Tổng quan
Polyp đường ruột là thuật ngữ dùng để chỉ một tổn thương nhô lên từ bề mặt niêm mạc vào trong lòng ruột. Polyp thường gặp nhất ở đại tràng và trực tràng, nhưng cũng có thể xuất hiện ở ruột non.
Polyp có thể rất nhỏ, chỉ vài milimét, hoặc lớn đến vài centimét; có thể đơn độc hoặc xuất hiện nhiều nơi. Về hình dạng, polyp có thể có cuống, không cuống hoặc là tổn thương phẳng, lan rộng trên bề mặt niêm mạc.
Polyp không phải lúc nào cũng là ung thư. Tuy nhiên, cũng không nên xem mọi polyp là hoàn toàn vô hại. Một số polyp chỉ là phản ứng viêm hoặc tăng sản lành tính; một số khác là tổn thương tân sinh có khả năng tiến triển thành ung thư đại trực tràng nếu không được phát hiện và loại bỏ.
Nội soi đại tràng giúp quan sát trực tiếp, cắt bỏ polyp và lấy mô xét nghiệm. Kết quả mô bệnh học mới là căn cứ quan trọng để xác định loại polyp, mức độ loạn sản, nguy cơ ung thư và thời điểm nội soi theo dõi tiếp theo. Phần lớn polyp đại tràng có thể được loại bỏ qua nội soi mà không cần phẫu thuật mở. (Cancer.gov)
Trong Trung y, polyp đường ruột có thể được quy vào phạm vi Tích tụ (积聚), Trưng hà (癥瘕), Tràng đàm (肠覃), Tiện huyết (便血), Tiết tả (泄泻) và Phúc thống (腹痛). Bệnh cơ thường liên quan đến Tỳ hư, thấp đàm, khí trệ và huyết ứ kết lại trong Trường phủ. Tuy nhiên, thuốc Trung y không thể thay thế nội soi cắt polyp và xét nghiệm mô bệnh học.
Chú ý
Nếu đi ngoài ra máu kéo dài, phân đen, thiếu máu, sụt cân, đau bụng tăng, thay đổi khuôn phân, táo bón hoặc tiêu chảy mới xuất hiện và kéo dài, cần đi khám.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết, phá tích hoặc thuốc có độc tính để “làm tiêu polyp”.
Không nên trì hoãn cắt polyp chỉ vì không có triệu chứng. Nhiều polyp tiền ung thư hoàn toàn không gây biểu hiện rõ.
POLYP HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO?
Niêm mạc ruột liên tục được đổi mới. Khi quá trình tăng sinh, biệt hóa và chết tế bào mất điều hòa, một vùng tế bào có thể phát triển quá mức và nhô vào lòng ruột.
Một số polyp hình thành do:
Biến đổi tân sinh của tế bào tuyến.
Con đường tổn thương răng cưa.
Viêm niêm mạc kéo dài.
Rối loạn phát triển mô.
Đột biến gen di truyền.
Tuổi cao.
Tiền sử gia đình có polyp hoặc ung thư đại trực tràng.
Bệnh viêm ruột kéo dài.
Không thể xác định bản chất của polyp chỉ bằng màu sắc hoặc hình dạng quan sát thông thường. Ngay cả khi nội soi gợi ý một loại tổn thương, kết luận cuối cùng vẫn cần dựa vào mô bệnh học.
HÌNH DẠNG CỦA POLYP
Polyp có cuống
Khối polyp gắn với niêm mạc bằng một cuống, trông tương tự cây nấm. Cuống có thể chứa mạch máu nên cần kiểm soát chảy máu khi cắt.
Polyp không cuống
Khối polyp nằm trực tiếp trên niêm mạc, không có cuống rõ. Những tổn thương lớn có thể cần kỹ thuật cắt niêm mạc hoặc bóc tách dưới niêm mạc.
Tổn thương phẳng
Không nhô cao rõ nhưng vẫn có thể chứa loạn sản. Một số tổn thương phẳng hoặc lõm nhỏ có nguy cơ tiến triển đáng chú ý và dễ bị bỏ sót nếu chuẩn bị ruột không tốt.
CÁC LOẠI POLYP ĐẠI TRÀNG
Polyp tuyến, còn gọi là adenoma đại trực tràng, là tổn thương tân sinh lành tính nhưng có khả năng tiến triển thành ung thư. Các loại mô học chính gồm adenoma ống, adenoma ống – nhung mao và adenoma nhung mao.
Nguy cơ tiến triển tăng khi:
Polyp có kích thước lớn.
Có thành phần nhung mao.
Có loạn sản độ cao.
Có nhiều polyp.
Polyp không được cắt bỏ hoàn toàn.
Mặc dù polyp tuyến là tổn thương tiền ung thư, phần lớn polyp nhỏ sẽ không nhất thiết tiến triển thành ung thư. Việc cắt bỏ giúp ngăn chặn tiến trình này. (Cancer.gov)
Adenoma ống
Đây là dạng thường gặp nhất. Phần lớn có nguy cơ thấp hơn adenoma nhung mao nếu kích thước nhỏ và chỉ có loạn sản độ thấp.
Adenoma ống – nhung mao
Cấu trúc có cả thành phần ống và nhung mao, nguy cơ thường cao hơn adenoma ống đơn thuần.
Adenoma nhung mao
Bề mặt có cấu trúc dạng nhung mao, thường có gốc rộng và kích thước lớn hơn. Nguy cơ loạn sản độ cao hoặc ung thư cao hơn, nhưng không nên gán một tỷ lệ ung thư cố định cho mọi trường hợp.
Nhóm này gồm:
Polyp tăng sản.
Tổn thương răng cưa không cuống.
Adenoma răng cưa truyền thống.
Các polyp tăng sản nhỏ ở trực tràng và đại tràng sigma thường có nguy cơ thấp. Tuy nhiên, tổn thương răng cưa không cuống và adenoma răng cưa truyền thống có thể là tiền thân của ung thư đại trực tràng.
Vì vậy, không nên đồng nhất toàn bộ polyp răng cưa với polyp tăng sản vô hại.
Polyp viêm thường xuất hiện trên nền niêm mạc bị viêm, chẳng hạn trong viêm đại tràng. Bản thân polyp viêm thường không phải tổn thương tiền ung thư, nhưng bệnh viêm ruột nền có thể làm nguy cơ ung thư đại trực tràng tăng theo thời gian.
Điều trị viêm không bảo đảm mọi polyp sẽ tự biến mất. Tổn thương bất thường vẫn cần được nội soi và sinh thiết khi cần.
Tên gọi “thiếu niên” mô tả cấu trúc mô học, không hoàn toàn nói về tuổi của người bệnh.
Một polyp thiếu niên đơn độc ở trẻ thường có nguy cơ ung thư thấp. Tuy nhiên, hội chứng đa polyp thiếu niên là bệnh di truyền gây nhiều polyp hamartoma trong đường tiêu hóa và làm nguy cơ ung thư tăng. (NCBI)
Đây là sự phát triển bất thường của những thành phần mô vốn có tại vị trí đó.
Polyp hamartoma có thể gặp trong:
Hội chứng Peutz–Jeghers.
Hội chứng đa polyp thiếu niên.
Một số hội chứng di truyền khác.
Bản thân từng polyp có thể không giống adenoma, nhưng người mắc các hội chứng này vẫn có nguy cơ ung thư ở đường tiêu hóa và những cơ quan khác tăng lên.
HỘI CHỨNG PEUTZ–JEGHERS
Hội chứng Peutz–Jeghers là bệnh di truyền, đặc trưng bởi các polyp hamartoma ở đường tiêu hóa và những dát sắc tố sẫm màu quanh môi, trong miệng hoặc ở đầu ngón tay.
