Polyp mũi
Những tài liệu tham khảo:
Các đặc điểm lâm sàng của polyp mũi là gì?
Polyp mũi là bệnh phổ biến về mũi. Đó là kết quả của sự phù nề mô do phản ứng viêm kéo dài của niêm mạc mũi. Biểu hiện lâm sàng là:
Bệnh nhân có tiền sử bệnh về mũi lâu năm. Ban đầu, trong mũi hình như có dịch nhầy không xì ra được. Nghẹt mũi đáng kể có thể xảy ra vào ban đêm, dẫn đến thở bằng miệng và viêm họng mãn tính có thể phát triển theo thời gian. Nghẹt mũi phần lớn là dai dẳng, thuốc nhỏ mũi co mạch không có tác dụng rõ rệt, hiếm khi hắt hơi, nhưng nếu niêm mạc mũi bị viêm dị ứng cũng có thể xảy ra hắt hơi, chảy nước mũi trong. Dịch tiết của bệnh nhân polyp mũi chủ yếu là tương dịch tiết, nếu nhiễm trùng phức tạp có thể có dịch tiết mủ. Các polyp mũi tiếp tục phát triển khiến tình trạng nghẹt mũi trở nên trầm trọng hơn, đồng thời có thể gây đau đầu hoặc chóng mặt, hạ đường huyết dẫn đến mất nước. Nếu một polyp lớn chặn lỗ mũi hoặc thậm chí vỡ vào vòm họng, nó vẫn có thể gây mất thính lực. Polyp lớn có thể gây ra những thay đổi về hình dạng của mũi. Sống mũi mở rộng và bằng phẳng, sống mũi gồ lên hai bên, trong hốc mũi có thể thấy polyp hình tròn, bề mặt nhẵn, kết cấu mềm, dạng nang trong mờ màu trắng xám. khối lượng, và gốc cuống của nó nằm trong đường mũi giữa hoặc trong xoang.
Phương pháp điều trị chính cho polyp mũi là gì?
Điều trị YHCT: Phân biệt hội chứng và điều trị polyp mũi gồm các thể:
I/Chứng phế kinh thấp nhiệt: Chảy nước mũi vàng, lượng khá nhiều, nghẹt mũi, giảm khứu giác, váng đầu đau đầu, polyp đỏ nhạt, niêm mạc mũi dày có màu hồng, đầu lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch thực.
Trị pháp: Thanh tuyên phế nhiệt, khứ thấp tán kết.
Xử phương: Tân di thanh phế ẩm gia giảm: Tân di hoa 20g, Thạch cao 30g, Tri mẫu 6g, Chi tử 12g, Hoàng cầm 15g, Tì bà diệp 15g, Thăng ma 15g, Tang bạch bì 40g, Xa tiền tử 30g (bao), Trạch tả 20g, Hạnh nhân 6g, Cam thảo 3g.
II/ Hội chứng đàm thấp kết trệ: Sổ mũi đặc quánh hoặc trắng loãng, lượng nhiều, nghẹt mũi dai dẳng, khứu giác giảm, nặng đầu, chóng mặt, tức ngực, đờm nhiều. Khối u (Polyp) màu trắng như mỡ hoặc hình hạt lựu, nhẵn bóng nước, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch hoãn hoạt.
Trị pháp: Táo thấp hoá đàm, tán kết tiêu tức.
Xử phương: Đạo đàm thang gia giảm. Đảm tinh 9g, Trần bì 15g, Bán hạ 9g, Thạch xương bồ 15g, Vân linh 20g, Trạch tả 15g, Bạch truật 20g, Mẫu lệ sống 24g, Chiết Bối mẫu 15g, Sơn giáp 10g, Côn bố 15g, Chỉ xác 15g, Sa nhân 10g.
III/ Chứng phế khí hư: Nước mũi trong lỏng hoặc trắng lỏng, Polyp màu trắng nhạt hoặc trắng xanh hoặc tái phát sau khi mổ, kèm theo mệt mỏi suy nhược, dễ cảm lạnh, chất lưỡi nhạt rêu lưỡi trắng, mạch hoãn nhược.
Trị pháp: Bổ ích phế tỳ, hoá thấp tán kết.
Xử phương: Thang Bổ trung ích khí hợp thang Nhị trần gia giảm. Đảng sâm 30g, Hoàng kỳ 30g, Bạch truật 20g, Thăng ma 15g, Sài hồ 12g, Đương quy 10g, Trần bì 15g, chế Bán hạ 9g, Thạch xương bồ 12g, Vân linh 20g, Ý rĩ 30g. Mũi nghẹt nặng gia Thương nhĩ tử 30g, Tế tân 5g, Tân di hoa 15g; Dễ bị cảm gia Phòng phong 15g; Nếu Polyp có màu hồng sẫm gia Đào nhân 12g, Tam lăng 10g, Nga truật 10g. Bên ngoài có thể dùng Tiêu tức linh hoặc Lỗ sa tán thổi hoặc đắp vào mũi. Mũi nghẹt nặng dùng Tỵ viêm linh (Thương nhĩ tử, Bạch chỉ, Tân di mỗi vị 60g, Bạc hà sương 5g, Chi ma du (dầu mè) 500ml, parafin lỏng 1000ml.
Phép chế: Cho Thương, Chỉ, Tân, Du vào nồi, ngâm trong 24h, đun đến khi thuốc thành màu vàng đen thì vét ra và cho băng phiến, Bạc hà sương, parafin lỏng vào trộn đều để sử dụng) nhỏ vào mũi.
Làm thế nào để phân biệt polyp mũi với khối u ác tính của khoang mũi?
Khối u ác tính nguyên phát của khoang mũi rất hiếm và hầu hết là thứ phát sau các khối u ác tính xoang xâm lấn khoang mũi. Khi khối u giai đoạn đầu xâm lấn một phần khoang mũi, có thể xảy ra hiện tượng nghẹt mũi ngắt quãng ở một bên và chảy máu cam hoặc dịch nhầy ở một bên. Mủ có máu, mùi hôi thối thường xuất hiện khi khối u hoại tử mưng mủ. Khối u phát triển có thể gây nghẹt mũi dai dẳng. Khi thăm khám có thể thấy một khối ở mũi, bề mặt có màu đỏ hồng hoặc xám, sần sùi hoặc kèm theo vết loét, kết cấu tương đối giòn, khi chạm vào rất dễ chảy máu. Đôi khi khối u cũng có thể là u nhú, dạng trái dâu hoặc dạng khối không đều.
Các khối u ác tính của khoang mũi cũng có thể có nhiều biểu hiện khác nhau ở mắt, cổ và đầu, di căn xa cũng có thể xảy ra. Các triệu chứng như nhãn hầu dị vị, lồi mắt, nhìn đôi, nhiều nước mắt… Kiểm tra có thể thấy hai mắt không đối xứng, mắt bị ảnh hưởng nhô ra và lệch, bên trong quỹ đạo đầy và nhô lên. Khi khối u di căn lên cổ sẽ có khối ở cổ cùng bên, cứng và không xê dịch được. Bệnh nhân thường bị đau đầu do thần kinh và trướng đầu, các khối u tiến triển xâm lấn nền sọ, dẫn đến các triệu chứng liệt dây thần kinh sọ tương ứng. Khi bệnh tiến triển, di căn xa đến các cơ quan như phổi và gan là phổ biến.
So với các khối u ác tính của khoang mũi, nghẹt mũi của polyp mũi dai dẳng, không chảy máu cam và chảy nước mũi, không tiết dịch có mùi hôi. Các khối u ở mũi hầu hết nhẵn, trong mờ màu xám hoặc hơi đỏ, sờ vào thấy mềm, di lệch không đau, không có tế bào ung thư khi sinh thiết. Và không có bất thường ở mắt, cổ và đầu, chẳng hạn như không nhìn đôi hoặc lồi mắt; không có khối u cổ và hạch to; không tê mặt, đau nửa đầu nghiêm trọng và các tổn thương di căn xa.
Polyp mũi
Polyp mũi phổ biến hơn ở người lớn và được gây ra bởi sự phù nề lâu dài của niêm mạc mũi, với nguyên nhân chính là dị ứng và viêm mãn tính. Biểu hiện lâm sàng có thể là các triệu chứng như ngạt mũi tăng dần, tăng tiết dịch mũi, rối loạn khứu giác và nhức đầu. Nó có thể là một hoặc nhiều, một bên hoặc hai bên, và hầu hết chúng là đa phát và hai bên. Khi polyp phát triển quá lớn, phần mũi bên ngoài có thể bị biến dạng, sống mũi rộng và sưng nề tạo thành “mũi ếch”.
Hướng dẫn y tế:
1. Nếu có các triệu chứng trên, bạn có thể đến khoa tai mũi họng để điều trị.
2. Khám tổng quát ngoại trú có thể xác định chẩn đoán. CT scan nên được đánh giá để hiểu mức độ của tổn thương.
3. Điều trị chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ và điều trị nguyên nhân. Phẫu thuật mở hoặc cắt bỏ triệt để xoang sàng có thể được xem xét cho các đợt tái phát nhiều lần.
4. Vấn đề chính của phẫu thuật là tái phát.
5. Từ những năm 1990, kỹ thuật nội soi qua mũi ra đời đã mang đến một không gian mới trong điều trị polyp mũi, giảm đáng kể tỷ lệ tái phát sau mổ.
5. Việc theo dõi và dùng thuốc sau phẫu thuật phải được chú trọng, có ý nghĩa tích cực trong việc ngăn ngừa tái phát.
Bí quyết để polyp mũi không tái phát Steven
Polyp mũi phổ biến hơn ở người lớn và được gây ra bởi sự phù nề lâu dài của niêm mạc mũi, với nguyên nhân chính là dị ứng và viêm mãn tính. Biểu hiện lâm sàng có thể là các triệu chứng như ngạt mũi tăng dần, tăng tiết dịch mũi, rối loạn khứu giác và nhức đầu. Nó có thể là một hoặc nhiều, một bên hoặc hai bên, nhưng hầu hết chúng là nhiều và hai bên. Hầu hết các polyp đều cần điều trị bằng phẫu thuật, tuy nhiên tỷ lệ tái phát cao sau phẫu thuật luôn là vấn đề lớn đối với bệnh nhân mắc polyp mũi. Với các phương pháp điều trị hiện nay sau đây có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ tái phát của polyp mũi.
1. Polyp mũi được loại bỏ hoàn toàn bằng công nghệ nội soi qua đường mũi, đảm bảo giảm tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật. Do polyp mũi không chỉ giới hạn trong mũi mà còn có thể xâm lấn sang các xoang xung quanh nên phương pháp truyền thống dùng móc gắp polyp mũi rất dễ tái phát. Phẫu thuật nội soi mũi không chỉ tiếp cận được những phần sâu, khuất và loại bỏ hoàn toàn polyp trong mũi mà còn giảm tỷ lệ tái phát polyp mũi thông qua các thao tác phẫu thuật phù hợp với chức năng sinh lý của con người. Do những hạn chế của tia laser và vi sóng nên người bệnh phải hết sức thận trọng khi lựa chọn sử dụng tia laser, vi sóng,… để điều trị polyp mũi.
2. Sau khi phẫu thuật, nên đến bác sĩ tái khám định kỳ để nắm rõ tình hình khoang mổ, nếu cần thiết nên làm sạch khoang mổ để loại bỏ hạt hoặc mụn nước mới để đảm bảo hiệu quả của ca mổ. Một số lần tái khám có thể kéo dài nửa năm.
3. Nhất thiết phải dùng thuốc tại chỗ, thuốc nội tiết bôi tại chỗ có thể làm giảm phản ứng viêm tại chỗ, từ đó giảm tỷ lệ tái phát.
Cần chỉ ra rằng một số bệnh nhân vẫn có khả năng tái phát ngay cả khi áp dụng các phương pháp trên. Chẳng hạn như một số bệnh nhân gọi là polyp mũi. Vì vậy, đảm bảo hoàn toàn không tái phát là điều không thực tế, nhưng đối với hầu hết mọi người, khả năng không tái phát sau phẫu thuật polyp mũi vẫn rất cao.
Polyp mũi
Polyp mũi thường được gọi là “nhung mũi”. Người lớn hay gặp ở hốc mũi 2 bên. Polyp mũi thường được hình thành do sự phù nề quá mức của mô niêm mạc mũi và mở rộng không gian mô trong bệnh viêm mũi dị ứng và viêm xoang. Các polyp nhỏ hơn không có triệu chứng, và khi các polyp tiếp tục phát triển, các triệu chứng nghẹt mũi dần dần xuất hiện và tăng lên, cuối cùng là nghẹt mũi dai dẳng. Có một âm thanh mũi bị bế tắc khi nói và tiếng ngáy có thể xảy ra trong khi ngủ. Các triệu chứng như nhức đầu, chóng mặt, chảy nước mũi, mất khứu giác, ù tai và suy giảm thính lực cũng có thể xảy ra. Mũi bên ngoài có hình con ếch, trong khoang mũi có một hoặc nhiều khối màu đỏ nhạt hoặc nhạt, bề mặt nhẵn, trong mờ, sờ vào mềm, không đau, không dễ chảy máu, có thể di chuyển được.
Tuy nhiên, cần lưu ý những người trên 40 tuổi cần phân biệt với u ác tính, u một bên ở người trẻ cần phân biệt với u máu vùng mũi họng.
Phẫu thuật cắt bỏ polyp mũi là phương pháp điều trị chính, nhưng sau phẫu thuật rất dễ tái phát, sau phẫu thuật có thể dùng vật lý trị liệu, cũng có thể dùng phương pháp cắt bỏ đông lạnh.
Ly Nguyễn Nghị
17/8/23