POLYP TRỰC TRÀNG.直肠息肉*.
Polyp Trực Tràng
Polyp trực tràng là tổ chức tăng sinh ở niêm mạc trực tràng, thuộc nhóm bệnh xuất huyết lâm sàng phổ biến.
- Nguyên nhân – Cơ chế bệnh
Y học hiện đại cho đến nay vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân thực sự, song có thể liên quan đến các yếu tố sau:
- Kích thích mạn tính:
- Do thay đổi thói quen ăn uống, dẫn tới tính chất phân thay đổi, tạo nên kích thích đặc biệt;
- Hoặc do các bệnh đường ruột như lỵ, viêm loét đại tràng, nhiễm sán máu, giun kim,…;
- Hoặc do táo bón mạn tính, phân khô cứng…, tất cả đều có thể gây kích thích niêm mạc trực tràng dẫn đến bệnh.
- Yếu tố di truyền:
- Khi thai nhi còn trong giai đoạn phôi thai, các tế bào biểu mô đã có tính cảm nhiễm; đặc điểm này khiến chúng phát triển nhanh trong giai đoạn tăng trưởng, hình thành polyp.
- Phân loại
Dựa theo số lượng polyp, vị trí cao – thấp, tính chất…, polyp có thể chia thành 4 loại: polyp tuyến (adenomatous), polyp nhú (papillary), polyp viêm (inflammatory) và bệnh polyp (polyposis).
- Polyp tuyến (Adenomatous polyp hoặc Polyp trực tràng):
- Đây là một khối u lành tính trong ruột, thường gặp ở trẻ em. Được cấu tạo bởi mô tuyến, ban đầu chỉ là một gờ nhỏ trên niêm mạc, thường không có triệu chứng; dần dần lớn lên đến kích cỡ bằng hạt đậu vàng, rồi to cỡ quả óc chó. Thể polyp mềm, đàn hồi, màu thường đỏ tươi và dễ chảy máu.
- Nếu không có cuống (nhú trực tiếp lên bề mặt niêm mạc) thì gọi là polyp gốc rộng (polyp không cuống). Ở một số trường hợp, do nhu động ruột hoặc phân đẩy polyp đi xuống, niêm mạc ruột bị kéo dài tạo thành cuống, gọi là polyp có cuống. Nếu cuống bị xơ hóa, giảm cung cấp máu, polyp đổi sang màu vàng trắng.
- Vì bề mặt polyp hay bị ma sát và ép bởi phân, nên thường bị xói mòn, gây chảy máu; bệnh nhân có thể đi cầu ra máu tươi kèm ít dịch nhầy, máu chủ yếu dính trên bề mặt phân.
- Những polyp nằm cao (cách xa hậu môn) thì khó phát hiện; còn polyp thấp ở đoạn dưới trực tràng, hoặc có cuống dài, có thể lòi ra ngoài hậu môn khi đi tiêu (gọi là polyp thấp), dễ thấy. Thông thường, khi xong đại tiện, polyp tự co về trong hậu môn; nếu lặp lại nhiều lần, polyp có thể sa ra ngoài và không tự co lại, cần dùng tay ấn trở lại. Lúc này, cuống polyp thường có khía ép, có thể gây khó chịu: mót rặn, cảm giác nặng trĩu.
- Polyp thường đơn lẻ, nhưng cũng có khi xuất hiện nhiều. Polyp ở trẻ em ít chuyển ác tính; polyp đa phát ở người lớn thì nguy cơ ác tính cao hơn. Polyp adenomatous là loại thường gặp nhất.
- Polyp nhú (Papillary Polyp hay Villous Adenoma):
- Ít gặp, chiếm khoảng 15% polyp ở người lớn, thường gặp ở nam giới 35 – 50 tuổi. Đây cũng là một dạng u tuyến lành tính, bắt đầu từ sự tăng sinh bề mặt niêm mạc, sau đó các tuyến ruột thay đổi. Vị trí thường ở phần thấp trực tràng hoặc đại tràng sigma, thường là đơn lẻ, gốc rộng hoặc cuống rất ngắn, bề mặt gồ ghề với nhiều nhú sợi như lông (giống bọt biển), màu đỏ, nhiều mạch máu, rất dễ chảy máu, nên phân thường lẫn máu tươi. Nếu bề mặt polyp bị viêm nhiễm, xói mòn, phân có thể lẫn dịch nhầy.
