đang quá mệt.
Nước quá lạnh làm mạch co; nước quá nóng làm mồ hôi ra nhiều, khí huyết dao động và dễ chóng mặt. Nên dùng nước ấm vừa phải và không tắm quá lâu.
Phòng tắm cần tránh gió lùa nhưng không nên quá kín, ngột ngạt. Người lớn tuổi, từng choáng ngất hoặc có rối loạn nhịp nên để người thân biết khi tắm.
Nếu đang tắm mà xuất hiện ngực tức, khó thở, chóng mặt hoặc vã mồ hôi bất thường, cần dừng lại và gọi người hỗ trợ.
Ăn uống và bữa ăn quá no
Ăn quá no làm Tỳ Vị vận hóa quá tải, khí cơ Trung tiêu bị trở, đàm trọc dễ sinh. Đàm trọc bế vùng ngực thì ngực nặng, khó thở, buồn nôn và hồi hộp.
Người bệnh nên ăn đúng giờ, mỗi bữa vừa đủ, nhai chậm. Bữa tối nên nhẹ hơn bữa trưa và không ăn quá muộn.
Không nên dùng nhiều thức ăn béo ngọt, chiên rán, rượu hoặc đồ quá mặn. Người đàm thấp rõ càng cần hạn chế ăn khuya và thức ăn khó tiêu.
Sau khi ăn nên nghỉ nhẹ, có thể đi lại chậm rãi. Không nên lập tức tắm, tập thể dục, làm việc nặng, tranh cãi hoặc nằm ngủ ngay.
Nếu thường xuyên tức ngực sau bữa ăn, không nên mặc nhiên cho là do dạ dày.
Đại tiện
Táo bón làm trọc khí không giáng, khí cơ vùng ngực bụng không thông. Rặn mạnh còn làm khí huyết dao động đột ngột, bất lợi cho người có Tâm mạch suy yếu.
Nên duy trì giờ đi tiêu tương đối ổn định, ăn rau củ, ngũ cốc và thức ăn có chất xơ phù hợp. Vận động nhẹ cũng giúp đại tiện thông thuận.
Khi đi tiêu không nên nín thở và cố rặn lâu. Sau khi đại tiện không nên đứng bật dậy quá nhanh.
Không tự dùng thuốc xổ mạnh kéo dài. Người có suy tim, bệnh Thận hoặc đang hạn chế nước cần hỏi người có chuyên môn về cách điều chỉnh táo bón.
Sinh hoạt vợ chồng
Sinh hoạt vợ chồng làm nhịp tim, hơi thở và khí huyết vận hành tăng lên trong một thời gian. Người bệnh ổn định, hoạt động thường ngày không gây đau ngực hoặc khó thở có thể sinh hoạt điều độ theo sức.
Không nên sinh hoạt khi đang quá mệt, sau ăn no, sau uống rượu, sau tắm nóng, khi mất ngủ nhiều, đau ngực, hồi hộp hoặc khó thở.
Theo Trung y, phòng lao quá mức làm hao Thận tinh và tổn thương Tâm Thận. Người Tâm Thận hư, khí âm lưỡng hư hoặc dương hư cần chú ý tiết chế.
Sau biến cố Tâm mạch hoặc khi bệnh chưa ổn định, cần chờ thể lực hồi phục và có hướng dẫn phù hợp.
Nếu trong hoặc sau sinh hoạt xuất hiện đau ngực, khó thở, chóng mặt, vã mồ hôi hoặc tim đập loạn, cần dừng lại và xử trí kịp thời.
Thuốc lá
Khói thuốc làm Phế khí bị tổn thương, hao khí thương âm, sinh đàm nhiệt và làm huyết mạch bất lợi. Người hút thuốc lâu ngày thường có đàm trọc, huyết ứ và khí cơ không thông.
Bỏ thuốc là một phần rất quan trọng trong điều dưỡng bệnh Tâm mạch. Không nên chỉ giảm số lượng mà tiếp tục duy trì thói quen hút thuốc kéo dài.
Cũng cần tránh hít khói thuốc thụ động thường xuyên.
Rượu
Rượu có tính cay nóng, dễ sinh thấp nhiệt, động huyết, hao khí và làm Tâm thần không yên. Uống rượu còn có thể làm mất ngủ, tim đập nhanh và ảnh hưởng đến việc dùng thuốc.