Polyp thường gặp nhiều ở ruột non, nhưng cũng có thể xuất hiện ở dạ dày và đại tràng. Người bệnh có thể đau bụng, chảy máu, thiếu máu hoặc lồng ruột.
Không nên xem hội chứng này là tình trạng “rất hiếm khi ung thư hóa” theo nghĩa không đáng lo ngại. Đây là hội chứng có khuynh hướng ung thư, cần chương trình theo dõi chuyên khoa lâu dài. (NCBI)
BỆNH ĐA POLYP TUYẾN GIA ĐÌNH
Bệnh đa polyp tuyến gia đình là một hội chứng di truyền liên quan đến gen APC. Người bệnh có thể hình thành hàng trăm đến hàng nghìn adenoma trong đại tràng và trực tràng, thường từ tuổi trẻ.
Nếu không được theo dõi và điều trị thích hợp, nguy cơ ung thư đại trực tràng rất cao. Người thân trong gia đình có thể cần tư vấn và xét nghiệm di truyền. (NCBI)
Cần nghĩ đến hội chứng đa polyp khi:
Có rất nhiều polyp tuyến.
Polyp xuất hiện khi còn trẻ.
Gia đình có nhiều người mắc ung thư đại trực tràng.
Có người thân từng phải cắt đại tràng.
Có polyp hoặc khối u ở tá tràng và những cơ quan khác.
TRIỆU CHỨNG
Phần lớn polyp đại tràng không gây triệu chứng và chỉ được phát hiện khi tầm soát.
Khi có biểu hiện, người bệnh có thể gặp:
Máu đỏ tươi trong phân.
Máu ẩn trong phân.
Phân đen nếu chảy máu ở vị trí cao.
Thiếu máu thiếu sắt.
Mệt mỏi, chóng mặt.
Thay đổi thói quen đại tiện.
Tiêu chảy hoặc táo bón kéo dài.
Đau bụng.
Nhầy trong phân.
Mót rặn khi polyp ở trực tràng.
Polyp lớn có thể gây tắc nghẽn từng phần, nhưng biểu hiện này ít gặp hơn.
CHẨN ĐOÁN
Nội soi đại tràng
Là phương pháp quan trọng nhất vì có thể:
Quan sát toàn bộ đại tràng.
Xác định số lượng và kích thước polyp.
Đánh giá hình dạng và vị trí.
Sinh thiết.
Cắt bỏ tổn thương.
Kiểm soát chảy máu.
Nội soi đại tràng sigma
Chỉ quan sát được trực tràng và phần thấp của đại tràng, vì vậy có thể bỏ sót tổn thương ở đại tràng phải.
Xét nghiệm phân
Xét nghiệm máu ẩn hoặc DNA trong phân có thể gợi ý nguy cơ, nhưng không xác định được loại polyp. Khi kết quả bất thường, thường cần nội soi đại tràng.
Mô bệnh học
Sau khi cắt, polyp được gửi đến bác sĩ giải phẫu bệnh để xác định:
Loại polyp.
Mức độ loạn sản.
Có ung thư hay không.
Bờ cắt đã sạch hay chưa.
Có xâm lấn mạch máu hoặc bạch huyết hay không.
Có cần điều trị thêm hay không.
ĐIỀU TRỊ
Cắt polyp qua nội soi
Phần lớn polyp được cắt trong khi nội soi bằng:
Kìm sinh thiết.
Thòng lọng lạnh.
Thòng lọng điện.
Cắt niêm mạc qua nội soi.
Bóc tách dưới niêm mạc trong trường hợp phù hợp.
Những polyp lớn, không cuống hoặc ở vị trí khó có thể được chuyển đến bác sĩ nội soi chuyên sâu.
Kẹp cầm máu
Kẹp kim loại hoặc thòng lọng có thể được dùng để phòng hoặc kiểm soát chảy máu ở polyp có cuống lớn. Cách xử lý được lựa chọn theo kích thước cuống, mạch máu và nguy cơ của từng trường hợp.
Phẫu thuật
Có thể cần thiết khi:
Không thể cắt an toàn qua nội soi.
Nghi ung thư xâm lấn sâu.
Bờ cắt không đạt yêu cầu.
Có đa polyp di truyền.
Có tắc nghẽn hoặc biến chứng.
THEO DÕI SAU CẮT POLYP
Thời điểm nội soi lại không cố định cho mọi người. Bác sĩ sẽ căn cứ:
Số lượng polyp.
Kích thước.
Loại mô học.
Mức độ loạn sản.
Chất lượng chuẩn bị ruột.
Mức độ cắt bỏ hoàn toàn.
Tiền sử gia đình.
Hội chứng di truyền.
Người bệnh cần giữ bản sao kết quả nội soi và mô bệnh học để lần khám sau có đầy đủ căn cứ.
DẤU HIỆU SAU CẮT POLYP CẦN ĐI KHÁM
Đau bụng tăng.
Bụng chướng rõ.
Sốt.
Chóng mặt hoặc ngất.
Đi ngoài ra nhiều máu.
Phân đen liên tục.
Khó thở.
Tim đập nhanh.
Xuất huyết muộn có thể xảy ra vài ngày sau thủ thuật, vì vậy không nên chủ quan khi đã rời bệnh viện.
PHÒNG NGỪA VÀ LỐI SỐNG
Không có thực phẩm nào bảo đảm làm polyp biến mất. Một lối sống lành mạnh có thể góp phần giảm nguy cơ xuất hiện polyp mới:
Vận động đều đặn.
Duy trì cân nặng phù hợp.
Không hút thuốc.
Hạn chế rượu bia.
Ăn đủ rau, quả, đậu và các nguồn chất xơ phù hợp.
Hạn chế thịt chế biến sẵn.
Tham gia tầm soát đúng thời điểm.
Người đã có polyp vẫn cần nội soi theo dõi dù ăn uống rất tốt. (NIDDK)
NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y
Trong Trung y, polyp đường ruột không phải một bệnh danh cổ điển riêng biệt. Căn cứ biểu hiện khối nhô, đau bụng, tiêu chảy, táo bón, nhầy máu và bệnh kéo dài, có thể quy vào Tích tụ, Trưng hà, Tràng đàm, Tiện huyết hoặc Tạng độc.
Bệnh vị chủ yếu ở Tỳ và Đại trường, có thể liên quan Can và Thận.
Tỳ hư làm vận hóa suy giảm, thủy thấp ngưng tụ thành đàm.
Khí trệ làm sự truyền đạo của Đại trường không thông.
Đàm thấp và khí trệ kết lâu có thể hình thành khối.
Khí trệ kéo dài làm huyết ứ.
Thấp uất hóa nhiệt có thể gây nhầy, máu và viêm niêm mạc.
Bệnh lâu ngày làm chính khí suy, xuất hiện tình trạng bản hư tiêu thực.
Có thể khái quát:
Tỳ hư là gốc.
Đàm thấp, khí trệ và huyết ứ là ngọn.
Thấp nhiệt có thể là yếu tố phối hợp.
Trung y chỉ có thể hỗ trợ cải thiện thể trạng và triệu chứng. Không thể căn cứ việc hết đau, hết tiêu chảy hoặc hết máu để kết luận polyp đã biến mất.
BIỆN CHỨNG HỖ TRỢ
Bệnh cơ
Tỳ khí suy làm thủy thấp không được vận hóa, đàm trọc đình lại; khí hư không thúc đẩy được huyết hành, lâu ngày đàm và ứ kết lại trong Trường phủ.