- Nếu có cuống và nằm ở vị trí thấp, polyp có thể sa ra ngoài hậu môn khi đi tiêu, thường kèm đại tiện nhiều lần, tiêu chảy hoặc khó đi tiêu. Tỷ lệ chuyển ác tính của dạng này cao hơn polyp tuyến (khoảng 20 – 70% trên mẫu cắt bỏ phẫu thuật). Lưu ý, u xơ nhú (fibroma) chỉ là hiện tượng phì đại nhú, không phải polyp nhú dạng này.
- Polyp viêm (Inflammatory Polyp hay Pseudopolyp):
- Đây là một hiện tượng viêm. Do niêm mạc ruột bị loét (ở bệnh viêm loét đại tràng, lỵ…) phục hồi lại, chỗ lành lồi lên thành polyp giả. Thường gặp ở trực tràng, không chuyển hóa thành ung thư.
- Bệnh polyp (Polyposis):
- Là tình trạng đa polyp ở đại tràng và trực tràng, có nhiều thể loại, phổ biến là polyp tuyến gia đình (familial adenomatous polyposis), polyp kèm hội chứng (polyposis syndrome), hội chứng polyp đốm đen di truyền (Peutz-Jeghers syndrome) và polyp tuổi trẻ (juvenile polyp). Hai nhóm đầu dễ chuyển thành ung thư, hai nhóm sau ít khi ác tính. Khoảng 90% polyp xuất hiện ở trực tràng và đại tràng sigma; đôi khi toàn bộ đại tràng bị ảnh hưởng; một số ít cũng thấy ở dạ dày và ruột non.
- Hình thái và kích cỡ polyp đa dạng, có thể mọc thành từng đám, thậm chí dính liền nhau. Polyp thường màu đỏ hoặc vàng trắng, mềm, có thể loét hoặc xói mòn, tiết dịch nhầy nhiều. Giai đoạn đầu ít triệu chứng; về sau có thể đau bụng, tiêu chảy, phân nhầy máu. Thường kèm bội nhiễm, phân lỏng, mùi hôi, có bọt, đôi khi lẫn mủ và máu, kèm cảm giác mót rặn; bệnh kéo dài có thể gây thiếu máu, suy kiệt. Ở hội chứng polyp đốm đen di truyền, người bệnh có vết đốm hắc tố quanh mặt, môi, má trong miệng, kẽ ngón tay – chân, lòng bàn tay – chân, quanh hậu môn, âm đạo.
III. Chẩn đoán
- Đối với polyp thấp có cuống, khi đi cầu polyp có thể sa ra ngoài, quan sát bằng mắt đã có thể chẩn đoán, nhưng không loại trừ khả năng có nhiều polyp và bệnh đa polyp. Nếu đại tiện ra máu không đau, qua khám bằng tay hoặc ống soi thấy khối mềm di động hoặc tận mắt polyp thì có thể xác định.
- Nếu khám trên không phát hiện được, nên tiến hành nội soi sigmoid, colon (đại tràng) sợi quang, hoặc chụp X-quang cản quang baryt khí để xác định vị trí, số lượng, kích thước, tính chất, phạm vi tổn thương. Đồng thời, cần lấy mẫu bệnh lý để kiểm tra, xác định có ung thư hay không, để định hướng điều trị.
- Điều trị
Chủ yếu là can thiệp phẫu thuật. Liệu pháp Đông – Tây kết hợp chủ yếu sử dụng ở bệnh nhân đa polyp không thể phẫu thuật.
- Điều trị nội khoa:
- Đa phần là theo hướng thanh nhiệt, trừ thấp, hoạt huyết, khứ ứ, làm mềm và tan khối. Có thể dùng các bài sau:
- Bài 1:
- Ô mai (bỏ hột, sao thành than) 250 g, Khương tàm (sao nhẹ) 250 g, Mật ong 500 g; cô thành cao, vo viên. Mỗi lần 9 g, ngày 3 lần.