Không nên dùng rượu thuốc với mục đích “hoạt huyết thông mạch”. Người đang dùng thuốc ảnh hưởng đến đông máu càng phải thận trọng.
Cà phê, trà đặc và nước tăng lực
Một số người dùng cà phê hoặc trà vẫn không có biểu hiện bất thường, nhưng người dễ hồi hộp, mất ngủ, run tay hoặc tim đập nhanh nên giảm lượng dùng.
Không nên dùng cà phê đậm, trà đặc hoặc nước tăng lực vào buổi tối. Khi nhận thấy các thức uống này làm ngực khó chịu hoặc tim đập nhanh, nên tránh.
Xem truyền hình và sử dụng thiết bị điện tử
Không nên xem liên tục quá lâu. Cứ sau một khoảng thời gian nên đứng dậy, cử động nhẹ, nhìn ra xa hoặc nhắm mắt nghỉ.
Người dễ hồi hộp, mất ngủ hoặc huyết áp dao động nên hạn chế các chương trình quá kích động, tin tức gây căng thẳng hoặc nội dung khiến tinh thần bức bối.
Buổi tối không nên xem điện thoại, máy tính hoặc truyền hình quá sát giờ ngủ. Ánh sáng mạnh và kích thích tinh thần làm Tâm thần khó an.
Làm việc và nhịp sống
Người bệnh không nên luôn sống trong trạng thái vội vàng, cạnh tranh, tranh cãi hoặc ôm quá nhiều công việc cùng lúc.
Nên chia công việc thành từng phần, ưu tiên việc quan trọng, nghỉ xen kẽ và không cố duy trì năng suất cao khi cơ thể đã mệt.
Điều hòa công việc không có nghĩa là ngừng mọi hoạt động, mà là làm việc có chừng mực để khí không hao quá mức và Tâm thần có thời gian phục hồi.
Tình chí
Giận dữ làm khí nghịch; lo nghĩ làm khí kết; buồn bực kéo dài làm Can khí uất. Khí cơ vùng ngực không thông thì huyết hành cũng bất lợi.
Khi cảm thấy căng thẳng, có thể tạm dừng công việc, ngồi yên, thở chậm, đi bộ nhẹ hoặc trò chuyện với người thân.
Không nên tiếp tục tranh luận khi đã xuất hiện hồi hộp hoặc ngực tức. Cũng không nên âm thầm chịu đựng lo âu, mất ngủ hoặc trầm uất kéo dài.
Du lịch và đi xa
Người bệnh có thể đi xa khi tình trạng ổn định và các hoạt động thường ngày không gây đau ngực, khó thở hoặc choáng.
Trước chuyến đi cần chuẩn bị đủ thuốc đang dùng, danh sách thuốc, thông tin bệnh và số liên hệ cần thiết. Không nên thay đổi giờ uống thuốc vì lịch trình.
Lịch trình nên vừa phải, có thời gian nghỉ, không tham quan quá dày và không mang hành lý quá nặng.
Khi ngồi lâu trên xe hoặc máy bay, nên cử động bàn chân, cổ chân và đứng dậy đi lại khi an toàn.
Không nên uống nhiều rượu, thức khuya hoặc ăn uống thất thường khi đi xa.
Nếu phải đến nơi rất lạnh, rất nóng, vùng cao hoặc cần leo dốc nhiều, nên cân nhắc khả năng chịu đựng của cơ thể.
Không nên đi xa khi đau ngực chưa ổn định, suy tim tăng, nhịp tim rối loạn rõ hoặc mới xuất hiện biến cố Tâm mạch.
Đi máy bay
Người bệnh ổn định, sinh hoạt thường ngày không có khó chịu rõ thường có thể đi máy bay, nhưng cần chuẩn bị thuốc và giữ nếp sinh hoạt tương đối điều độ.
Không nên cố đi máy bay khi đang đau ngực thường xuyên, khó thở, suy tim mất ổn định, rối loạn nhịp nặng hoặc huyết áp chưa điều hòa.
Trong chuyến bay nên tránh rượu, không mang hành lý quá nặng, vận động nhẹ chân và không bỏ liều thuốc.