Chứng trạng: Bụng đầy âm ỉ, ăn kém, đại tiện không đều hoặc số lần tăng, mệt mỏi, người gầy, sắc mặt nhợt, chóng mặt, có thể sờ thấy khối hoặc phát hiện nhiều polyp qua nội soi, lưỡi nhạt hoặc hơi tím, rêu trắng nhớt, mạch tế nhược hoặc sáp.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa đàm, hoạt huyết tán kết.
Phương thang: Phương kinh nghiệm gia giảm gồm đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, phục linh, ý dĩ nhân, chỉ xác, xích thược, đào nhân, nga truật và chích cam thảo.
Gia giảm
Đầy bụng: gia hậu phác, mộc hương.
Ăn kém: gia kê nội kim, thần khúc.
Khí hư rõ: gia hoài sơn dược, bạch biển đậu.
Huyết ứ rõ: gia đan sâm, uất kim theo tình trạng.
Chú ý
Hoàng dược tử được ghi trong một số phương kinh nghiệm cũ nhưng có nguy cơ gây độc gan, không nên tự dùng hoặc đưa vào công thức phổ thông.
Đào nhân và nga truật không dùng tùy tiện ở người đang chảy máu, phụ nữ mang thai hoặc người dùng thuốc chống đông.
Bệnh cơ
Tỳ vận hóa không tốt, thấp tích lại hóa nhiệt, thấp nhiệt ngăn trở Đại trường, làm khí huyết và niêm mạc bị tổn thương.
Chứng trạng: Đau hoặc đầy bụng, đại tiện nhiều lần, phân dính nhầy, có thể lẫn máu, hậu môn nóng rát, miệng đắng nhớt, tiểu tiện vàng, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa thấp, lý khí hòa huyết.
Phương thang: Bạch đầu ông thang hoặc Hương liên hoàn gia giảm gồm bạch đầu ông, hoàng liên, hoàng bá, tần bì; có thể phối mộc hương, phục linh, ý dĩ nhân và bạch thược.
Gia giảm
Nhầy nhiều: gia hoắc hương, bội lan.
Máu trong phân: gia địa du, hòe hoa theo biện chứng.
Mót rặn: gia mộc hương, binh lang lượng thích hợp.
Chú ý
Đi ngoài ra máu không được mặc nhiên quy cho polyp. Cần nội soi để loại trừ ung thư, viêm đại tràng và những nguyên nhân khác.
Bệnh cơ
Can khí uất hoặc bệnh kéo dài làm khí cơ không thông; khí trệ dẫn đến huyết ứ, ứ kết ở Trường lạc.
Chứng trạng: Đau bụng cố định, đau như kim châm, bụng đầy, đại tiện không hết, phân có thể lẫn máu sẫm, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp.
Phép trị
Hành khí hoạt huyết, hóa ứ tán kết.
Phương thang: Cách hạ trục ứ thang hoặc Thiếu phúc trục ứ thang gia giảm gồm đương quy, xuyên khung, xích thược, đào nhân, hồng hoa, hương phụ, chỉ xác, diên hồ sách và ngũ linh chi; phải điều chỉnh theo hàn nhiệt và tình trạng chảy máu.
Chú ý
Không tự dùng thuốc hoạt huyết nếu đang đi ngoài ra nhiều máu, thiếu máu, mới cắt polyp hoặc đang dùng thuốc chống đông.
Bệnh cơ
Can mất sơ tiết làm khí cơ Đại trường không điều hòa; Tỳ hư khiến vận hóa suy giảm, thấp đàm dễ sinh.
Chứng trạng: Đau bụng hoặc rối loạn đại tiện tăng khi căng thẳng, tiêu chảy và táo bón có thể xen kẽ, đầy hơi, ăn kém, hay thở dài, mệt mỏi, lưỡi hồng nhạt rêu trắng, mạch huyền nhược.
Phép trị
Sơ Can kiện Tỳ, lý khí hòa trung.
Phương thang: Tiêu dao tán hợp Thống tả yếu phương gia giảm gồm sài hồ, bạch thược, bạch truật, phục linh, trần bì, phòng phong, đương quy và cam thảo.
Gia giảm
Đầy trướng: gia chỉ xác, hậu phác.
Đau bụng: gia diên hồ sách, uất kim.
Đại tiện phân nát: gia hoài sơn dược, liên tử.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài làm Tỳ Thận dương suy, vận hóa và truyền đạo kém, hàn thấp ngưng lại trong Đại trường.
Chứng trạng: Đại tiện lỏng kéo dài, đau bụng âm ỉ, thích ấm, sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn kém, lưng gối mỏi, lưỡi nhạt bệu rêu trắng, mạch trầm trì.
Phép trị
Ôn bổ Tỳ Thận, kiện vận cố trường.
Phương thang: Tứ thần hoàn hợp Lý trung thang gia giảm gồm bổ cốt chỉ, nhục đậu khấu, ngô thù du, ngũ vị tử, đảng sâm, bạch truật, can khương và chích cam thảo.
Chú ý
Phép ôn bổ chỉ giúp điều chỉnh thể trạng và đại tiện; không có tác dụng thay thế việc cắt polyp.
PHƯƠNG KINH NGHIỆM THAM KHẢO
Phương của Giáo sư Khương Xuân Hoa
Chứng trạng: Người gầy yếu, ăn kém, mệt, chóng mặt, bụng đầy hoặc đau, số lần đại tiện tăng, lưỡi nhạt mỏng, mạch hư nhược; biện chứng thuộc Tỳ khí hư, đàm ứ và huyết ứ kết ở Trường phủ.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa thấp, hoạt huyết tán kết.
Phương thang: Đảng sâm 9 g, hoàng kỳ 9 g, xích thược 9 g, bạch thược 9 g, đào nhân 9 g, nga truật 9 g, chỉ xác 9 g, chích cam thảo 9 g, ý dĩ nhân 60 g sắc trước.
Chú ý
Bản tư liệu cũ có ghi hoàng dược tử. Do vị thuốc này có nguy cơ gây độc gan, không nên tự đưa vào phương điều trị. Toàn phương chỉ có giá trị tham khảo học thuật và không thay thế cắt polyp.
Phương kinh nghiệm dùng cho đa polyp trực tràng
Chứng trạng: Nhiều polyp trực tràng đã được xác định qua nội soi, có thể kèm đại tiện ra máu, nhầy, đau bụng, Tỳ hư và thấp nhiệt hoặc huyết ứ xen lẫn.
Phép trị
Kiện Tỳ, thanh nhiệt táo thấp, dưỡng huyết và thu liễm.
Phương thang: Ô mai 15 g, đảng sâm 15 g, hoàng liên 5 g, cương tàm 10 g, đương quy 12 g, xích thược 12 g, địa du 12 g, mẫu lệ 24 g, cam thảo 6 g.
Chú ý
Đây là phương kinh nghiệm, không phải phương pháp làm polyp biến mất đã được xác nhận bằng nội soi. Người có đa polyp cần đánh giá hội chứng di truyền và kế hoạch can thiệp chuyên khoa.
CHÂM CỨU VÀ BẤM HUYỆT
Châm cứu có thể hỗ trợ điều hòa tiêu hóa, giảm đau bụng, đầy bụng, tiêu chảy hoặc táo bón. Không châm cứu để thay thế nội soi hoặc cắt polyp.
Huyệt thường dùng
Vị-25 Thiên khu
Vị-36 Túc tam lý
Vị-37 Thượng cự hư
Nhâm-12 Trung quản
Nhâm-6 Khí hải
Tỳ-6 Tam âm giao
Tỳ-9 Âm lăng tuyền
Can-3 Thái xung
Bàng quang-20 Tỳ du
Bàng quang-25 Đại trường du
Phối huyệt tham khảo
Tỳ khí hư: Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-20 Tỳ du, Nhâm-6 Khí hải.
Thấp nhiệt: Vị-25 Thiên khu, Tỳ-9 Âm lăng tuyền, Đại trường-11 Khúc trì.