- Bài 2:
- Bán chi liên 30 g, Sơn đậu căn 30 g, Kha tử 15 g, Ý dĩ nhân 15 g, Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, Hoàng kỳ 30 g, Bạch truật 15 g, sắc uống, ngày 3 lần.
- Gia giảm:
- Đau bụng: thêm Diên hồ sách, Hạt quýt (quất hạch),Hồi hương;
- Tiêu chảy: Hoàng liên, Mã xỉ hiện;
- Phân ra máu: Địa du, Hoè giác, Kinh giới sao;
- Cơ thể suy yếu, tỳ hư: thêm Đảng sâm, Đương quy, Hoài sơn, Mạch nha, Sơn tra, Kê nội kim.
- Bài 3:
- Tử hoa địa đinh 15 g, Bồ công anh 15 g, Bán biên liên 30 g, Địa du sống 9 g, Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, Đào nhân 10 g, Thạch kiếnnxuyên 12 g, Hoàng dược tử 12 g, Cam thảo chế 6 g, da Cóc khô tán bột (càn thiềm bì phấn) 3 g (uống riêng), sắc uống ngày 3 lần.
- Điều trị ngoài (ngoại khoa Đông y):
- Phương pháp bơm thuốc “giữ enema.”
- Dùng 6% dung dịch phèn chua (minh phàn) 50 ml, mỗi tối trước khi ngủ bơm qua hậu môn.
- Hoặc dùng Ô mai 12 g, Ngũ bội tử 6 g, Ngũ vị tử 6 g, Mẫu lệ 30 g, Hạ khô thảo 30 g, Hải phù thạch 12 g, Tử thảo 15 g, Quán chúng 15 g. Sắc đặc còn 150–200 ml, mỗi lần 50 ml, bơm giữ trước khi ngủ.
- Phẫu thuật
- Tiêm dung dịch phèn chua: dùng cho polyp gốc rộng, tư thế nằm nghiêng, vô trùng, gây tê tại chỗ, mở hậu môn, xác định polyp, tiêm 0.3–0.5 ml dung dịch 6–8% phèn chua vào gốc polyp. Sau mổ, cho bệnh nhân dùng thuốc nhuận tràng ngừa táo bón. Hoặc làm dưới nội soi sigmoid, dùng kìm sinh thiết kẹp chặt polyp, tiêm phèn chua bằng ống kim (có dây nhựa dài) để gốc polyp trắng lên. Cách này không thể lấy mẫu giải phẫu bệnh vì tổn thương mô.
- Thắt gốc: phù hợp polyp cuống thấp. Gây tê, mở hậu môn, tìm polyp; dùng kìm kẹp nhẹ cuống, kéo polyp ra ngoài hậu môn, dùng chỉ khâu vòng số 8 buộc gốc, rồi cắt bỏ polyp, bôi Cửu Hoa Cao hoặc đặt gạc có thuốc. Đây là cách tốt nhất.
- Dùng ngón tay bấm đứt cuống: thường cho polyp có cuống ở trẻ em. Dùng ngón trỏ móc polyp, bóp đứt chỗ polyp dính cuống, tuy nhiên dễ chảy máu, dễ tái phát.
- Điện nhiệt (điện cắt đốt): dùng cho polyp gốc nhỏ, cả loại cao và thấp. Có thể soi hậu môn hoặc nội soi đại tràng để nhìn polyp, rồi dùng đầu điện cắt đốt gốc polyp, còn nếu polyp không cuống, đốt vùng trung tâm. Tránh đốt quá sâu để khỏi thủng ruột. Sau đó nên nghỉ tại giường khoảng 1 tuần, nếu còn sót có thể đốt lại.
- Dùng vòng thắt: phù hợp cho polyp cao. Thực hiện qua nội soi sigmoid, dùng dụng cụ có sẵn vòng cao su đặt vào gốc polyp, chặn cung cấp máu, polyp sẽ hoại tử và rụng.