Sinh hoạt theo từng thể bệnh
Đàm trọc bế trở
Biểu hiện gồm ngực nặng, thân thể nặng nề, bụng lớn, đàm nhiều, ăn kém và rêu lưỡi dày nhầy.
Nên giảm ngồi lâu, đi bộ nhẹ đều đặn, ăn thanh đạm, không ăn khuya, giảm béo ngọt và rượu. Sau ăn không nằm ngay.
Khí trệ huyết ứ
Biểu hiện gồm ngực sườn đầy tức, hay thở dài, đau ngực liên quan đến căng thẳng, lưỡi tối hoặc có điểm ứ.
Nên điều hòa cảm xúc, tránh giận dữ, nghỉ xen kẽ khi làm việc, đi bộ hoặc tập thái cực quyền nhẹ. Không nên để uất ức kéo dài.
Hàn ngưng Tâm mạch
Biểu hiện gồm đau ngực gặp lạnh tăng, sợ lạnh, tay chân lạnh và được ấm thì dễ chịu.
Cần giữ ấm, tránh nước lạnh, tránh ra ngoài quá sớm trong mùa rét và không vận động mạnh khi cơ thể chưa ấm.
Tâm khí hư
Biểu hiện gồm hồi hộp, thở ngắn, mệt, tự ra mồ hôi và vận động thì triệu chứng tăng.
Nên sinh hoạt điều độ, tránh lao lực, nghỉ xen kẽ, vận động nhẹ từng bước và ăn đủ chất. Không nên kiêng khem quá mức.
Khí âm lưỡng hư
Biểu hiện gồm mệt, hồi hộp, miệng khô, ra mồ hôi, ngủ kém và nóng nhẹ lòng bàn tay bàn chân.
Cần ngủ đủ, tránh nắng nóng, không thức khuya, không tập đến ra nhiều mồ hôi và hạn chế thức ăn cay nóng, rượu.
Tâm dương hư
Biểu hiện gồm sợ lạnh, tay chân lạnh, thở ngắn, hồi hộp, mệt và có thể phù nhẹ.
Cần giữ ấm, tránh lạnh, vận động nhẹ để khí huyết lưu thông nhưng không tắm lâu hoặc gắng sức. Khi phù, tiểu ít hoặc khó thở khi nằm cần chú ý đặc biệt.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu có thể hỗ trợ điều khí, thông mạch, an thần và cải thiện hồi hộp, mất ngủ, tức ngực nhẹ khi tình trạng đã ổn định.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Tâm-7 Thần môn (神门), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-14 Quyết âm du (厥阴俞), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Vị-40 Phong long (丰隆), Can-3 Thái xung (太冲), Bàng quang-17 Cách du (膈俞), Nhâm-6 Khí hải (气海) và Nhâm-4 Quan nguyên (关元).
Ngực tức, hồi hộp có thể phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Bàng quang-15 Tâm du và Tâm-7 Thần môn.
Đàm trọc, ngực nặng phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý và Tâm bào-6 Nội quan.
Khí trệ do căng thẳng phối Can-3 Thái xung, Đại trường-4 Hợp cốc, Tâm bào-6 Nội quan và Nhâm-17 Chiên trung.
Khí hư, mệt mỏi phối Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-15 Tâm du và Tâm bào-6 Nội quan.
Huyết ứ phối Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Không dùng châm cứu để trì hoãn việc xử trí khi đau ngực cấp, khó thở, vã mồ hôi, choáng hoặc tim đập loạn rõ.
Bấm huyệt
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Nhâm-17 Chiên trung, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao, Can-3 Thái xung và Vị-40 Phong long.
Không ấn mạnh vùng trước tim. Nếu triệu chứng tăng hoặc không giảm, không nên tiếp tục day bấm để chờ đợi.
Cứu ngải
Cứu ngải chỉ phù hợp với thể hàn ngưng hoặc dương hư, biểu hiện sợ lạnh, tay chân lạnh, lưỡi nhạt và mạch trầm trì.
Có thể cân nhắc Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn và Bàng quang-23 Thận du.
Không cứu khi miệng khô, lưỡi đỏ, rêu vàng, bốc hỏa, tim đập nhanh, huyết áp không ổn định hoặc đau ngực cấp.
