Quách Bốc Lạc
Đường dây Tâm lý Trung Quốc

BỚT OTA VÀ BỚT ITO
Naevus of Ota and Ito
Bớt Ota còn gọi là bớt nâu xanh vùng khẩu cái trên. Năm 1938, bác sĩ người Nhật Bản Ota Masao là người đầu tiên báo cáo một cách hệ thống về bệnh này. Đây là tổn thương dạng dát màu xanh nâu, ảnh hưởng đến củng mạc và vùng da mặt do thần kinh sinh ba chi phối.
Bớt Ito còn gọi là bớt xanh nâu vùng mỏm cùng vai – cơ delta. Năm 1954, Ito mô tả một loại dát sắc tố tương tự bớt Ota, phân bố ở vai và cánh tay trên, thuộc khu vực do thần kinh trên đòn sau và thần kinh bì cánh tay ngoài chi phối.
NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ PHÁT BỆNH
Bớt Ota có thể có liên quan đến di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường.
Tại Trung Quốc, Lý Trường Hải từng báo cáo một gia đình gồm ba thế hệ, trong đó hai thế hệ mắc bớt Ota và người thuộc cả ba thế hệ đều có những dát sắc tố ở củng mạc, kết mạc.
Lâm Vô Châu báo cáo 50 trường hợp bớt Ota, trong đó có hai trường hợp có tiền sử gia đình. Cả 50 trường hợp đều phát bệnh trước 20 tuổi, phù hợp với đặc điểm của bệnh bẩm sinh. Tuy nhiên, cũng có học giả không đồng tình với nhận định này.
Tổn thương bớt Ota phần nhiều phân bố trong khu vực của nhánh thứ nhất và nhánh thứ hai thần kinh sinh ba.
Bớt Ito phân bố ở khu vực do thần kinh trên đòn sau và thần kinh bì cánh tay ngoài chi phối.
Đặc điểm phân bố theo đường thần kinh gợi ý rằng tế bào hắc tố có thể có nguồn gốc từ tổ chức thần kinh tại chỗ.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Bớt Ota và bớt Ito thường gặp ở người có làn da sẫm màu, chẳng hạn người phương Đông và người da đen.
Tỷ lệ mắc tại Nhật Bản khoảng 0,3–1,0%.
Khoảng 65% người bệnh đã có tổn thương ngay khi sinh; số còn lại phần nhiều xuất hiện trong khoảng từ 10–20 tuổi. Đôi khi bệnh khởi phát muộn hoặc xuất hiện trong thời kỳ mang thai.
Trong một cuộc kiểm tra sức khỏe trên 4.278 người tại khu vực Vũ Hán, phát hiện bảy trường hợp bớt Ota, tương ứng tỷ lệ 0,16%. Trong đó, bốn trường hợp đã có từ khi sinh, chiếm 57,1%.
Nữ giới mắc nhiều hơn nam giới.
Tổn thương da là những dát hoặc chấm có màu xanh nhạt, xanh xám, nâu xanh, xanh đen hoặc nâu vàng.
Màu ở giữa dát thường đậm, sau đó nhạt dần về phía bờ.
Đôi khi một số vùng của dát sắc tố hơi gồ lên, thậm chí xuất hiện những nốt nhỏ có kích thước từ hạt kê đến hạt đậu xanh.
Các chấm sắc tố thường tập trung thành từng nhóm, mật độ thưa dày không đều; hoặc ở giữa là một dát lớn, xung quanh phân bố nhiều chấm nhỏ.
Màu sắc tổn thương có thể đậm hơn sau khi phơi nắng, lao lực, trong kỳ kinh nguyệt hoặc thời kỳ mang thai.
Một số trường hợp tổn thương trở nên đậm màu và rộng hơn trong tuổi dậy thì.
Vị trí thường bị ảnh hưởng nhất là quanh hốc mắt, thái dương, trán, gò má và cánh mũi, tương ứng với khu vực phân bố của nhánh mắt và nhánh hàm trên của thần kinh sinh ba.