- Dùng thòng lọng điện: cho polyp cao. Qua nội soi sigmoid, đưa vòng dây cách điện ôm cuống polyp, kéo nhẹ tách khỏi thành ruột. Sau đó, nối vòng với máy điện cắt ở cường độ thấp, đốt ngắt quãng 0.5–1 giây, vừa siết thòng lọng đến khi cắt đứt cuống. Nếu ra máu có thể dùng bông tẩm adrenaline ép cầm máu.
- Phẫu thuật cắt bỏ: dùng cho polyp gốc rộng nghi có ác tính hoặc polyp nhú (bề mặt thô, màu đỏ đậm, cứng, loét, dễ chảy máu). Có thể cắt bỏ cục bộ khâu lại hoặc mổ phía sau trực tràng. Nếu là bệnh polyp thì tùy vị trí, có thể phải cắt bỏ trước trực tràng, cắt bỏ ổ bụng – hội âm (abd-perineal resection), cắt đoạn đại tràng sigma, cắt đại tràng trái/phải hoặc toàn bộ đại tràng. Mọi tổn thương cắt bỏ nên đưa đi xét nghiệm mô bệnh học. Phương pháp tiêm phèn chua hoặc đốt điện không lấy được mô nguyên vẹn, vì mô bị hủy, nên tránh nếu cần chẩn đoán mô bệnh học.
Polyp Trực Tràng có gây tiêu chảy không? Cách điều trị bằng Đông y?
Polyp trực tràng là khối u lành tính mọc trong lòng trực tràng, được y học cổ truyền gọi là “tức nhục trĩ” (polyp trĩ). Bệnh thường chia đơn phát và đa phát. Loại đơn phát hay gặp ở trẻ em, loại đa phát gặp ở người trưởng thành. Hầu hết polyp trực tràng là dạng tuyến (adenoma), một số có thể ác tính, đặc biệt polyp đa phát nguy cơ cao hơn.
Biểu hiện lâm sàng rất khác nhau, tùy kích thước và vị trí. Polyp nhỏ nằm cao có thể không có triệu chứng; nếu polyp viêm loét, người bệnh sẽ đi cầu ra máu tươi, kèm ít nhầy. Nếu polyp thấp và có cuống, có thể lòi ra ngoài khi đi tiêu, polyp nhỏ thì tự co vào, polyp lớn phải dùng tay đẩy vào, thường gây khó đi cầu, nặng trĩu, hoặc mót rặn. Polyp đa phát có thể kèm đau bụng, tiêu chảy; nếu bội nhiễm, phân lỏng, có bọt, mùi hôi, có lúc dính mủ máu, kèm mót rặn. Lâu ngày, bệnh nhân gầy sút, thiếu máu, mệt mỏi.
Trong quan điểm Đông y, bệnh do thấp nhiệt dồn xuống đại tràng, làm khí cơ ruột bị cản trở, ứ huyết – đục khí gây polyp. Tây y cho rằng liên quan di truyền hoặc kích thích mạn tính (viêm loét đại tràng, lỵ, sán máu…).
Phép trị: thanh nhiệt, trừ thấp, hoạt huyết khứ ứ, làm mềm và tan khối – thường dùng cho trường hợp polyp đa phát:
- Bài 1:
- Bán chi liên 30 g, Sơn đậu căn 12 g, Hạt kha tử 15 g, Ý dĩ 15 g, Bạch hoa xà thiệt thảo 20 g, Hoàng kỳ 30 g, Bạch truật 15 g, sắc uống. Gia giảm tùy chứng:
- Đau bụng: Diên hồ sách 8 g, Hạch quất 10 g, Tiểu hồi 5 g.
- Tiêu chảy: Hoàng liên 5 g, Mã xỉ hiển (Mã xỉ hiện) 30 g.
- Đi tiêu ra máu: Địa du 15 g, Hoài giác (Hòe giác) 10 g, Kinh giới sao 10 g.
- Tỳ hư: thêm Đảng sâm, Đương quy, Hoài sơn, Mạch nha, Sơn tra mỗi 10 g, Kê nội kim (tán bột) 3 g.