Can uất Tỳ hư: Can-3 Thái xung, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-36 Túc tam lý.
Táo bón: Tam tiêu-6 Chi câu, Tỳ-15 Đại hoành, Vị-37 Thượng cự hư.
Tiêu chảy: Vị-25 Thiên khu, Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-25 Đại trường du.
Không châm sâu vùng bụng khi đau cấp, bụng chướng, nghi tắc ruột, mới cắt polyp hoặc đang chảy máu.
ĐIỀU DƯỠNG SAU CẮT POLYP
Trong thời gian đầu sau thủ thuật, thực hiện đúng hướng dẫn ăn uống của cơ sở nội soi.
Tránh vận động nặng trong thời gian được bác sĩ yêu cầu.
Không tự uống aspirin, thuốc kháng viêm hoặc thuốc hoạt huyết nếu chưa được cho phép.
Người đang dùng aspirin hoặc thuốc chống đông vì bệnh tim mạch phải làm theo kế hoạch ngừng và dùng lại thuốc của bác sĩ, không tự điều chỉnh.
Theo dõi đau bụng, sốt, chóng mặt và máu trong phân.
Tái khám để nhận kết quả mô bệnh học.
Thực hiện nội soi lại đúng thời hạn.
NHỮNG ĐIỀU NÊN LÀM
Nội soi tầm soát đúng thời điểm.
Cắt và xét nghiệm mô bệnh học polyp.
Giữ kết quả nội soi và giải phẫu bệnh.
Thông báo tiền sử gia đình có ung thư hoặc đa polyp.
Tư vấn di truyền nếu có nhiều polyp hoặc mắc bệnh khi còn trẻ.
Duy trì vận động và cân nặng phù hợp.
Ăn đủ rau, quả và chất xơ theo khả năng dung nạp.
Không hút thuốc.
Theo dõi đúng lịch sau cắt polyp.
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN LÀM
Không cho rằng mọi polyp đều lành tính.
Không cho rằng mọi polyp đều sẽ thành ung thư.
Không chỉ dựa vào kích thước để kết luận bản chất.
Không trì hoãn cắt polyp để thử thuốc Đông y.
Không dùng thuốc hoạt huyết ngay sau cắt polyp.
Không tự dùng hoàng dược tử, nga truật hoặc đào nhân.
Không cho rằng hết đi ngoài ra máu nghĩa là polyp đã biến mất.
Không bỏ nội soi theo dõi sau khi polyp đã được cắt.
Nói tóm lại
Polyp đường ruột là tên gọi hình thái của những tổn thương nhô vào lòng ruột. Polyp có thể có cuống, không cuống hoặc phẳng; có thể là polyp tăng sản, viêm, tuyến, răng cưa hoặc hamartoma.
Polyp tuyến và một số tổn thương răng cưa là những tổn thương tiền ung thư, nhưng không phải mọi polyp đều sẽ tiến triển thành ung thư. Nội soi cắt polyp và xét nghiệm mô bệnh học là biện pháp căn bản để xác định bản chất, loại bỏ tổn thương và xây dựng kế hoạch theo dõi.
Các hội chứng đa polyp như bệnh đa polyp tuyến gia đình, Peutz–Jeghers và đa polyp thiếu niên có liên quan đến di truyền và nguy cơ ung thư tăng, vì vậy người bệnh cùng thân nhân có thể cần được tư vấn chuyên khoa.
Theo Trung y, polyp có thể liên quan Tỳ hư, đàm thấp, khí trệ và huyết ứ. Các phép kiện Tỳ, hóa đàm, lý khí và hoạt huyết chỉ có vai trò hỗ trợ điều chỉnh thể trạng và triệu chứng. Không thể dùng thuốc, châm cứu hoặc dược thiện để thay thế nội soi cắt polyp và theo dõi mô bệnh học.
Trường Xuân biên soạn