Ăn uống điều dưỡng
Ăn uống nên thanh đạm nhưng đủ chất, đúng giờ, không quá no và không quá đói. Hạn chế mỡ động vật, nội tạng, thức ăn chiên rán, bánh ngọt, thức ăn nhanh, rượu và đồ quá mặn.
Nên dùng rau củ nấu chín, ngũ cốc, các loại đậu, cá, đậu phụ và thịt nạc lượng vừa phải.
Thể khí hư có thể dùng cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Thể đàm trọc có thể dùng cháo Ý dĩ nhân Sơn tra: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Sơn tra (山楂), gạo tẻ. Người đau dạ dày hoặc Tỳ Vị hư hàn nên dùng Sơn tra ít.
Thể khí âm hư có thể dùng cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Thể hàn ngưng có thể dùng cháo Sinh khương Thông bạch: Sinh khương (生姜), Thông bạch (葱白), gạo tẻ. Người âm hư, miệng khô, lưỡi đỏ không nên dùng nhiều.
Chú ý về thuốc hoạt huyết
Tam thất (三七), Đan sâm (丹参), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Nhũ hương (乳香) và Một dược (没药) đều có thể ảnh hưởng đến huyết hành.
Không nên tự dùng nhiều vị hoạt huyết hoặc dùng kéo dài, đặc biệt khi đang sử dụng thuốc chống đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu.
Những điều nên làm
Giữ giờ ngủ thức tương đối ổn định.
Làm việc và nghỉ ngơi xen kẽ.
Vận động nhẹ, đều đặn và vừa sức.
Ăn đúng giờ, không ăn quá no.
Giữ ấm khi trời lạnh.
Duy trì đại tiện thông thuận.
Giảm căng thẳng và tránh giận dữ kéo dài.
Mang đủ thuốc khi đi xa.
Chú ý những thay đổi bất thường của sức chịu đựng.
Những điều không nên làm
Không thức khuya kéo dài.
Không làm việc hoặc tập luyện quá sức.
Không tắm nước quá lạnh hoặc quá nóng.
Không ăn quá no rồi vận động mạnh hoặc tắm ngay.
Không rặn mạnh khi đại tiện.
Không hút thuốc hoặc dùng rượu thuốc để thông mạch.
Không sinh hoạt vợ chồng khi quá mệt, đau ngực hoặc khó thở.
Không tự ngừng thuốc đang sử dụng.
Không tự phối hợp nhiều vị hoạt huyết.
Không xem nhẹ đau ngực, khó thở, vã mồ hôi, choáng hoặc tim đập loạn.
Chú ý
Bài viết trình bày nguyên tắc sinh hoạt và điều dưỡng theo Trung y. Khi xuất hiện đau ngực dữ dội hoặc kéo dài, đau lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ, hàm hoặc vùng thượng vị, kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất, sắc mặt tái xám hoặc tay chân lạnh, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời.
Không dùng nghỉ ngơi, xoa bóp, thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Kết luận
Sinh hoạt hằng ngày có quan hệ mật thiết với sự ổn định của Tâm mạch. Ngủ nghỉ thất thường làm hao âm huyết; lao lực làm hao khí; ít vận động làm khí trệ huyết ứ; ăn quá no làm Tỳ sinh đàm; gặp lạnh làm hàn ngưng; căng thẳng làm Can khí uất; phòng lao quá mức làm Tâm Thận suy.
Điều dưỡng cần giữ nguyên tắc động tĩnh điều hòa, làm việc có nghỉ, ngủ thức đúng giờ, ăn uống vừa phải, vận động theo sức, giữ ấm, đại tiện thông thuận và tinh thần tương đối hòa hoãn.
Đàm trọc thì giảm béo ngọt và tăng vận động nhẹ; khí trệ huyết ứ thì điều thần, lý khí; hàn ngưng thì giữ ấm; Tâm khí hư thì tránh lao lực; khí âm lưỡng hư thì ngủ đủ và tránh ra nhiều mồ hôi; Tâm dương hư thì tránh lạnh và gắng sức.
Nói tóm lại, điều chỉnh sinh hoạt không phải là kiêng mọi hoạt động, mà là sắp xếp ăn, ngủ, làm việc, vận động và nghỉ ngơi phù hợp với sức chịu đựng của Tâm mạch.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp