Lời dẫn
Sa niêm mạc dạ dày là tình trạng một phần niêm mạc dạ dày, thường ở vùng hang vị hoặc gần môn vị, trở nên phù nề, dày hoặc dư thừa, sau đó bị nhu động dạ dày đẩy qua ống môn vị vào hành tá tràng.
Khi phần niêm mạc sa xuống bị cơ môn vị kẹp lại, nó có thể gây tắc nghẽn từng lúc, cản trở tuần hoàn tại chỗ, làm niêm mạc sung huyết, phù nề, trợt hoặc loét. Người bệnh thường đau và đầy tức vùng thượng vị sau ăn, buồn nôn, nôn hoặc có cảm giác thức ăn chậm đi xuống.
Đây là tình trạng không thường gặp và có thể dễ nhầm với polyp dạ dày, khối u môn vị, sa tá tràng, viêm loét hoặc rối loạn vận động dạ dày. Vì vậy, không nên chỉ căn cứ triệu chứng để chẩn đoán.
Trong Trung y, bệnh thường thuộc phạm vi Vị quản thống (胃脘痛), Bĩ mãn (痞满), Ẩu thổ (呕吐), Phản Vị (反胃) và Tích tụ (积聚). Bệnh cơ chủ yếu là Tỳ Vị hư yếu, trung khí bất túc, Vị khí mất hòa giáng; đồng thời có thể kèm khí trệ, đàm thấp, thấp nhiệt hoặc huyết ứ.
Chú ý
Nếu đau thượng vị dữ dội, nôn liên tục, nôn ra máu, đi ngoài phân đen, ăn uống không xuống, bụng chướng tăng, sụt cân hoặc thiếu máu, cần đi khám sớm.
Không tự dùng thuốc thúc đẩy nhu động, thuốc chống co thắt, thuốc công hạ hoặc thuốc hoạt huyết khi chưa xác định nguyên nhân.
Nếu tổn thương gây tắc nghẽn tái diễn, chảy máu, loét kéo dài hoặc nghi có khối u, người bệnh cần được đánh giá và điều trị chuyên khoa.
SA NIÊM MẠC DẠ DÀY LÀ GÌ?
Vùng hang vị nằm ở phần thấp của dạ dày, tiếp giáp với môn vị. Môn vị có chức năng điều tiết thức ăn từ dạ dày xuống tá tràng.
Trong sa niêm mạc dạ dày, niêm mạc vùng hang vị hoặc môn vị có thể trở nên dài, dày và di động quá mức. Khi dạ dày co bóp, phần niêm mạc này bị kéo hoặc đẩy qua môn vị xuống tá tràng.
Tổn thương có thể chỉ xuất hiện từng lúc rồi tự trở lại vị trí ban đầu. Nếu niêm mạc bị kẹt lâu, người bệnh có thể xuất hiện:
Phù nề niêm mạc.
Sung huyết.
Trợt hoặc loét.
Xuất huyết.
Co thắt môn vị.
Tắc nghẽn đường ra của dạ dày.
NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Viêm niêm mạc vùng hang vị
Tình trạng viêm kéo dài có thể làm niêm mạc phù nề, dày và dễ bị nhu động đẩy qua môn vị.
Niêm mạc dư thừa
Một số người có phần niêm mạc hang vị dài và di động hơn bình thường.
Nhu động dạ dày tăng hoặc rối loạn
Các đợt co bóp mạnh ở vùng hang vị có thể đẩy niêm mạc về phía môn vị.
Polyp hoặc tổn thương dạng khối
Một polyp có cuống hoặc niêm mạc tăng sinh gần môn vị có thể bị kéo xuống tá tràng, gây biểu hiện tương tự sa niêm mạc.
Loét và phù nề vùng môn vị
Viêm loét làm vùng này sưng nề, ảnh hưởng hoạt động đóng mở của môn vị.
Tỳ Vị hư yếu theo Trung y
Tỳ khí suy, trung khí bất túc khiến khả năng thăng đề và cố nhiếp giảm. Vị khí mất hòa giáng làm thức ăn, đàm thấp và khí cơ đình trệ ở trung tiêu.
TRIỆU CHỨNG THƯỜNG GẶP
Đau thượng vị
Đau thường xuất hiện sau ăn, có thể từng cơn, liên quan đến nhu động vùng hang vị và môn vị.
Đau tăng khi nằm nghiêng bên phải
Trong một số trường hợp, tư thế nằm nghiêng phải có thể làm phần niêm mạc dễ di chuyển về phía môn vị và tá tràng hơn, khiến đau hoặc đầy tăng.
Đặc điểm này chỉ có giá trị gợi ý, không đủ để xác định chẩn đoán.
Đầy tức sau ăn
Người bệnh cảm thấy thức ăn chậm tiêu, nặng vùng thượng vị hoặc ăn ít đã no.
Buồn nôn và nôn
Khi niêm mạc sa gây cản trở môn vị, thức ăn và dịch dạ dày không xuống tá tràng thuận lợi, dẫn đến buồn nôn hoặc nôn.
Ợ hơi, ợ chua và nóng rát
Có thể xuất hiện khi đồng thời có viêm dạ dày, trào ngược hoặc Vị khí nghịch.
Tắc nghẽn từng lúc
Người bệnh có thể đang đau đầy và nôn, sau đó triệu chứng tự giảm khi phần niêm mạc trở lại vị trí ban đầu.
Xuất huyết
Niêm mạc bị kẹp, sung huyết hoặc loét có thể chảy máu, biểu hiện bằng nôn máu, chất nôn giống bã cà phê hoặc phân đen.
DẤU HIỆU CẦN ĐI KHÁM SỚM
Nôn kéo dài hoặc nôn sau hầu hết các bữa ăn.
Nôn thức ăn đã ăn từ nhiều giờ trước.
Ăn nhanh no ngày càng rõ.
Sụt cân.
Thiếu máu.
Nôn ra máu.
Đi ngoài phân đen.
Đau thượng vị tăng dần.
Khối bất thường vùng thượng vị.
Triệu chứng mới xuất hiện ở người lớn tuổi.
CHẨN ĐOÁN
Nội soi dạ dày – tá tràng
Nội soi giúp đánh giá:
Niêm mạc vùng hang vị và môn vị.
Tình trạng phù nề, trợt hoặc loét.
Polyp hoặc tổn thương dạng khối.
Dấu hiệu xuất huyết.
Mức độ hẹp môn vị.
Tổn thương ác tính cần sinh thiết.
Vì tình trạng sa có thể xuất hiện từng lúc, nội soi không phải lúc nào cũng quan sát được phần niêm mạc đang sa qua môn vị.
Chụp đường tiêu hóa có cản quang
Chụp cản quang có thể cho thấy một khuyết hình trong hành tá tràng hoặc hình ảnh niêm mạc đi qua môn vị. Việc thay đổi tư thế trong lúc chụp có thể giúp quan sát tính di động của tổn thương.
Chụp cắt lớp vi tính
Có thể được chỉ định khi nghi khối u, tắc nghẽn, biến chứng hoặc khi kết quả nội soi chưa giải thích được triệu chứng.
Sinh thiết
Cần thực hiện khi niêm mạc dày bất thường, có polyp, loét không lành hoặc nghi tổn thương ác tính.
Chẩn đoán phân biệt
Cần phân biệt với:
Loét dạ dày – tá tràng.
Polyp hang vị hoặc môn vị.
Ung thư dạ dày.
Sa tá tràng vào dạ dày.
Hẹp môn vị.
Kết khối dạ dày.
Rối loạn làm rỗng dạ dày.
Co thắt môn vị.
Bệnh túi mật và tuyến tụy.
ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Điều trị nguyên nhân
Nếu có viêm dạ dày, loét hoặc H. pylori, cần điều trị nguyên nhân tương ứng.
Thuốc giảm acid
Có thể được dùng khi kèm viêm, trợt, loét hoặc trào ngược.
Thuốc điều chỉnh vận động dạ dày
Việc dùng thuốc phải căn cứ tình trạng nhu động và mức độ tắc nghẽn. Không nên tự sử dụng vì thuốc làm tăng co bóp có thể khiến triệu chứng nặng hơn trong một số trường hợp.
Thuốc chống co thắt
Có thể làm giảm đau do co thắt, nhưng dễ gây khô miệng, táo bón, bí tiểu và ảnh hưởng thị lực. Những thuốc kháng cholinergic cũ không thích hợp để tự dùng kéo dài.
Điều trị qua nội soi
Nếu nguyên nhân là polyp, tổn thương tăng sinh hoặc vùng niêm mạc khu trú, bác sĩ có thể cân nhắc điều trị nội soi tùy hình thái và kết quả sinh thiết.
Phẫu thuật
Có thể được cân nhắc khi:
Tắc nghẽn môn vị tái diễn.
Xuất huyết nhiều lần.
Loét kéo dài.
Tổn thương không thể xử lý qua nội soi.
Nghi ngờ hoặc xác định ác tính.
Điều trị bảo tồn không hiệu quả.
NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y
Vị chủ thu nạp và lấy hòa giáng làm thuận. Tỳ chủ vận hóa và thăng thanh. Tỳ thăng, Vị giáng thì khí cơ trung tiêu điều hòa.
Nếu Tỳ khí suy yếu, trung khí bất túc, khả năng thăng đề và cố nhiếp giảm, niêm mạc và tổ chức vùng trung tiêu có thể mất sự nâng đỡ.
Nếu Vị khí không giáng, thức ăn, đàm thấp và trọc khí đình lại, gây đầy tức, ợ hơi, buồn nôn và nôn.
Bệnh kéo dài làm khí cơ không thông, có thể hình thành huyết ứ. Niêm mạc bị kẹt, sung huyết hoặc loét cũng có thể biểu hiện theo bệnh cơ huyết ứ Vị lạc.
Do đó, bệnh thường có đặc điểm bản hư tiêu thực:
Bản hư là Tỳ Vị khí hư hoặc trung khí hạ hãm.
Tiêu thực là khí trệ, đàm thấp, thấp nhiệt và huyết ứ.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Bệnh cơ
Tỳ Vị khí hư, vận hóa suy giảm, trung tiêu thiếu sức nâng đỡ và thúc đẩy.
Chứng trạng: Thượng vị đầy tức và đau âm ỉ, triệu chứng tăng sau ăn, ăn ít đã no, ợ hơi, ăn kém, mệt mỏi, hơi thở ngắn, đại tiện phân nát, lưỡi nhạt có dấu răng, rêu trắng mỏng, mạch tế nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hòa Vị tiêu bĩ.
Phương thang: Hương sa lục quân tử thang gia giảm gồm đảng sâm, bạch truật, phục linh, chích cam thảo, trần bì, bán hạ, mộc hương, sa nhân, sinh khương, đại táo.
Gia giảm
Đầy tức nhiều: gia chỉ xác, hậu phác.
Ăn kém: gia kê nội kim, mạch nha.
Buồn nôn: gia trúc nhự.
Đại tiện lỏng: gia hoài sơn dược, liên tử.
Bệnh cơ
Tỳ khí hư lâu ngày làm trung khí hạ hãm, khả năng thăng đề và cố nhiếp suy giảm.
Chứng trạng: Thượng vị đầy nặng, ăn xong khó chịu, mệt mỏi, hơi thở ngắn, tiếng nói nhỏ, cơ thể yếu, có cảm giác sa nặng vùng bụng, ăn kém, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt, mạch hư nhược hoặc nhu hoãn.
Phép trị
Bổ trung ích khí, thăng dương cử hãm, hòa Vị.
Phương thang: Bổ trung ích khí thang gia giảm gồm hoàng kỳ, đảng sâm hoặc nhân sâm, bạch truật, chích cam thảo, đương quy, trần bì, thăng ma, sài hồ.
Gia giảm
Đầy bụng rõ: gia chỉ xác lượng thích hợp để thăng giáng cùng điều hòa.
Buồn nôn: gia bán hạ, trúc nhự.
Ăn kém: gia sa nhân, kê nội kim.
Chú ý
Không phải mọi trường hợp sa niêm mạc dạ dày đều thuộc trung khí hạ hãm. Phải căn cứ toàn bộ chứng trạng, không chỉ dựa vào chữ “sa”.
Bệnh cơ
Can khí uất kết, hoành nghịch phạm Vị, làm khí cơ vùng hang vị và môn vị không thông.
Chứng trạng: Thượng vị trướng đau từng cơn, đau lan sang hai bên sườn, ợ hơi, hay thở dài, buồn nôn, triệu chứng tăng khi lo âu hoặc tức giận, đại tiện không thoải mái, lưỡi rêu mỏng, mạch huyền.
Phép trị
Sơ Can lý khí, hòa Vị giáng nghịch.
Phương thang: Sài hồ sơ can tán gia giảm gồm sài hồ, hương phụ, chỉ xác, bạch thược, xuyên khung, trần bì, cam thảo, phật thủ, diên hồ sách.
Gia giảm
Buồn nôn: gia bán hạ, trúc nhự.
Ợ chua: gia ô tặc cốt, ngõa lăng tử.
Đau nhiều: gia xuyên luyện tử, uất kim.
Bệnh cơ
Tỳ mất vận hóa, thủy thấp đình lại thành đàm, đàm thấp ngăn trở trung tiêu và Vị khí.
