POLYP RUỘT.肠息肉*.
Tài liệu tham khảo
Polyps ruột
Khi bạn nhìn vào bức ảnh, có thể bạn sẽ thắc mắc: giữa bức ảnh của polyp tròn trịa, trông rất giống như một “nấm”, vậy đó là gì? Thực ra, đó là thứ mà người ta hay nhắc đến là polyp đại tràng – một polyp có cuống, được phóng đại khoảng mười lần bởi nội soi đại tràng điện tử.
Nói về polyp ruột, có lẽ bạn không xa lạ với từ này, nhưng nó lại là một từ nhạy cảm. Khi bệnh nhân được biết trong ruột mình mọc ra một polyp, lòng người lập tức bồn chồn, tự hỏi “làm sao mà trên thành ruột mọc ra sinh vật “kỳ lạ” này? Nó có phải là ung thư không? Liệu một ngày nào đó nó có biến thành ung thư không? Làm sao để loại bỏ nó?”
Nói một cách rộng rãi, bất kỳ tổn thương nhô lên từ lòng ruột nào có hình dạng phình ra đều có thể gọi là “polyp”, nhưng thường từ “polyp” chỉ ám chỉ những sự phình ra giới hạn trong lớp niêm mạc. Có thể nói, polyp là một loại tổn thương lành tính, không phải ung thư và không đe dọa tính mạng. Polyp có thể nhỏ như hạt mè, đậu xanh, đường kính chỉ vài milimet, cũng có thể lớn như quả óc chó, đường kính từ 2–3 cm; số lượng từ 1 đến nhiều. Về hình dáng, có polyp có cuống (có cuống) và polyp không có cuống (polyp không có cuống, hay “subpedunculated”) và cả những polyp có gốc rộng.
Thông thường, polyp ruột phổ biến nhất là hai loại viêm và tuyến (adenomatous). Loại viêm có liên quan đến phản ứng viêm của đại tràng, trong khi loại tuyến do sự mất cân bằng trong quá trình tái tạo của các tế bào biểu mô ruột. Polyp viêm có thể tự biến mất sau khi viêm được điều trị, nhưng đối với polyp tuyến, chúng ta cần cảnh giác vì polyp tuyến thường không tự mất đi, và nếu tồn tại lâu dài trong ruột, chúng có thể có nguy cơ chuyển hóa thành ung thư. Do đó, biện pháp hiệu quả nhất để phát hiện và xác định bản chất của polyp là thực hiện nội soi toàn ruột định kỳ.
Đối với polyp viêm, nói chung không cần điều trị đặc biệt, chỉ cần theo dõi nội soi đại tràng mỗi 1–2 năm. Còn đối với polyp tuyến nhỏ, có thể cắt bỏ trực tiếp dưới nội soi bằng phương pháp điện nhiệt. Với polyp có cuống lớn (thường có đường kính >2 cm), dưới nội soi trước tiên cần dùng dây kim loại titanium hoặc dây nylon cột chặt gốc, sau đó dùng điện nhiệt cắt bỏ, giúp bệnh nhân không phải chịu đau đớn vì phẫu thuật mở.
Polyp Đại Tràng
Polyp là các khối u nhô lên từ bề mặt niêm mạc, có hình dạng tròn hoặc bầu dục và có cuống. Polyp đại tràng là một nhóm khối u lành tính phổ biến, trong đó có những loại là do tăng sinh niêm mạc (như polyp tăng sinh) và những loại thuộc dạng adenomatous (như polyp tuyến, hay adenomatous polyp) hay polyp dạng hạt (papillary adenoma). Loại sau có mối liên hệ mật thiết với ung thư đại tràng và có ý nghĩa quan trọng.
- Polyp tuyến (Adenomatous Polyp):
- Theo cấu trúc mô học, polyp này thực sự là một adenoma, nên còn được gọi là “adenoma dạng polyp” (polypoid adenoma), khá phổ biến. Khoảng 75% trường hợp xảy ra ở trực tràng và đại tràng sigma. Thông thường là đơn lẻ, ít khi nhiều. Đường kính thường dưới 2 cm, phần lớn có cuống, có hình dáng như dâu tây, màu đỏ, dễ chảy máu. Những polyp không có cuống, với gốc rộng, thường có kích thước lớn hơn. Dưới kính hiển vi, có thể thấy các tuyến niêm mạc tăng sinh; tế bào biểu mô thường phân hóa tốt, đôi khi có một số dấu hiệu dị dạng, nhưng không xâm lấn đến lớp cơ của niêm mạc. Loại này ít khi chuyển hóa thành ung thư.
- Adenoma dạng nhũ (Papillary Adenoma hay Villous Adenoma):
- Ít gặp hơn, thường là đơn lẻ, bề mặt có dạng nhũ (papillary) hoặc sợi như lông vũ (villous). Phần gốc rộng, không có cuống hoặc cuống rất ngắn. Kích thước thường lớn hơn so với adenomatous polyp. Bề mặt có thể được bao phủ bởi một hoặc nhiều lớp tế bào ống, có thể có các dấu hiệu dị dạng khác nhau. Tỷ lệ ung thư hóa của loại này cao hơn so với adenomatous polyp.