- Bài 2:
- Tử hoa địa đinh 15 g, Bồ công anh 15 g, Bán biên liên 30 g, Địa du sống 9 g, Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, Đào nhân 9 g, Thạch hiện xuyên 12 g, Hoàng dược tử 12 g, Cam thảo (sao) 6 g, bột da Cóc khô (3 g) uống riêng; sắc uống.
- Bài 3:
- Ô mai 250 g (bỏ hột, sao đen), Khương tàm 250 g (sao nhẹ), Mật ong 500 g. Làm thành viên, mỗi viên 9 g, mỗi lần 9 g, ngày 3 lần.
Phương pháp trị ngoài cho polyp trực tràng
Gồm bơm enema, tiêm, thắt cuống, đốt điện và cắt bỏ:
- Bơm enema:
- Dung dịch phèn chua 6% 50 ml, giữ trong hậu môn, mỗi ngày 1 lần.
- Ô mai 12 g, Ngũ bội tử 6 g, Ngũ vị tử 6 g, Mẫu lệ 30 g, Hạ khô thảo 30 g, Hải phù thạch 12 g, Tử thảo 15 g, Quán chúng 15 g. Sắc còn 150–200 ml, mỗi lần 50 ml, mỗi ngày 1 lần, bơm và giữ.
- Phương pháp tiêm:
- Áp dụng cho polyp không cuống ở trẻ em. Thuốc gồm 6–8% phèn chua hoặc 5% sodium morrhuate, tiêm 0,3–0,5 ml vào gốc polyp. Sau mổ, dùng thuốc nhuận tràng như Ma Nhân Nhu Tràng Hoàn.
- Thắt cuống:
- Dùng cho polyp cuống thấp. Bệnh nhân nằm nghiêng hoặc tư thế sản khoa, gây tê, mở hậu môn, dùng ngón tay kéo polyp ra, hoặc đặt ống soi nhìn rõ polyp, dùng kìm gắp polyp, buộc chỉ vòng số 8 ở gốc, cắt bỏ, bôi Cửu Hoa Cao hoặc đặt gạc dầu để dẫn lưu.
- Đốt điện:
- Dùng cho polyp nhỏ vị trí cao. Bệnh nhân quỳ gối – ngực hoặc nằm sấp, soi hậu môn hoặc nội soi sigma tìm polyp, dùng điện nhiệt đốt gốc polyp. Nếu polyp không cuống thì đốt trung tâm. Cẩn thận không đốt sâu. Nghỉ giường 1 tiếng, sau 1 tuần kiểm tra lại. Nếu chưa rụng hết, tiếp tục đốt.
- Phẫu thuật cắt bỏ:
- Đối với đa polyp dạng adenoma, có thể xem xét cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ đoạn trực tràng – đại tràng.
Vậy polyp trực tràng mà người ta hay nói là gì?
Polyp trực tràng là khối u mềm, trên bề mặt phủ niêm mạc, nằm trong lòng trực tràng. Nếu nhỏ, chỉ thấy gồ lên nhẹ, nếu lớn và có cuống, có thể nhô vào lòng ruột và di chuyển lên xuống; nếu ở đoạn thấp của trực tràng, polyp thậm chí có thể lòi ra ngoài hậu môn. Bệnh thường mang tính gia đình (di truyền), là nền tảng bệnh lý quan trọng của ung thư trực tràng.
Phần lớn polyp không gây triệu chứng, nên thường được phát hiện tình cờ. Nếu polyp lớn, thường bị phân cọ xát gây xói mòn niêm mạc, dẫn đến đại tiện ra máu và nhầy. Triệu chứng phổ biến là chảy máu màu đỏ tươi, lượng ít, trộn với chất nhầy, máu thường dính trên bề mặt phân; nếu mất máu nhiều hoặc lâu dài, bệnh nhân có thể thiếu máu, gầy sút. Polyp lớn cũng có thể gây cảm giác muốn đi tiêu, táo bón, chảy dịch từ hậu môn.
Vì polyp trực tràng thường có nguy cơ ung thư, nên khi phát hiện, cần lấy mẫu sinh thiết để xác định tính chất.