Chứng trạng: Thượng vị bĩ đầy, buồn nôn, nôn dịch nhầy, ăn kém, cơ thể nặng nề, miệng nhớt, đại tiện phân nát, lưỡi nhạt hoặc hồng nhạt, rêu trắng dày nhớt, mạch hoạt.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa đàm, hành khí tiêu bĩ.
Phương thang: Nhị trần thang hợp Bình vị tán gia giảm gồm bán hạ, trần bì, phục linh, cam thảo, thương truật, hậu phác, hoắc hương, sa nhân.
Gia giảm
Nôn nhiều: gia sinh khương, trúc nhự.
Đầy trướng: gia chỉ thực, đại phúc bì.
Tỳ khí hư: gia đảng sâm, bạch truật.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uẩn kết ở trung tiêu, làm niêm mạc phù nề, Vị khí không giáng và khí cơ bế trệ.
Chứng trạng: Thượng vị đầy đau hoặc nóng rát, miệng đắng nhớt, buồn nôn, ăn kém, đại tiện dính hoặc không thoải mái, tiểu tiện vàng, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, hòa Vị giáng nghịch.
Phương thang: Liên phác ẩm gia giảm gồm hoàng liên, hậu phác, bán hạ, thạch xương bồ, bạch đậu khấu, chi tử, lô căn, hoắc hương, phục linh, trúc nhự.
Gia giảm
Miệng đắng rõ: gia hoàng cầm, nhân trần.
Đầy nhiều: gia chỉ thực, mộc hương.
Ợ chua: gia ô tặc cốt, ngõa lăng tử.
Bệnh cơ
Niêm mạc sa xuống bị chèn ép lâu ngày, khí huyết tại chỗ không thông, hình thành huyết ứ Vị lạc.
Chứng trạng: Đau thượng vị cố định, đau như kim châm, không thích ấn, đau tăng về đêm, có thể kèm nôn máu hoặc phân đen, lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ, mạch sáp.
Phép trị
Hoạt huyết hóa ứ, lý khí thông lạc.
Phương thang: Đan sâm ẩm hợp Thất tiếu tán gia giảm gồm đan sâm, đàn hương, sa nhân, bồ hoàng, ngũ linh chi, diên hồ sách, uất kim, bạch thược, cam thảo.
Gia giảm
Khí hư: gia hoàng kỳ, đảng sâm.
Đau nhiều: gia xuyên luyện tử, mộc hương.
Chú ý
Nôn máu hoặc phân đen là dấu hiệu xuất huyết tiêu hóa, cần đi khám ngay. Không tự dùng bồ hoàng, ngũ linh chi, đan sâm hoặc các vị hoạt huyết khi đang chảy máu hoặc dùng thuốc chống đông.
Bệnh cơ
Tỳ Vị dương khí suy, trung tiêu mất sự ôn dưỡng, Vị khí vận hành chậm và đàm thấp dễ đình tụ.
Chứng trạng: Đau thượng vị âm ỉ, thích ấm, thích xoa, gặp lạnh đau tăng, ăn thức ăn ấm thì dễ chịu, buồn nôn, nôn nước trong, ăn kém, tay chân lạnh, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch trầm trì hoặc tế nhược.
Phép trị
Ôn trung kiện Tỳ, hòa Vị giáng nghịch.
Phương thang: Hoàng kỳ kiến trung thang hợp Hương sa lục quân tử thang gia giảm gồm hoàng kỳ, quế chi, bạch thược, sinh khương, đại táo, chích cam thảo, di đường, đảng sâm, bạch truật, phục linh, trần bì, bán hạ, mộc hương, sa nhân.
Gia giảm
Đau lạnh nhiều: gia cao lương khương, hương phụ.
Nôn nước trong: gia can khương, bán hạ.
Đại tiện lỏng: gia hoài sơn dược, liên tử.
CHÂM CỨU VÀ BẤM HUYỆT
Châm cứu có thể hỗ trợ điều hòa Tỳ Vị, giảm đau, đầy và buồn nôn trong giai đoạn ổn định. Không dùng châm cứu để trì hoãn nội soi hoặc xử trí tắc nghẽn.
Huyệt thường dùng
Nhâm-12 Trung quản
Tâm bào-6 Nội quan
Vị-36 Túc tam lý
Tỳ-4 Công tôn
Vị-21 Lương môn
Bàng quang-20 Tỳ du
Bàng quang-21 Vị du
Nhâm-6 Khí hải
Can-3 Thái xung
Tỳ-9 Âm lăng tuyền
Phối huyệt tham khảo
Tỳ Vị khí hư: Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du, Bàng quang-21 Vị du.