- Bệnh polyp đa phát đại tràng (Polyposis Coli):
- Xảy ra theo kiểu di truyền, do đó còn gọi là “bệnh polyp gia đình” (familial polyposis). Thường gặp ở tuổi trẻ, có thể thấy nhiều polyp nhỏ, kích thước khoảng bằng đậu nành, rải rác trên bề mặt niêm mạc đại tràng (xem Hình 10-27). Các polyp thường không có cuống, số lượng có thể lên đến hàng chục hoặc nhiều hơn. Dưới kính hiển vi, cấu trúc tương tự như adenomatous polyp. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là đau bụng, tiêu chảy và xuất huyết từ phân. Bệnh polyp gia đình có nguy cơ chuyển hóa thành ung thư đại tràng cao; theo báo cáo, thường sau khoảng 15 năm từ khi xuất hiện triệu chứng polyp sẽ chuyển thành ung thư đại tràng.
[Hình 10-27: Polyp đa phát adenomatous ở đại tràng – trên bề mặt niêm mạc ruột xuất hiện nhiều polyp nhỏ từ kích thước đậu xanh đến đậu vàng.]
Ngoài ba loại polyp trên đều có tính chất adenomatous, còn có một số loại polyp không phải ung thư khác như:
- Polyp tăng sinh (Hyperplastic Polyp):
- Phổ biến, kích thước nhỏ, thuộc dạng tăng sinh niêm mạc. Các tuyến niêm mạc tăng sinh được sắp xếp có trật tự, có tiết dịch nhầy dồi dào nhưng không có biến đổi ung thư, có thể tự biến mất.
- Polyp viêm (Inflammatory Polyp):
- Ít gặp hơn, thường tự mất đi, không chuyển hóa thành ung thư. Ví dụ như polyp trẻ sơ sinh (juvenile polyp), thường gặp ở trẻ em. Loại này là các nốt tròn mịn đơn lẻ, cấu trúc mô học là tăng sinh của biểu mô ruột, có mạch máu, mô liên kết sợi và xâm nhập của tế bào viêm. Loại này cũng thường gặp ở bệnh nhân mắc sán máu.
- Hội chứng Peutz-Jeghers:
- Là một bệnh di truyền theo kiểu trội, với sắc tố đen xuất hiện ở môi và niêm mạc máu hàm, đồng thời ở ruột có nhiều polyp. Các polyp ở đây có tính chất lộn chỗ (hamartomatous). Rất hiếm khi chuyển hóa thành ung thư. Lâm sàng chủ yếu biểu hiện bằng xuất huyết từ phân, đôi khi kèm theo triệu chứng trượt ruột.
CÁC LOẠI POLYP ĐẠI TRÀNG
Các loại polyp đại tràng gồm:
- Polyp adenomatous: Có nguy cơ chuyển hóa cao.
- Adenoma dạng nhũ (Papillary Adenoma): Tỷ lệ ung thư hóa khoảng 20–30%.
- Bệnh polyp dạng đốm đen (Black Spot Polyposis): Nguy cơ ung thư rất thấp.
- Polyp trẻ em (Juvenile Polyp): Không chuyển hóa thành ung thư.
- Polyp tăng sinh (Hyperplastic Polyp): Không chuyển hóa.
- Polyp viêm (Inflammatory Polyp): Thông thường không chuyển hóa.
CÁC CÔNG THỨC ĐIỀU TRỊ POLYP ĐẠI TRÀNG
- Công thức của Giáo sư Jiang Chunhua (đã qua đời) từ Bệnh viện Zhongshan, Thượng Hải:
Thành phần: Đảng Sâm, Hoàng Kỳ, Xích Thược, Đào Nhân, Bạch Thược, Nga truật, Hoàng Dược Tử, Chỉ xác, Cam Thảo (mỗi 9 g) và Ý rĩ nhân 60 g (đun trước).
Chỉ định: Khối u vùng hạ bụng phải, đau bụng, đầy bụng, tăng số lần đi tiêu, chóng mặt, chán ăn, gầy sút, da nhợt, lưỡi mỏng, nhỏ, mạch yếu, hư. Bệnh thuộc chứng tỳ yếu, khí yếu, trộn lẫn bẩn, ứ máu cản trở trong thành ruột.
Cách dùng: Sắc nước uống, mỗi ngày 1thang.
- Công thức của Bác sĩ Vương Phổ Tường (Séc Thành) từ Tứ Xuyên:
Thành phần: Ô mai, Đảng Sâm 15 g mỗi loại; Hoàng Liên 5 g; Cương tàm10 g; Đương Quy, Xích Thược, Địa Du 12 g mỗi loại; Mẫu Lệ 24 g; Cam Thảo 6 g.
Chỉ định: Polyp trực tràng đa phát.
Cách dùng: Sắc nước uống, mỗi ngày 1thang.
Ly Nguyễn Nghị dịch