Làm sao phân biệt polyp trực tràng lành tính hay ác tính?
Phân biệt bản chất polyp rất quan trọng trong việc chọn cách mổ và tiên lượng:
- Độ giòn: Nếu chạm nhẹ bằng dụng cụ hoặc ống soi mà dễ chảy máu, thường là ác tính. Ngược lại ít chảy máu là lành.
- Loét: Polyp bình thường không loét; khi ác tính hóa, bề mặt hình thành loét; đặc biệt polyp có cuống thường không gây loét, trừ khi chuyển ác tính.
- Độ di động: Polyp gốc rộng, chắc, khó di động dễ ác tính; polyp có cuống di động thì nguy cơ thấp hơn.
- Hình dáng: Polyp có nhiều thùy (phân múi) dễ ác tính hơn polyp tròn nhẵn.
- Chân đế: Nếu gốc polyp lớn, “đầu” nhỏ, nguy cơ ác tính cao.
- Loại polyp: Polyp có cuống thường thuộc adenoma dạng ống (tubular adenoma), tỷ lệ ung thư thấp hơn.
- Kích thước: Polyp càng lớn hoặc to nhanh càng dễ hóa ác; polyp không lớn lên ít nguy hiểm.
Điều trị polyp trực tràng bằng điện đốt thế nào?
Phương pháp điện đốt (điện nhiệt) có giới hạn nhất định. Trước khi dùng, cần xác định rõ tính chất polyp. Polyp nghi ngờ ác tính không nên đốt điện, vì làm mô tổn thương, không thể lấy mẫu mô bệnh học.
Đối với polyp lành, điện đốt tiện lợi, ít chảy máu, phá hủy triệt để khối u lành tính. Cách thực hiện:
- Khử trùng, trải khăn, gây tê, dùng ống soi hậu môn mở trực tràng, bộc lộ polyp. Có thể đốt trực tiếp polyp, hoặc nếu polyp có cuống, thòng vòng cắt cuống xong rồi đốt lại. Trong quá trình đốt cần hút máu, phân và khói; tránh đốt quá sâu, đề phòng thủng và chảy máu. Tốt nhất chia đợt đốt, mỗi tuần một lần, kiểm tra lại. Nếu chưa phá hủy hết, 1 tuần sau đốt tiếp.
Phẫu thuật điều trị polyp trực tràng ra sao?
Phẫu thuật có nhiều cách, dưới đây là hai phương pháp chính:
- Cắt qua hậu môn:
- Dùng cho polyp ở đoạn dưới và giữa trực tràng có thể di động. Mở hậu môn bằng ống soi, kẹp polyp, khâu vòng số 8 tại chân, rồi cắt polyp. Nếu nền polyp rộng, cần cắt cả niêm mạc 2–3 cm trên polyp, rồi khâu vá niêm mạc, vừa kéo vừa cắt bỏ.
- Cắt phía sau qua cơ thắt (posterior approach):
- Có thể cắt rộng rãi vùng trực tràng dưới. (Phương pháp chi tiết bỏ qua.)
Sau khi phát hiện polyp trực tràng, cần chú ý những gì?
Nhiều người biết có polyp nhưng không để ý, dễ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Cần:
- Polyp trực tràng thường không đơn độc: Thường khi có polyp ở trực tràng, đại tràng cũng có polyp, đặc biệt vị trí nối trực tràng – đại tràng sigma. Do đó, cần nội soi sợi quang đại tràng để kiểm tra toàn bộ, xác định phạm vi và vị trí.
- Sinh thiết mô: Trong khi soi đại tràng, nếu có điểm nghi ngờ, phải lấy mẫu giải phẫu bệnh để xác định bản chất.
- Điều trị sớm, triệt để: Dù polyp được xác định là lành, vẫn cần điều trị nghiêm túc, sớm, để tránh diễn tiến xấu.
- Tái khám định kỳ: Vì tính chất khác nhau, nguy cơ tái phát và ung thư khác nhau, cần theo dõi định kỳ để kịp thời xử lý.
Phân loại polyp trực tràng như thế nào?