Tổn thương phần nhiều phân bố ở một bên, đôi khi xuất hiện hai bên, chiếm khoảng 10%.
Khoảng hai phần ba người bệnh có củng mạc cùng bên nhuộm màu xanh.
Kết mạc, giác mạc, mống mắt, đáy mắt, đĩa thị thần kinh, dây thần kinh thị giác, mỡ sau nhãn cầu và màng xương quanh hốc mắt cũng có thể bị ảnh hưởng.
Trong phân tích 100 trường hợp của Thẩm Lệ Ngọc, có 44% trường hợp xuất hiện dát sắc tố ở nhãn cầu.
Trong phân tích 50 trường hợp của Lâm Nguyên Châu, có 37 người đồng thời có tổn thương da và tổn thương mắt, chiếm 74%.
Ở người có tổn thương rộng, sắc tố còn có thể ảnh hưởng đến da đầu, tai, cổ, thân mình, chi trên và chi dưới.
Niêm mạc khoang miệng và mũi họng cũng có thể bị ảnh hưởng.
PHÂN LOẠI CỦA TANINO
1.1. Thể nhẹ vùng hốc mắt
Dát màu nâu nhạt, chỉ giới hạn ở mí mắt trên và mí mắt dưới.
1.2. Thể nhẹ vùng gò má
Dát màu nâu nhạt, chỉ giới hạn ở vùng xương gò má.
Tổn thương có màu xanh đậm đến nâu tím, phân bố ở mí mắt, xương gò má và gốc mũi.
Tổn thương có màu xanh đậm đến nâu, phân bố trong khu vực chi phối của nhánh thứ nhất và nhánh thứ hai thần kinh sinh ba.
Chiếm khoảng 5%.
Ngoài cách phân loại trên, Tanino tại Nhật Bản còn đề xuất cách chia như sau:
Tổn thương phân bố hai bên được chia thành:
Thể đối xứng, gồm thể trung tâm và thể bờ.
Thể không đối xứng.
Căn cứ vào màu sắc, bệnh được chia thành:
Thể màu nâu.
Thể màu xanh.
Căn cứ vào đặc điểm mô học, bệnh được chia thành:
Thể nông: Tế bào sắc tố nằm ở lớp nông của trung bì, trên lâm sàng phần nhiều có màu nâu.
Thể sâu: Tế bào sắc tố nằm ở lớp sâu của trung bì, phần nhiều có màu xanh tím.
Thể lan tỏa: Tế bào sắc tố phân bố trong toàn bộ chiều dày trung bì, phần nhiều có màu tím xanh.
Căn cứ vào độ tuổi khởi phát, bệnh được chia thành:
Thể khởi phát sớm: Xuất hiện trong vài năm đầu sau khi sinh.
Thể khởi phát muộn: Xuất hiện sau tuổi dậy thì.
BIẾN CHỨNG VÀ CÁC BỆNH KÈM THEO
Bớt Ota có thể đi kèm dát Mông Cổ tồn tại kéo dài, bớt Ito, bớt xanh và u mạch máu.
Cũng đã có báo cáo về tình trạng sắc tố tăng sinh làm tắc góc tiền phòng và gây tăng nhãn áp.
Một số trường hợp đi kèm điếc thần kinh, hội chứng co rút nhãn cầu, đục thủy tinh thể bẩm sinh cùng bên hoặc teo chi trên.
Bớt Ota tồn tại suốt đời, không tự thoái lui và thường không gây triệu chứng chủ quan.
Khả năng ác tính hóa rất hiếm. Trong y văn từng có báo cáo bớt Ota kèm u hắc tố ác tính ở mống mắt, màng mạch hoặc bớt xanh ác tính.
BỚT ITO
Bớt Ito thuộc cùng nhóm với bớt Ota. Ngoài vị trí phân bố khác nhau, biểu hiện lâm sàng và biến đổi bệnh lý của hai loại hoàn toàn giống nhau.
Bớt Ito chủ yếu phân bố ở một bên vai, bên cổ, vùng trên xương đòn và những khu vực khác do thần kinh trên đòn sau và thần kinh bì cánh tay ngoài chi phối.
Một số trường hợp có thể đồng thời xuất hiện bớt Ota cùng bên hoặc hai bên.
CHẨN ĐOÁN VÀ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Có thể chẩn đoán căn cứ vào màu sắc, sự phân bố của sắc tố và đặc điểm ảnh hưởng đến mắt.
Bệnh cần được phân biệt với dát Mông Cổ và bớt xanh.
Dát Mông Cổ
Dát Mông Cổ có ngay từ khi sinh, có khả năng tự thoái lui và không ảnh hưởng đến mắt hoặc niêm mạc.
Trên mô học, số lượng tế bào hắc tố trong trung bì ít hơn và nằm ở vị trí sâu hơn.
Bớt xanh
Bớt xanh biểu hiện thành sẩn hoặc nốt nhỏ màu xanh đen, thường xuất hiện ở mu bàn tay, mu bàn chân, mặt và vùng mông.
Trên mô học, các tế bào hắc tố tập trung thành từng đám.
ĐIỀU TRỊ
Do bớt Ota xuất hiện ở mặt và ảnh hưởng đến thẩm mỹ, nhiều phương pháp từng được nghiên cứu và áp dụng, gồm:
Ép bề mặt bằng đá khô.
Ép đá khô trong da.
Mài da kết hợp ép đá khô.
Ghép da.
Lột da.
Áp lạnh bằng nitơ lỏng.
Trang điểm che phủ.
Ba phương pháp đầu từng được sử dụng nhiều tại Nhật Bản.
Tại Trung Quốc cũng có nhiều báo cáo về điều trị bằng nitơ lỏng, với hiệu quả khác nhau.
Khoa Da liễu Bệnh viện Trường Hải, Thượng Hải từng sử dụng phương pháp mài da kết hợp áp lạnh bằng nitơ lỏng và ghi nhận kết quả tương đối tốt.
Tuy nhiên, các phương pháp trên đều có thể để lại tăng sắc tố, mất sắc tố, sẹo hoặc sẹo phì đại.
LASER RUBY Q-SWITCHED
Laser ruby Q-switched có bước sóng 694 nm, độ rộng xung 40 ns, đường kính điểm chiếu khoảng 5 mm và mật độ năng lượng từ 6–10 J/cm².
Khoảng cách giữa các lần điều trị từ 1–6 tháng, phần nhiều là 2–3 tháng.
Số lần điều trị từ 2–7 lần, phần nhiều khoảng bốn lần.
Theo tài liệu, mức năng lượng thường dùng ở người châu Á khoảng 7,5–8,5 J/cm²; ở người da trắng khoảng 8,5–10 J/cm².
Trong quá trình điều trị, người bệnh và người thực hiện đều phải bảo vệ mắt.
Sau thủ thuật, vùng điều trị được bôi thuốc mỡ kháng khuẩn. Phản ứng viêm thường giảm trong khoảng 4–6 ngày.
Cơ chế tác dụng là năng lượng laser tác động lên tế bào hắc tố, làm vỡ các melanosome và làm giảm hoạt động trong giai đoạn hình thành melanosome loại I và II.
Các melanosome đã vỡ sau đó được đại thực bào thu nhận và loại bỏ.
Laser xung có ưu điểm là thao tác tương đối đơn giản, ít để lại sẹo và ít gây mất sắc tố hơn các phương pháp phá hủy da trước đây.
Một báo cáo tại Nhật Bản cho biết 114 trường hợp bớt Ota được điều trị bằng laser ruby Q-switched đều có đáp ứng ở những mức độ khác nhau.
Laser alexandrite Q-switched có bước sóng 755 nm cũng được dùng điều trị bớt Ota với kết quả tương đối tốt, nhưng chi phí cao.
ĐIỀU TRỊ BẰNG TRUNG DƯỢC
Tài liệu cũng đề cập Trung dược có thể đạt một số hiệu quả nhất định.
Hồ Kiến Hoa từng báo cáo sử dụng “Tiêu thanh ẩm” điều trị 50 trường hợp bớt Ota, trong đó 10 trường hợp được ghi nhận khỏi, 34 trường hợp có hiệu quả rõ, sáu trường hợp có hiệu quả; tổng tỷ lệ được báo cáo là 88%.
Hứa Ái Nga thuộc Bệnh viện số 3 Hàng Châu cho rằng bớt Ota phát sinh do Thận khí tiên thiên bất túc, dẫn đến khí huyết thất điều và khí huyết ứ trệ, vì vậy áp dụng phép bổ Thận khí, hoạt huyết và lập phương Tiêu thanh ẩm.
Phương dược chủ yếu gồm: Sinh Hoàng kỳ, Đương quy, Xuyên khung, Bạch thược, Thục địa, Đào nhân, Hồng hoa.
Ba tháng là một liệu trình, thông thường dùng từ ba đến bốn liệu trình, đồng thời uống vitamin E và vitamin C.
Tác giả nhận xét rằng tổn thương có ngay từ khi sinh thường thoái giảm chậm hơn, tổn thương khởi phát muộn có xu hướng giảm nhanh hơn.
Người càng trẻ thì tốc độ giảm càng nhanh; tuổi càng lớn thì tốc độ giảm càng chậm.
Các số liệu trên xuất phát từ báo cáo cũ và không thay thế những nghiên cứu lâm sàng có đối chứng. Việc dùng thuốc Trung y hoặc vitamin kéo dài cần có sự đánh giá của bác sĩ.
VÌ SAO DƯƠNG CHÍ ĐƯỢC GỌI LÀ “THANH DIỆN THÚ”?
Dương Chí được gọi là “Thanh diện thú”, một mặt vì võ nghệ cao cường, mặt khác vì ở mí mắt trên, mí mắt dưới và gò má bên trái có một mảng sắc tố nâu lớn bằng bàn tay, khiến nửa mặt có màu xanh sẫm.
Tây y gọi tình trạng này là bớt nâu xanh vùng khẩu cái trên. Năm 1938, Ota tại Nhật Bản lần đầu báo cáo về bệnh, vì vậy bệnh còn gọi là bớt Ota.
Trung y gọi là Thanh ký liễm.
Tổn thương ảnh hưởng đến củng mạc và vùng da mặt cùng bên thuộc khu vực phân bố của thần kinh sinh ba, đặc trưng bởi các dát màu xanh xám.
Tỷ lệ mắc ở người Nhật tương đối cao, khoảng 0,3–1,0%; tại Trung Quốc ít gặp hơn.
BỚT NÂU XANH VÙNG GÒ MÁ
Naevus fusco-caeruleus zygomaticus
Đặc điểm chủ yếu của bệnh là những chấm sắc tố màu xám đen phân bố đối xứng ở hai bên gò má.
Bệnh từng được xem là một biến thể của bớt Ota hoặc rám má.
Trên thực tế, bệnh không quá hiếm gặp.
Theo một cuộc khảo sát tại Đài Loan trên 2.677 người, gồm 1.019 nam và 1.658 nữ là nhân viên bệnh viện, trường học và học sinh, tỷ lệ mắc ở nam là 0,2%, ở nữ là 1,21%.
NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ PHÁT BỆNH
Trong thời kỳ phát triển phôi thai, tế bào hắc tố di chuyển từ mào thần kinh đến biểu bì.
Do một nguyên nhân nào đó, tế bào không đi qua được vùng tiếp giáp giữa biểu bì và trung bì mà dừng lại trong trung bì, từ đó hình thành tổn thương.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Bệnh thường gặp ở nữ giới.
Theo các báo cáo, tỷ lệ nam và nữ khoảng 1:12,8 đến 1:17,7.
Tuổi phát bệnh phần nhiều từ 16–40. Một số người có tiền sử gia đình.
Tổn thương xuất hiện ở mặt, tuyệt đại đa số ở vùng gò má gần phía ngoài mí mắt dưới; một số ít có thể xuất hiện ở mí mắt hoặc cánh mũi.
Tổn thương là các dát sắc tố màu nâu xám, xám đen hoặc nâu đen, đường kính khoảng 1–5 mm, có hình tròn, hình bầu dục hoặc không đều, ranh giới tương đối rõ.
Số lượng không giống nhau, có thể từ vài chấm đến vài chục chấm, trung bình khoảng 10–20 chấm.
Phần lớn phân bố đối xứng ở hai bên.
Mắt và niêm mạc khoang miệng không bị ảnh hưởng.
Người bệnh không có triệu chứng chủ quan.
BỆNH LÝ
Biểu bì bình thường.
Biến đổi chủ yếu nằm ở phần trên của trung bì, đặc biệt là vùng dưới nhú bì.
Giữa các sợi collagen phân bố rải rác những tế bào hắc tố nhỏ, hình thoi; trục dài của tế bào song song với sợi collagen và phản ứng nhuộm DOPA dương tính.
CHẨN ĐOÁN VÀ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Thông thường có thể chẩn đoán căn cứ vào biểu hiện lâm sàng, nhưng cần phân biệt với các bệnh sau:
Phần lớn phân bố một bên, dọc theo vùng chi phối của nhánh mắt và nhánh hàm trên thần kinh sinh ba.
Bệnh khởi phát sớm, phần nhiều có ngay từ khi sinh hoặc xuất hiện trước một đến hai tuổi.
Tổn thương là những mảng sắc tố hòa nhập với nhau, thường kèm tổn thương ở mắt hoặc niêm mạc khoang miệng.
Về bệnh lý, trong trung bì có nhiều tế bào hắc tố hơn và trục dài của tế bào không nhất thiết song song với sợi collagen.
Tổn thương là những chấm màu vàng nâu, số lượng tương đối ít hơn.
Bệnh xuất hiện sớm, thường trước năm tuổi, có tính mùa rõ rệt và đậm hơn sau khi phơi nắng vào mùa hè.
Về bệnh lý, lượng melanin ở lớp đáy biểu bì tăng nhưng số lượng tế bào hắc tố không tăng.
Phần nhiều xuất hiện ở má, gò má và môi trên; mí mắt thường không bị ảnh hưởng.
ĐIỀU TRỊ
Phương pháp điều trị tương tự bớt Ota.
Laser màu có thể có một mức độ hiệu quả nhất định đối với bệnh này.
KHÁI QUÁT THÊM VỀ BỚT OTA
Bớt Ota là một loại bớt sắc tố thường gặp ở các dân tộc phương Đông, đặc trưng bởi những dát màu xanh nâu quanh mắt.
Ota lần đầu mô tả chính thức và có hệ thống về bệnh vào năm 1938.
Về bản chất, đây là tình trạng tăng sắc tố melanin trong trung bì, thường phân bố phù hợp với các nhánh ngoại vi của thần kinh sinh ba.
Tỷ lệ nam và nữ khoảng 1:3.
Khoảng một nửa người bệnh được phát hiện ngay khi sinh; một số trường hợp bắt đầu xuất hiện trong thời kỳ trẻ em, cá biệt đến tuổi dậy thì mới dần biểu hiện.
Tổn thương gồm các chấm màu nâu, xám và xanh hợp thành những mảng lớn, bờ không rõ.
Màu sắc trong tổn thương có thể chỉ có một màu hoặc phối hợp nhiều màu, độ đậm nhạt cũng khác nhau.
Ở một số người, tế bào hắc tố đồng thời phân bố ở kết mạc, giác mạc và võng mạc.
Một số tổn thương có xu hướng chậm rãi mở rộng.
Ở một số người, bớt ổn định lâu dài từ thời thơ ấu. Phần lớn quan điểm cho rằng tổn thương tương đối ổn định sau tuổi dậy thì, nhưng đôi khi vẫn có thể chậm rãi phát triển đến khoảng 30 tuổi.
Đoạn tài liệu này cho rằng bớt Ota không có khuynh hướng di truyền rõ ràng và chưa xác định được mối liên hệ rõ với ác tính hóa.
ĐIỀU TRỊ BỚT OTA BẰNG LASER
Trước khi xuất hiện laser dựa trên nguyên lý quang nhiệt chọn lọc, các phương pháp thường được sử dụng trong phẫu thuật tạo hình gồm mài da, ghép da, áp lạnh hoặc phối hợp áp lạnh với mài da.
Điều trị áp lạnh đòi hỏi người thực hiện có nhiều kinh nghiệm, đặc biệt phải kiểm soát chính xác thời gian áp lạnh trong mỗi lần điều trị.
Áp lạnh có thể làm thay đổi cấu trúc bề mặt da và hình thành sẹo.
Sự phát triển của công nghệ laser đã mở ra một giai đoạn mới trong điều trị bớt Ota.
Các loại laser Q-switched hiện nay sử dụng nguyên lý quang nhiệt chọn lọc để phá hủy những tế bào hắc tố bất thường.
Ưu điểm nổi bật là một lần điều trị có thể hoàn thành trong vài phút đến vài chục phút, thao tác thuận tiện, hiệu quả thẩm mỹ tương đối tốt và tỷ lệ thành công cao.
So với những phương pháp phá hủy da trước đây, laser ít gây sẹo và ít làm thay đổi cấu trúc da hơn.
Hiệu quả và số lần điều trị có liên quan đến loại bệnh lý của bớt Ota.
Mặc dù thường cần điều trị nhiều lần, laser được xem là một lựa chọn quan trọng trong điều trị bớt Ota.
Muốn đạt hiệu quả tương đối lý tưởng, thông thường cần từ 3–7 lần điều trị, mỗi lần cách nhau ít nhất tám tuần.
Mỗi lần điều trị có thể kéo dài từ vài phút đến vài chục phút.
Trong khi điều trị, người bệnh cảm thấy da như bị các xung ánh sáng gõ hoặc bắn vào; cảm giác đau sau thủ thuật phần nhiều giảm nhanh.
Số lần điều trị có quan hệ mật thiết nhất với đặc điểm của tổn thương, còn mối liên quan với bước sóng laser đứng thứ hai.
Khi tế bào hắc tố phân bố ở lớp nông của trung bì, tổn thương thường có màu nâu nhạt hoặc nâu.
Khi tế bào phân bố ở lớp sâu hơn, tổn thương thường biểu hiện màu xanh hoặc xám đen.
Độ đậm nhạt của cùng một màu còn liên quan đến mật độ phân bố của tế bào hắc tố.
Quy luật này có ý nghĩa thực tế trong dự đoán tiên lượng và số lần điều trị.
Mục tiêu của laser là những tế bào hắc tố phân bố bất thường.
Số lượng các tế bào này tăng nhưng bản thân hoạt động không quá mạnh. Vì vậy, ngay cả khi khoảng cách giữa hai lần điều trị dài, kết quả của lần trước thường không mất đi.
Đoạn tài liệu cho rằng hiệu quả điều trị tương đối ổn định và chưa ghi nhận tái phát trong các báo cáo được tác giả tham khảo.
Chú ý: Các thông số laser và tỷ lệ hiệu quả trong tài liệu thuộc những báo cáo cũ, không nên dùng làm hướng dẫn tự lựa chọn điều trị. Bớt Ota ảnh hưởng vùng quanh mắt cần được bác sĩ da liễu hoặc bác sĩ laser có kinh nghiệm đánh giá. Nếu sắc tố ảnh hưởng đến mắt, cần khám nhãn khoa định kỳ để kiểm tra nhãn áp và những biến đổi trong nhãn cầu.
Trường Xuân dịch