Trung khí hạ hãm: Nhâm-6 Khí hải, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-20 Bách hội.
Can khí phạm Vị: Nhâm-12 Trung quản, Tâm bào-6 Nội quan, Can-3 Thái xung.
Đàm thấp: Nhâm-12 Trung quản, Tỳ-9 Âm lăng tuyền, Vị-36 Túc tam lý.
Buồn nôn: Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý.
Không bấm mạnh vùng thượng vị khi đau tăng, nôn nhiều, có khối, xuất huyết hoặc nghi tắc nghẽn.
Cứu ngải chỉ thích hợp với thể Tỳ Vị hư hàn hoặc trung khí hư mà không có xuất huyết, nóng rát hay rêu vàng.
ĐIỀU DƯỠNG ĂN UỐNG
Ăn đúng giờ và lượng vừa phải.
Không ăn quá no.
Nhai kỹ, ăn chậm.
Chia nhỏ bữa nếu ăn nhanh no.
Hạn chế thức ăn quá cứng, nhiều dầu hoặc khó tiêu.
Không nằm ngay sau ăn.
Nếu nằm nghiêng phải làm đau tăng, nên tránh tư thế này sau bữa ăn.
Hạn chế rượu bia và bỏ thuốc lá.
Không tự dùng thuốc làm tăng nhu động dạ dày.
Không kiêng khem quá mức gây thiếu dinh dưỡng.
DƯỢC THIỆN THAM KHẢO
Tỳ Vị khí hư
Cháo hoài sơn dược, liên tử và bạch biển đậu.
Tỳ Vị hư hàn
Cháo hoài sơn dược phối một lượng nhỏ sinh khương. Không dùng khi đau nóng rát, miệng khô hoặc táo bón.
Đàm thấp
Cháo ý dĩ nhân, phục linh lượng vừa. Không thích hợp với người bụng lạnh, tiêu lỏng nhiều.
Can khí phạm Vị
Có thể dùng món ăn mềm phối một lượng nhỏ phật thủ hoặc trần bì để điều hòa khí cơ.
NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM
Nội soi khi có chỉ định.
Sinh thiết tổn thương bất thường.
Điều trị H. pylori nếu dương tính.
Theo dõi tình trạng nôn và ăn nhanh no.
Ăn thành các bữa nhỏ nếu dễ tắc nghẽn sau ăn.
Thông báo tất cả thuốc đang dùng cho bác sĩ.
Đi khám ngay khi nôn máu, phân đen hoặc nôn kéo dài.
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM
Không chỉ căn cứ đau tăng khi nằm nghiêng phải để tự chẩn đoán.
Không tự dùng atropin hoặc thuốc kháng cholinergic cũ.
Không tự dùng thuốc thúc đẩy nhu động.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết khi có xuất huyết.
Không xoa bóp mạnh vùng thượng vị.
Không trì hoãn nội soi khi ăn nhanh no, sụt cân hoặc thiếu máu.
Không cho rằng hết đau đồng nghĩa phần niêm mạc đã trở lại bình thường.
Nói tóm lại
Sa niêm mạc dạ dày là tình trạng niêm mạc vùng hang vị hoặc môn vị bị đẩy qua môn vị vào tá tràng, có thể gây đau, đầy sau ăn, buồn nôn, nôn và tắc nghẽn từng lúc. Nếu phần niêm mạc bị kẹp kéo dài, tổn thương có thể tiến triển thành phù nề, trợt, loét hoặc xuất huyết.
Theo Trung y, bệnh thuộc phạm vi Vị quản thống, Bĩ mãn, Ẩu thổ và Tích tụ. Bệnh cơ thường là bản hư tiêu thực: gốc ở Tỳ Vị hư yếu hoặc trung khí hạ hãm; ngọn là khí trệ, đàm thấp, thấp nhiệt và huyết ứ.
Các thể thường gặp gồm Tỳ Vị khí hư, trung khí hạ hãm, Can khí phạm Vị, đàm thấp trở trệ, Tỳ Vị thấp nhiệt, huyết ứ Vị lạc và Tỳ Vị hư hàn. Điều trị Trung y cần căn cứ chứng trạng cụ thể, nhưng không thay thế nội soi, sinh thiết và xử trí tắc nghẽn hoặc xuất huyết.
Trường Xuân biên soạn