Phân loại dựa vào giải phẫu mô học và tính chất bệnh lý:
- Dạng tân sinh (neoplastic): Bao gồm adenoma ống, adenoma ống – nhú, adenoma nhú (villous adenoma), và polyp tuyến gia đình. Chúng đều do biểu mô ruột phát triển mới, rất dễ thành ung thư.
- Dạng dị tổ (hamartoma): Tức mô bình thường nhưng phối hợp bất thường, gồm polyp tuổi trẻ, bệnh polyp tuổi trẻ, polyp đốm đen, hội chứng đốm đen – polyp. Thông thường polyp không ung thư, trừ polyp bệnh có khả năng cao.
- Polyp viêm: Tức polyp giả do loét niêm mạc ruột (như viêm loét đại tràng mạn, polyp lympho lành tính…) không liên quan ung thư.
- Polyp tăng sản (hyperplastic): Hay gọi “polyp hóa sinh,” là các nốt nhỏ không cuống ở niêm mạc trực – đại tràng, có thể đơn độc hoặc đa phát, màu tương tự niêm mạc, đường kính chỉ vài mm, thường không triệu chứng, có thể kèm adenoma.
- Dạng hội chứng: Trong đường tiêu hóa có polyp, ngoài ra còn biểu hiện đặc biệt ngoài ruột.
Làm sao phân biệt polyp trực tràng dưới (thấp) với u nhú (papilloma)?
Dù cả hai có thể sa ra ngoài, có cuống, nhưng lâm sàng vẫn dễ phân biệt:
- Vị trí: Polyp trực tràng ở trong lòng trực tràng, còn u nhú thì chân ở đường lược (dentate line).
- Màu sắc: Polyp, dù sa ra ngoài, vẫn được bao phủ niêm mạc, màu hồng nhạt. U nhú là do phì đại nhú hậu môn, chủ yếu là mô sợi, màu xám trắng.
- Bệnh kèm: U nhú hậu môn thường kèm tiền sử nứt kẽ hậu môn lâu dài, triệu chứng nặng; polyp trực tràng không kèm bệnh vùng hậu môn.
- Giải phẫu bệnh: Polyp trực tràng có cấu trúc niêm mạc ruột, tuyến niêm mạc; u nhú là mô liên kết xơ.
Polyp ở trẻ em có đặc điểm gì?
Polyp ở trẻ em tức là polyp xuất hiện thời kỳ trẻ em:
- Thường nhỏ, đường kính < 2 mm, bề mặt có dạng hạt, cuống mảnh, thường sa ra hậu môn khi trẻ đi cầu, xong tự thụt vào. Màu hồng nhạt, nếu bị viêm nhiễm và chảy máu lặp lại sẽ chuyển đỏ sẫm. Nếu xuất huyết liên tục, trẻ thiếu máu, suy dinh dưỡng, ảnh hưởng phát triển.
- Polyp ở trẻ em thường không liên quan ung thư, không chuyển ác tính, thường tự rụng, khi qua tuổi dậy thì hiếm thấy polyp, đa phần tự biến mất.
Đặc điểm bệnh polyp đốm đen (Peutz-Jeghers)?
Còn gọi polyp đa phát ở dạ dày – ruột kèm sắc tố da, niêm mạc. Có tính di truyền gia đình. Các đốm sắc tố thường xuất hiện ở tuổi thiếu nhi, có khi ngay giai đoạn bú mẹ. Vết đốm ở mặt, môi, móng, lòng bàn tay, lòng bàn chân có thể mờ theo thời gian, nhưng trong niêm mạc miệng thì không. Kích thước đốm to nhỏ khác nhau.
Polyp có thể ở ruột non, đại tràng, dạ dày, nhưng phần nhiều ở ruột non; thậm chí hệ niệu, bàng quang, khí quản cũng có thể có. Thường di truyền theo dòng cha – con, anh – chị em… Người bệnh có thể chảy máu tiêu hóa, tắc ruột, lồng ruột… Tỷ lệ ung thư thấp. Chẩn đoán khá dễ vì có đặc điểm điển hình.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch